Nội dung nghiên cứu: Mục đích nghiên cứu: Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là làm sáng tỏ khái niệm, các yếu tố dẫn đến việc kết hôn trái pháp luật, qua đó làm rõ các vấn đề lý luậ
Trang 1TIỂU LUẬN PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG
ĐỀ TÀI: “Kết hôn trái pháp luật - lý luận và
thực tiễn”
Giảng viên hướng dẫn: Ngô Thùy Dung
Sinh viên thực hiện: Huỳnh Thị Thúy Vy
Mã số sinh viên: 2154030021
Lớp: QL21 Nhóm học phần: 010100500418
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Hôn nhân là hiện tượng xã hội phát sinh trong quá trình phát triển của con người Hôn nhân ra đời với mục đích ban đầu nhằm giúp con người duy trì và phát triển nòi giống Dần dần theo sự phát triển của xã hội loài người, sự chung sống giữa một nam và một nữ được pháp luật thừa nhận với ý nghĩa cao cả hơn hết là xây dựng gia đình Hôn nhân không chỉ có giá trị đối với mối quan hệ tình yêu nam nữ mà còn có ý nghĩa với sự phát triển của đất nước, của xã hội Tuy nhiên, theo nhịp quay không ngừng của cuộc sống hiện đại, mối quan hệ giữa con người với con người ngày càng đa dạng, phức tạp hơn, trong đó, quan hệ hôn nhân, hay việc kết hôn cũng không ngoại lệ Thực tế, xuất phát từ nhiều nguyên nhân khách quan, chủ quan, do ảnh
hưởng của phong tục tập quán lạc hậu, do ý thức pháp luật của quần chúng còn hạn chế, đã xảy ra nhiều trường hợp kết hôn trái pháp luật, gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đến quan hệ gia đình, tác động xấu đến lối sống và đạo đức xã hội, gây trì trệ cho sự phát triển của nước nhà cũng như việc duy trì nòi giống của dân tộc Kết hôn trái pháp luật không còn là một vấn
đề quá mới mẻ đối với hầu hết mọi người, nhưng luôn là vấn đề nhức nhối được toàn xã hội quan tâm Do đó, việc nghiên cứu
về vấn đề kết hôn trái pháp luật trong đời sống xã hội hiện nay
là vô cùng cần thiết Xuất phát từ ý nghĩa lý luận và thực tiễn của vấn đề, em xin lựa chọn đề tài “Kết hôn trái pháp luật - lý luận và thực tiễn” để nghiên cứu nhằm tìm hiểu rõ hơn những vướng mắc còn tồn tại trong đời sống hôn nhân, đặc biệt là vấn
đề kết hôn trái pháp luật
Trang 42 Tình hình nghiên cứu:
Kết hôn trái pháp luật luôn là một vấn đề nóng bỏng, không chỉ riêng ở Việt Nam mà cả trên thế giới Tính cho đến nay, đã
có khá nhiều công trình nghiên cứu khai thác đề tài kết hôn trái
pháp luật như “Hủy kết hôn trái pháp luật trong Luật Hôn nhân
và gia đình năm 2000”, Khóa luận tốt nghiệp của Đinh Thị Minh Mẫn, Trường Đại học Hà Nội, 2008 hay “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về kết hôn trái pháp luật trong tình hình xã hội hiện nay”, Luận văn Thạc sĩ ngành Luật Dân sự của Nguyễn Huyền
Trang, Nhìn chung, vấn đề kết hôn trái pháp luật đã được các tác giả nhìn nhận dưới nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau Công trình nghiên cứu của em sẽ khái quát một cách tổng quan về những vấn đề lý luận và thực tiễn của việc kết hôn trái pháp luật
3 Nội dung nghiên cứu:
Mục đích nghiên cứu: Mục đích của việc nghiên cứu
đề tài là làm sáng tỏ khái niệm, các yếu tố dẫn đến việc kết hôn trái pháp luật, qua đó làm rõ các vấn đề lý luận và thực tiễn về kết hôn trái pháp luật trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình
Nhiệm vụ nghiên cứu: Nghiên cứu một số vấn đề về kết hôn trái pháp luật như: khái niệm kết hôn trái pháp luật; những yếu tố tạo thành kết hôn trái pháp luật; những quy định của pháp luật về kết hôn trái pháp luật trong Luật Hôn nhân và gia đình, … Đồng thời đánh giá thực trạng tình hình kết hôn trái pháp luật trong xã hội hiện nay
Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận về kết hôn trái pháp luật theo pháp luật hiện hành - đặc biệt là các quy định về vấn đề này trong Luật Hôn nhân và gia đình năm
Trang 52014, thực trạng kết hôn trái pháp luật trong xã hội ngày nay
Phạm vi nghiên cứu: Là cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của kết hôn trái pháp luật trong Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014
4 Phương pháp nghiên cứu:
Bài tiểu luận sử dụng các phương pháp so sánh, tổng hợp, đối chiếu nhằm đánh giá vấn đề một cách khách quan, toàn diện Đồng thời còn sử dụng các phương pháp bổ trợ khác như phương pháp thu thập dữ liệu, phân tích, đặt câu hỏi, đưa ra kết luận
5 Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu:
Qua việc nghiên cứu vấn đề đặt ra, bài tiểu luận thể hiện một cách tổng quan về việc kết hôn trái pháp luật và các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành Từ đó chỉ ra thực tế của kết hôn trái pháp luật, góp phần phản ánh hiện thực đời sống cũng như nâng cao nhận thức, sự hiểu biết của mỗi người đối với các quy định về hôn nhân của pháp luật
6 Kết cấu bài tiểu luận:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung bài tiểu luận gồm có 3 chương:
Chương 1: Khái quát về hôn nhân, kết hôn và kết hôn trái pháp luật
Chương 2: Thực trạng kết hôn trái pháp luật tại Việt Nam và những quy định của pháp luật về vấn đề này
Chương 3: Thực tiễn áp dụng pháp luật để xử lý các trường hợp kết hôn trái pháp luật
Trang 6.
Trang 7CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ HÔN NHÂN KẾT HÔN VÀ KẾT HÔN TRÁI ,
PHÁP LUẬT 1.1 Những vấn đề cơ bản về kết hôn và hôn nhân
Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với
nhau bằng cách đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền khi thỏa mãn được những quy định của Luật Hôn nhân và gia đình
về điều kiện kết hôn [2]
Theo đó, nam nữ muốn kết hôn với nhau phải đảm bảo hai yếu tố: thứ nhất, thể hiện ý chí của nam, nữ muốn kết hôn với nhau; thứ hai, việc kết hôn phải tuân theo điều kiện và thủ tục
do pháp luật quy định thì mới được thừa nhận Đồng thời pháp luật nước ta đã có những quy định chặt chẽ về điều kiện kết hôn như thế nào, trình tự, thủ tục kết hôn ra sao, nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người kết hôn được Nhà nước công nhận và bảo hộ Như vậy, kết hôn là sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ hôn nhân Vậy hôn nhân là gì?
Hôn nhân theo khoản 1 Điều 3 Luật Hôn nhân gia đình 2014
được định nghĩa: “Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn.” [1]
Nam nữ xác lập quan hệ hôn nhân nhằm thỏa mãn nhu cầu tình cảm giữa hai bên và tương trợ lẫn nhau về những nhu cầu trong đời sống hàng ngày, nhằm mục đích chung sống lâu dài
và cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc Hôn nhân là việc riêng của các cá nhân nhưng có ảnh hưởng lớn đến giá trị của gia đình, đến sự bền vững và phát triển của toàn xã hội Đối với nền văn hóa Việt Nam, quan niệm của xã hội vẫn coi trọng giá
Trang 8trị của hôn nhân và coi đây là hình thức chung sống tối ưu nhất,
có lợi cho sự phát triển của con người nhất
1.2 Một số lý luận chung về kết hôn trái pháp luật
Kết hôn trái pháp luật là một khái niệm pháp lý được quy
định và điều chỉnh bởi Luật Hôn nhân và gia đình Theo khoản 6 Điều 2 của Luật Hôn nhân và gia đình: “Kết hôn trái pháp luật là việc nam, nữ đã đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng một hoặc cả hai bên vi phạm điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 Luật này.” [1]
Từ khái niệm trên, kết hôn chỉ được xem là trái pháp luật khi đáp ứng đủ hai tiêu chí, đó là vi phạm ít nhất một trong các điều kiện kết hôn được quy định tại Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và có đăng ký kết hôn Cần phải làm rõ rằng trường hợp hai bên nam nữ chung sống như vợ chồng thì dù có tuân thủ các điều kiện kết hôn hay không nhưng không đăng ký kết hôn thì cũng không coi là kết hôn trái pháp luật Bởi, về mặt pháp lý trong quan hệ này hai bên nam nữ chưa thực hiện đăng
ký kết hôn, tức là chưa làm phát sinh quan hệ hôn nhân thì đó không phải là kết hôn trái pháp luật
Cụ thể, điều kiện kết hôn được Luật Hôn nhân và gia đình quy định rõ:
Điều 8 Điều kiện kết hôn
1 Nam, nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây:
a) Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;
b) Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định;
c) Không bị mất năng lực hành vi dân sự;
Trang 9d) Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật này
2 Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính [1]
Bên cạnh đó việc kết hôn cũng được xem là trái pháp luật khi thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn sau đây:
Một, kết hôn giả tạo: Nam, nữ kết hôn trên cơ sở một thỏa
thuận hoặc một hợp đồng nào đó nhằm mục đích khác lớn hơn
là lý do xây dựng gia đình Do đó, mục đích của kết hôn là xây dựng gia đình không được đảm bảo
Hai, tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết
hôn: Các hành vi kể trên đều không thể hiện ý chí tự nguyện của nam, nữ khi đăng ký kết hôn, xâm hại đến quyền và lợi ích của công dân
Ba, người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung
sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ: Quy định này nhằm đảm bảo chế độ hôn nhân một vợ, một chồng, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của công dân, đồng thời còn mang giá trị đạo đức về tính chung thủy
Bốn, kết hôn giữa những người có quan hệ thân thích, bao
gồm:
- Những người cùng dòng máu về trực hệ;
- Giữa những người có họ trong phạm vi ba đời;
- Giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi;
Trang 10- Giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng
Về khía cạnh sinh học, quy định này nhằm đảm bảo việc duy trì, phát triển nòi giống cho dân tộc, ngăn chặn việc thoái hóa giống nòi Về khía cạnh xã hội, đây là quy định phù hợp với quan niệm đạo đức của người Việt Nam, giúp bảo vệ những nét đẹp của văn hóa dân tộc đối với việc kết hôn và đời sống hôn nhân và gia đình
Từ các phân tích trên, khi đăng ký kết hôn, nếu hai bên có
đủ điều kiện theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, đồng thời không bị cấm kết hôn thì loại hôn nhân này được coi là hợp pháp và có giá trị pháp lý Ngược lại, nếu các điều kiện kết hôn
bị vi phạm, việc kết hôn giữ hai người được xem là kết hôn trái pháp luật và không được Nhà nước thừa nhận Phải nhận thức rõ rằng quyền kết hôn là quyền của tất cả mọi người, nhưng khi kết hôn phải tuân thủ chặt chẽ các quy định do Nhà nước đặt ra
Trang 11CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG KẾT HÔN TRÁI PHÁP LUẬT TẠI VIỆT NAM
VÀ NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ VẤN ĐỀ NÀY 2.1 Những yếu tố dẫn đến kết hôn trái pháp luật
Có nhiều yếu tố tác động việc kết hôn trái pháp luật, tùy thuộc từng trường hợp, hoàn cảnh riêng Trong đó có các yếu tố
cơ bản sau:
2.1.1 Phong tục, tập quán lạc hậu
Hơn bốn ngàn năm lịch sử
Đất nước Việt Nam từ xưa đến nay nổi tiếng với nền tinh hoa văn hóa truyền
thống có từ ngàn đời, 54 dân tộc anh em với 54 màu sắc, nét văn hóa đặc trưng riêng
biệt Ngoài những phong tục tập quán tốt đẹp góp phần điều chỉnh quan hệ xã hội thì
vẫn còn tồn tại một số hủ tục, nét văn hóa lạc hậu gây ảnh hưởng đến trật tự xã hội,
cản trở hiệu quả thi hành pháp luật Chẳng hạn tục “cướp vợ” của 10
chàng trai H’Mông
trên Tây Bắc Tuy nhiên, ngày nay phong tục này đã bị biến dạng Vì muốn có thêm
người làm, bất chấp con mình còn ít tuổi, nhiều gia đình đã tổ chức
“cướp” con gái
nhà người khác làm vợ cho con mình một cách đầy bạo lực, không màng đến ý nguyện
của người con gái Một cô gái đã bị bắt đi thì khó lòng mà trở về nhà cha mẹ theo tục lệ của người H’Mông Ngoài ra còn các hủ tục khác như tục tảo hôn, hôn nhân cận
huyết… Đây đều là những cuộc hôn nhân trái pháp luật, là phong tục tập quán lạc hậu,
lỗi thời, trở thành vật cản, gánh nặng truyền đời đối với cộng đồng người, nhất là các
dân tộc thiểu số Hủ tục không phải là thứ thiên kinh, địa nghĩa Các
hủ tục vẫn có thể
thay đổi nếu những người đang sống tại nơi tồn tại những hủ tục được giáo dục tốt
2.1.2 Sự phát triển của kinh tế - xã hội
Trang 122.1.3 Khả năng nhận thức và trình độ hiểu biết của con người
2.2 Hậu quả do kết hôn trái pháp luật gây ra
Mọi hành vi vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình phải được xử lý nghiêm minh, đúng pháp luật
Nhà nước không thừa nhận những trường hợp nam nữ kết hôn mà không tuân thủ đầy đủ các điều kiện kết hôn Theo Điều
11 Luật hôn nhân và gia đình thì việc xử lý trường hợp kết hôn trái pháp luật được Tòa án thực hiện theo quy định tại Luật hôn nhân và gia đình và pháp luật về tố tụng dân sự
Kết hôn trái pháp luật không phải là một hiện tượng xa lạ trong đời sống xã hội Ngay
từ
khi quan niệm về kết hôn xuất hiện thì cũng bắt đầu xuất hiện những quan niệm về kết hôn trái pháp luật Trong các giai đoạn trước, do ảnh hưởng của tình hình kinh tế - xã hội cũng như các yếu tố chính trị, văn hóa mà kết hôn trái pháp luật chủ yếu ở một số dạng vi phạm như: vi phạm về độ tuổi, vi phạm về sự tự nguyện Ngày nay, các yếu tố như hội nhập quốc
tế, sự phát triển về kinh tế - xã hội, sự phát triển về khoa học kỹ thuật đã ảnh hưởng trực tiếp tới các dạng vi phạm về kết hôn,
2.2 Thực trạng những trường hợp kết hôn trái pháp luật tại Việt Nam
2.2.1 Kết hôn vi phạm điều kiện về độ tuổi
2.2.2 Kết hôn vi phạm điều kiện về sự tự nguyện
2.2.3 Kết hôn vi phạm điều kiện về năng lực hành vi dân sự
Trang 132.2.4 Kết hôn vi phạm điều kiện về chế độ một vợ, một chồng
2.2.5 Kết hôn vi phạm điều kiện về giới tính
2.2.6 Kết hôn trái pháp luật do vi phạm về đăng ký kết hôn
Các tập tục kết hôn lạc hậu cấm áp dụng - Tục cướp vợ để cưỡng ép người phụ nữ làm vợ - Kết hôn giữa những người có cùng dòng máu về trực hệ, giữa những người khác có họ trong phạm vi ba đời - Tục thách cưới cao mang tính chất gả bán (như đòi bạc trắng, tiền mặt, của hồi môn, trâu, bò, chiêng
ché… để dẫn cưới) - Tục “nối dây” (khi người chồng chết, người
vợ góa bị ép buộc kết hôn với anh trai hoặc em trai của người chồng quá cố; khi người vợ chết, người chồng góa bị ép buộc kết hôn với chị gái hoặc em gái của người vợ quá cố) - Tục bắt buộc người phụ nữ góa chồng hoặc người đàn ông góa vợ, nếu kết hôn với người khác thì phải trả lại tiền cưới cho nhà chồng
cũ hoặc nhà vợ cũ 6
Trang 14CHƯƠNG 3 THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT ĐỂ XỬ LÝ CÁC
TRƯỜNG HỢP KẾT HÔN TRÁI PHÁP LUẬT
3.1 Thực trạng kết hôn trái pháp luật tại Việt Nam
3.2 Thực tiễn áp dụng pháp luật để xử lý các trường hợp kết hôn trái pháp luật
Theo đó, vềề nguyền tắắc, vi c kềắt hôn trái pháp lu t ph i b h y Tuy nhiền, ệ ậ ả ị ủ đúc kềắt t th c tềễn xét x c a Tòa án và đ tránh máy móc trong vi c gi i ừ ự ử ủ ể ệ ả
quyềắt, pháp lu t quy đ nh nềắu đềắn th i đi m Tòa án gi i quyềắt yều cầều h y vi c ậ ị ờ ể ả ủ ệ kềắt hôn trái pháp lu t mà c hai bền kềắt hôn đã có đ các điềều ki n kềắt hôn ậ ả ủ ệ theo quy đ nh t i Điềều 8 c a Lu t hôn nhần và gia đình và hai bền yều cầều công ị ạ ủ ậ
nh n quan h hôn nhần cho h thì Tòa án công nh n hôn nhần đó là h p pháp ậ ệ ọ ậ ợ
Trong trường h p này, quan h hôn nhần đợ ệ ược xác l p t th i đi m các bền đ ậ ừ ờ ể ủ điềều ki n kềắt hôn theo quy đ nh c a Lu t hôn nhần và gia đình.ệ ị ủ ậ
Quyết định của Tòa án về việc hủy kết hôn trái pháp luật hoặc công nhận quan hệ hôn nhân phải được gửi cho cơ quan đã thực hiện việc đăng ký kết hôn
để ghi vào sổ hộ tịch; hai bên kết hôn trái pháp luật; cá nhân, cơ quan, tổ chức liên quan theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự
Người có quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật
Trong việc hủy kết hôn trái pháp luật, Luật hôn nhân và gia đình quy định người có quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật gồm:
- Người bị cưỡng ép kết hôn, bị lừa dối kết hôn, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền tự mình yêu cầu hoặc đề nghị cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 2 dưới đây yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật do việc kết hôn vi phạm quy định về điệu kiện tự nguyện kết hôn
- Cá nhân, cơ quan, tổ chức sau đây, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật do việc kết hôn
vi phạm quy định tại các điểm a, c và d khoản 1 Điều 8 Luật hôn nhân và gia đình:
+ Vợ, chồng của người đang có vợ, có chồng mà kết hôn với người khác; cha, mẹ, con, người giám hộ hoặc người đại diện theo pháp luật khác của người kết hôn trái pháp luật;
+ Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;
+ Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;