Là động vật cao cấp nhất, là tinh hoa của muôn loài, con người là sản phẩm của quá trình phát triển hết sức lâu dài của giới tự nhiên.. Sang chế độ tư bản chủ nghĩa, con người đã tạo ra
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI -
-TIỂU LUẬN Nhân tố con người trong sự phát triển lực lượng sản xuất và chiến lược đào tạo nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện
nay ?
MEMBER
1.Nguyễn Đức Trọng- 20204433- Nhiệt 05
2.Nguyễễn Đinh M nh T ạ ườ ng- 20204504 - Nhi t 05 ệ
3.Ph m Xuân D ạ ươ ng- 20204307- Nhi t 05 ệ
4.Nguyễễn Đình Đ t - - Nhi t 05 ạ ệ
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN TRANG
LỜI MỞ ĐẦU 2
Phần 1:
Khái niệm LLSX và vai trò nhân tố con người trong LLSX 1.Khái niệm LLSX
1.1: Định nghĩa và tính chất LLSX 3
1.2: Cấu trúc LLSX 5
1.3: Tính chất đặc biệt của LLSX hiện đại
6
2.Vai trò con người trong LLSX 2.1: Vai trò con người 7
2.2: Con người là nhân tố trung tâm có tính quyết định LLSX 9
Trang 31.1: Tính tất yếu khách quan nước ta phải CNH, HĐH 11
1.2: Nội dung CNH, HĐH nước ta 13
2.Chiến lược phát triển GDĐT nguồn nhân lực nước ta 2.1: Vai trò và thực trạng của nguồn nhân lực nước ta 14
2.2: Quan điểm của Đảng về phát triển GDĐT nguồn nhân lực 16
Kết luận
20
Tài liệu tham khảo
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Chúng ta đang sống trong kỷ nguyên của kinh tế tri thức, đòi hỏi mỗi con người phải được đào tạo trình độ học vấn, năng lực, tu dưỡng rèn luyện phẩm chất đạo đức, ý thức laođộng tốt hơn để có thể đáp ứng những yêu cầu của sự biến đổi khoa học công nghệ hết sức nhanh chóng
Trong sự nghiệp đổi mới CNH, HĐH đất nước với những mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh hiện nay, con người và nguồn nhân lực được coi là nhân tố quan trọng hàng đầu, quyết định sự phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững của nền kinh tế nước ta Đó là yếu tố hết sức bức thiết và cần có tính cập nhật, đáp ứng được yêu cầu về con người và nguồn nhân lực xét trong nước ta nói riêng và quốc tế nói chung Chúng
ta khẳng định con người vừa là mục tiêu vừa là động lực để phát triển kinh tế xã hội đồng thời phải là những con người
có tri thức và đạo đức Từ đây mỗi con người dần dần về đúng vị trí là một chủ thể sáng tạo ra các giá trị, bao gồm các giá trị tinh thần và giá trị vật chất cho bản thân và xã hội Vì vậy, vấn đề cốt lõi là ta phải thực hiện chiến lược GDĐT nguồn nhân lực, phát triển con người một cách toàn
Trang 5người đạt đến giá trị phù hợp với đặc điểm văn hóa và
những yêu cầu mới đặt ra đối với con người Việt Nam để thực hiện sự nghiệp CNH, HĐH đất nước trong thời kỳ quá
độ của nước ta cũng như xu hướng phát triển kinh tế nói chung trên thế giới
Như vậy, xét về mặt tính chất thì khái niệm LLSX, nó phản ánh một số tính chất căn bản sau :
Trước hết, nó phản ánh quan hệ giữa con người và tự nhiên trong quá trình sản xuất Là động vật cao cấp nhất,
là tinh hoa của muôn loài, con người là sản phẩm của quá trình phát triển hết sức lâu dài của giới tự nhiên Con người phải tìm kiếm mọi điều kiện cần thiết cho sự tồn tại trong đời sống tự nhiên như thức ăn, thức uống, nhà để ở Theo
Trang 6một số nhà nhân học khẳng định nhánh người bắt đầu hình thành rõ cách đây khoảnh 10 triệu năm bắt đầu từ “vượn người” Khi đó vượn người đã biết sử dụng gậy gộc, đá, xương động vật làm công cụ và bắt đầu biết chế tạo công
cụ lao động thô sơ, cũng như dùng lửa Nhưng cuộc sống của loài vượn vẫn theo quy luật sinh vật: sống hòa lân vào thiên nhiên, sinh sống hoàn toàn tùy theo bản năng vốn có trong cơ thể và những thứ sẵn có trong tự nhiên, có thể nói
là hoàn toàn phụ thuộc vào tự nhiên Theo thời gian vượn người tiến hóa thành người khéo, người đứng thẳng, người khôn và con người
hiện đại ngày nay Nhưng sự tiến hóa ấy không làm đổi mới mối quan hệ mật thiết giữa con người với tự nhiên Ngày nay, con người vẫn đang chinh phục tự nhiên bằng nhiều hình thức và phương pháp khác nhau Như vậy, ngay từ thời kỳ sơ khai nhất, con người đã biết dựa vào những thứ vốn có trong tự nhiên để cái biến nó theotheo nhu cầu sinh tồn và phục vụ nhu cầu sống của mình Do đó ta thấy rõ một sự thật tất yếu khách quan là con người không thể tồn tại nếu không có mối quan hệ mật thiết ,gắn kết chặt chẽ với tự nhiên
Đồng thời nó cũng thể hiện trình độ chinh phục tự nhiên của con người cụ thể hơn là biểu hiện mức độ, khả năng chinh phục tự nhiên của con người
Trang 7thủ công vào quá trình lao động sản xuất Do đó năng suấtlao động kém, con người chưa tạo ra nhiều của cải dư thừa
có khả năng trao đổi với nhau phục vụ nhu cầu sống hết sức sinh động, phong phú của mình Điều đó phản ánh trình
độ chinh phục tự nhiên của con người vẫn còn non kém Cho đến khi chuyển sang chế độ chiếm hữu nô lệ, chế độ phong kiến, con người đã dần sáng tạo ra các công cụ lao động tiến bộ hơn song về bản chất nó vẫn mang tính thủ công Do vậy, mặc dù sản phẩm lao động làm ra ngày một phong phú hơn song trong quá trình lao động sản xuất vẫn còn dựa vào sức người – mặt thể lực là chính, cần nhiều thời gian và quan trọng hơn vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu ngày càng đa dạng của con người Sang chế độ tư bản chủ nghĩa, con người đã tạo ra hàng loạt những máy móc hết sức hiện đại để phục vụ vào quá trình lao động sản xuất, khai thác tài nguyên thiên nhiên , cải biến nó thành những vật dụng và sản phẩm có giá trị, chất lượng cao, phong
phú về hình thức, đa dạng về chủng loại, mẫu mã Đặc biệt cuộc cách mạng công nghiệp diễn ra bắt đầu từ thế kỷ XVII suốt cho đến ngày nay đã nhanh chóng làm biến đổi bộ mặt kinh tế xã hội của thế giới Theo đánh giá của C.Mác
Và Ph.Ăngghen “chỉ sau hơn hai thế kỷ tồn tại, chủ nghĩa tưbản đã tạo ra một khối lượng của cải vật chất nhiều hơn tất
cả các thời đại trước gộp lại” Như thế trình độ chinh phục
tự nhiên của con người đã bước lên một mốc son mới, đánh
Trang 8dấu một bước phát triển cao của tiến bộ loài người Cũng chính trong giai đoạn này con người đã dần dần chiếm thế chủ động trong quá trình lao động sản xuất.
Mặt khác, LLSX có tính khách quan trong quá trình sảnxuất Thật vậy không có một quá trình sản xuất nào mà lại không cần đến sức lao động của con người hay những yếu
tố có sẵn trong tự nhiên Nói cách khác, trong quá trình sảnxuất vật chất không thể không cần đến LLSX
1.2 Cấu trúc lực lượng sản xuất
LLSX bao gồm người lao động và tư liệu sản xuất Hoạt động lao động sản xuất vừa là điều kiện cho sự tồn tại của con người vừa là phương thức để làm biến đổi đời sống và bộ mặt xã hội
Chính những người lao động là chủ thể của quá trình lao động sản xuất, với sức mạnh và kỹ năng lao động của mình, sử dụng tư liệu lao động trước hết là công cụ lao động, tác động vào đối tượng lao động để sản xuất ra của cải vật chất
Bước kinh tế chi thức, sự phát triển của LLSX biểu hiện ở hai mặt;
-Trí thức là lực lượng đóng vai trò chủ đạo, tức là sẽ xuất hiện một tầng lớp lao động trí óc đông đảo hợp thành chủ thể trong đội ngũ những người lao động
Trang 9-Những nhân tố mới thúc đẩy LLSX sẽ được phát triển rộng khắp.
Tư liệu sản xuất bao gồm tư liệu lao động và đối tượng lao động.Con người không thể sản xuất vật chất mà không cần đến những yếu tố có sẵn trong tự nhiên như đất, nước, khoáng sản, không khí, … Đó chính là những đối tượng lao động Đặc trưng nổi bật của công cụ sản xuất và đối tượng lao động biểu hiện chủ yếu ở sự gia tăng hàm lượng khoa học và công nghệ, cuối cùng là hàm lượng tri thức được kếttinh trong sản phẩm ngày càng nhiều
Còn tư liệu lao động là những phương tiện, công cụ lao động mà con người sử dụng để tác động vào đối tượng lao động, sản xuất ra của cải vật chất Thông qua các công cụ của họ đã chứng tỏ có hoạt động lao động và đây cũng chính là ranh giới tách người ra khỏi giới sinh vật nói chung,thế giới động vật nói riêng
1.3 Tính chất đặc biệt của LLSX hiện đại
Trong sự phát triển của LLSX, khoa học đóng vai trò ngày càng to lớn Sự phát triển khoa học gắn liền với sản xuất là động lực mạnh mẽ thúc đẩy sản xuất phát triển Ngày nay, khoa học đã phát triển đến mức trở thành
nguyên nhân trực tiếp của nhiều biến đổi to lớn trong sản xuất, trong đời sống và trở thành LLSX trực tiếp
Những phát minh khoa học trở thành thang điểm xuất phát ra đời những nghành sản xuất mới, những máy móc
Trang 10thiết bị mới, công nghệ mới, nguyên vật liệu mới Sự thâm nhập ngày càng sâu của khoa học vào sản xuất, cụ thể là người lao động và tư liệ sản xuất trở thành một yếu tố không thể thiếu được trong sản xuất đã làm cho lực lượng sản xuất có bước phát triển nhảy vọt, tạo thành cách mạngkhoa học hiện đại.
Trang 11Yếu tố trí lực trong sức lao động đặc trưng cho lao động hiện đại Không còn là kinh nghiệm và thói quen của
họ mà tri thức khoa học Như vậy dù không phải là yếu tố thức ba của LLSX nhưng có thể nói khoa học và công nghệ hiện đại là đặc cho LLSX hiện đại
2 Vai trò của con người trong lực lượng sản xuất
2.1 Khái niệm con người
Vấn đề con người luôn là chủ đề trung tâm của lịch sử triết học từ thời cổ đại đến hiện đại Trong đó quan niệm của Triết học Mac-Leenin về con người và bản chất con người, xuất phát từ giác độ khái quát nhất, đứng trên lập trường duy vật biện chứng, làm cơ sở phương pháp luận cho việc giải quyết những vấn đề khác của con người, có thể nói là đúng nhất cho tới ngày nay
Trước hết con người một thực thể thống nhất giữa một sinh vật với mặt xã hội
Tiền đề vật chất đầu tiên quy định sự tồn tại của con người là sản phẩm của thế giới tự nhiên Con người là một
bộ phận của tự nhiên Con người không thể tồn tại mà
thoát ly khỏi quá trình tất yếu đó là sinh ra, phát triển rồi chết đi Trải qua hàng chục vạn năm, con người đã thay đổi
từ vượn thành người điều đó được chứng minh trong các công trình nghiên cứu của Đacuyn Những thuộc tính,
những đặc điểm sinh học, quá trình tâm sinh lý, các giai
Trang 12đoạn phát triển khác nhau nói lên bản chất sinh học của các nhân con người.
Tuy nhiên, mặt tự nhiên không phải là yếu tố duy nhất quy định bản chất con người Đặc trưng quy định sự biệt giữa con người với thế giới loài vật là mặt xã hội Thông qua hoạt động lao động sản xuất con người
Trang 13sản xuất ra của của vật chất và tinh thần phục vụ đời sống của mình hình thành và phát triển ngôn ngữ và tư duy, xác lập quan hệ xã hội Bởi vậy, lao động là yếu tố quyết định hình thành bản chất xã hội của con người đồng thời hình thành nhân cách cá nhân trong cộng đồng xã hội.
Là sản phẩm của tự nhiên và xã hội nên quá trình hìnhthành và phát triển của con người luôn bị quyết điịnh bởi các hệ thống quy luật Khác nhau nhưng thống nhất với nhau Chúng cùng tác động, tạo nên thể thống nhất hoàn chỉnh trong đời sống con người bao gồm cả mặt sinh học vàmặt xã hội Mối quan hệ sinh học và xã hội là sở để hình thành các nhu cầu về sinh học và nhu cầu xã hội trong đời sống con người như nhu cầu ăn mặc , ở, nhu cầu tái sản xuất xã hội, nhu cầu tình cảm, nhu cầu thẩm mỹ, nhu cầu hưởng thụ các giá trị tinh thần
Như vậy ta thấy rõ mặt sinh học là cở sở tất yếu tự nhiên của con người còn mặt xã hội là đăc trưng bản chất nhất để phân biệt con người với loài vật Hai mặt trên
thống nhất với nhau để tạo nên con người tự nhiên _ xã hội hay một thức thể song trùng
Để nhấn mạnh bản chất xã hội của con người Mác đã nêu trong luận đề nổi tiếng Luận cương về phoiơbắc:” bản chất con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của
cá nhân tiêng biệt Trong tính biểu hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa các quan hệ xã hội”
Trang 14Trong đời sống con người, xét trên ba phương diện khác nhau: quan hệ giữa con người với tự nhiên, với xã hội
và chính bản thân con người, suy đến cùng đều mang tính
xã hội Nhưng có thể nói quan hệ giữa con người vỡi con người là quan hệ bản chất nhất bao trùm là các mối quan
hệ khác Thực tế lịch sử đã chứng minh không có một cá nhân nào có thể tự đáp ứng đầy đủ nhu cầu của bản thân cũng như không thể lao động một
Trang 15cách độc lập tuyệt đối để sản xuất vật chất mà phải liên kết lại với nhau, phân công lao động và trao đổi sản phẩm cho nhau Từ đó hình thành các quan hệ xã hội, điều chỉnh
và chi phối hoạt động,hành vi của con người Chỉ trong toàn
bộ các mối quan hệ đó, con người mới bộc lộ toàn bộ bản chất của mình Trong điều kiện lịch sử cụ thể nhất định, bằng hoạt động thực tiễn của mình, con người sản xuất ra của cải vật chất đồng thời hoàn thiện bản thân mình
Con người là chủ thể và là sản phẩm của lịch sử, không
có giới tự nhiên, không có lịch sử xã hội thì không tồn tại con người Bởi vậy con người là sản phẩm của lịch sử, song điều quan trọng là con người luôn luôn là chủ thể của lịch sử-xã hội
Con người sáng tạo ra lịch sử, nhưng không bao giờ sáng tạo ra lịch sử trong những hoàn cảnh và điều kiện được lựa chọn, mà trong điều kiện và hoàn cảnh có sẵn do quá khứ để lại Do đó ta phải luôn chú ý tới mối quan hệ haichiều giữa hiện tại và quá khứ, đặc biệt là môi trường sống của con người Thông qua môi trường sống con người có sự tác động qua lại lẫn nhau thực hiện các quan hệ xã hội tạo nên bản chất con người, làm cho con người khác với con vật
2.2 Con người là nhân tố trung tâm có tính quyết định LLSX
Trang 16Trong các yếu tố của LLSX,” LLSX hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân và người lao động” Con người lànhân vật chính của lịch sử, vừa là mục tiêu, vừa là động lực
để phát triển xã hội, nhân tố con người vừa là phương tiện sáng tạo ra mọi giá trị của cải vật chất và tinh thần, sáng tạo và hoàn thiện ngay chính bản thân mình đồng thời vừa
là chủ nhân sử dụng nó hiệu quả moi tài sản vô giá ấy Trênphương diện đó vai trò nhân tố con người lao động trong LLSX là yếu tố trung tâm của con
Trang 17người chính là sức lao động bao gồm thể lực và trí lực
Không có người lao động nào trong quá trình sản xuất vật chất lại khồng cần đến lao động thể lực hay lao động cơ bắp Chính những người lao động là chủ thể của quá trình lao động sản xuất, với sức mạnh và kỹ năng lao động của mình, sử dụng tư liệu lao động trước hết là công cụ lao động, tác động vào đối tượng lao động để sản xuất ra của cải vật chất Cùng với quá trình lao động sản xuất, sức mạnh và kỹ năng lao động của con người không ngừng được tăng lên, đặc biệt là trí tuệ con người ngày càng phát triển Trong quá trình đó không những con người sử dụng trítuệ nội taijcuar mình mà còn được kế thừa những kinh
nghiệm qua học hỏi lẫn nhau giữa những người lao động cho nên có thể nói kinh nghiệm cũng là một LLSX Kinh nghiệm được tính lũy dần trỏe thành kỹ năng và cao hơn nữa nó có thể trở thành tri thức khoa học, kỹ thuật, công nghệ
Trang 18Phần 2
CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN GD ĐT NGUỒN NHÂN LỰC THEO HƯỞNG CNH, HĐH Ở VIỆT NAM
TRONG THỜI KÌ QUÁ ĐỘ
1 Tính tất yếu khách quan và nội dung CNH, HĐH của Việt Nam trong thời kỉ quá độ
1.1 Tính tất yếu khách quan nước ta phải CNH, HĐH
Mỗi phương thức sản xuất đều ra đời và tồn tại trên một cơ sở VCKT tương ứng với nó Cơ sở VCKT của CNXH là một nền công nghiệp lớn hiện đại, trước hết là công nghiệp nặng có đủ khả năng trang bị kỹ thuật hiện đại cho công nghiệp và các ngành khác trong nền kinh tế quốc dân, không ngừng phát triển nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa
và cải thiện đời sống nhân dân
CNH, HĐH là quá trình chuyển đổi căn bản làn diện hoạt động kinh tế, dịch vụ và quản lý từ trạng thái sử dụng sức lao động là chính sang trạng thất sử dụng sức lao động kết hợp với kỹ thuật công nghệ hiện đại tạo ra Bảng suất lao động ngày càng cao,CNH, HĐH là một tỉnh quy luật để xây dựng cơ sở VCKT cho CNXH Cơ sử VCKT của một