1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LVTS_ ĐỀ TÀI BẠO LỰC TRƯỜNG MẦM NON

151 29 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Trạng Về Mức Độ Bạo Lực Đối Với Trẻ Em Trong Trường Mầm Non Tại Thành Phố Hồ Chí Minh
Tác giả Trần Văn Trọng
Người hướng dẫn PGS.TS Phan Trọng Ngọ
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội
Chuyên ngành Tâm Lí Học
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ Tâm Lí Học
Năm xuất bản 2019
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 151
Dung lượng 2,79 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI  TRẦN VĂN TRỌNG THỰC TRẠNG VỀ MỨC ĐỘ BẠO LỰC ĐỐI VỚI TRẺ EM TRONG TRƯỜNG MẦM NON TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Chuyên ngành Tâm lí học trường học Mã số 8310401 LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÍ HỌC Người hướng dẫn khoa học PGS TS Phan Trọng Ngọ HỒ CHÍ MINH – 112019 2 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các dữ liệu, kết quả nghiên cứu trong đề tài là trung thực và chưa từng công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÍ HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phan Trọng Ngọ

HỒ CHÍ MINH – 11/2019

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các dữ liệu, kết quả nghiên cứu trong đề tài là trung thực và chưa từng công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác

Tác giả

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

4 Giả thuyết nghiên cứu 3

5 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 3

6 Phạm vi nghiên cứu 3

7 Phương pháp nghiên cứu 4

8 Những đóng góp của đề tài nghiên cứu 5

9 Cấu trúc của đề tài nghiên cứu 5

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 6

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẠO LỰC ĐỐI VỚI TRẺ EM TRONG TRƯỜNG MẦM NON 6

1.1 Tổng quan các nghiên cứu về bạo lực đối với trẻ em trong trường mầm non 6

1.1.1 Các nghiên cứu về bạo lực đối với trẻ em trong trường mầm non ở nước ngoài 6

1.1.2 Các nghiên cứu về bạo lực đối với trẻ em trong trường mầm non ở Việt Nam 13

1.2 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến vấn đề nghiên cứu 16

1.2.1 Khái niệm bạo lực đối với trẻ em 16

1.2.2 Khái niệm bạo lực đối với trẻ em trong trường mầm non 18

1.3 Các hình thức bạo lực đối với trẻ em trong trường mầm non 21

1.4 Nguyên nhân dẫn đến bạo lực đối với trẻ em trong trường mầm non 24

1.5 Hậu quả của bạo lực đối với trẻ em trong trường mầm non 26

1.6 Một số yếu tố ảnh hưởng đến bạo lực đối với trẻ em trong trường mầm non 28

1.7 Một số biện phóng ngừa và giảm thiểu mức độ bạo lực đối với trẻ em trong trường mầm non 31

Tiểu kết chương 1 34

Trang 5

CHƯƠNG 2 TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35

2.1 TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 35

2.1.1 Giai đoạn 1: Xây dựng cơ sở lý luận thực trạng về mức độ bạo lực đối với trẻ em trong trường mầm non 35

2.1.2 Giai đoạn 2: Khảo sát thực tiễn mức độ bạo lực đối với trẻ em trong trường mầm non tại thành phố Hồ Chí Minh 36

2.1.3 Giai đoạn 3: Đề xuất biện pháp phòng ngừa và giảm thiểu mức độ bạo lực đối với trẻ em trong trường mầm non 37

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 38

2.2.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu 38

2.2.2 Phương pháp chuyên gia 38

2.2.3 Phương pháp điều tra bằng hỏi 39

2.2.4 Phương pháp phỏng vấn sâu 42

2.2.5 Phương pháp phân tích dữ liệu 43

Tiểu kết chương 2 49

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG MỨC ĐỘ VỀ BẠO LỰC ĐỐI VỚ TRẺ EM TRONG TRƯỜNG MẦM NON TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 50

3.1 Mức độ bạo lực đối với trẻ em trong trường mầm non tại thành phố Hồ Chí Minh 50

3.1.1 Mức độ và nguyên nhân bạo lực đối với trẻ em trong trường mầm non 50

3.1.2 Nhận thức của giáo viên về các hành vi và hậu quả của các hành vi bạo lực đối với trẻ em 65

3.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến mức độ bạo lực đối với trẻ em trong trường mầm non 75

3.2.1 Ảnh hưởng từ các yếu tố tâm lý cá nhân của giáo viên đến mức độ bạo lực đối với trẻ em trong trường mầm non 75

3.2.2 Ảnh hưởng từ các yếu tố xã hội của GV đến mức độ bạo lực đối với trẻ em trong TMN 79

Trang 6

3.3 Một số biện pháp phòng ngừa và giảm thiểu bạo lực đối với trẻ em trong

trường mầm non trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh 84

3.2.1 Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức của giáo viên về các hành vi bạo lực đối với trẻ em, hậu quả của bạo lực đối với trẻ em, nguyên nhân dẫn đến giáo viên có hành vi bạo lực đối với trẻ em trong trường mầm non 84

3.2.2 Biện pháp 2: Hình thành và phát triển kỹ năng ứng xử cho giáo viên với các tình huống xảy ra bạo lực đối với trẻ em trong trường mầm non 85

3.2.3 Biện pháp 3: Biện pháp nâng cao khả năng tự đánh giá các yếu tố tâm lý cá nhân và xã hội tác động đến mức độ bạo lực đối với trẻ em của giáo viên và cách ứng xử của giáo viên khi xảy ra hành vi bạo lực đối với trẻ em 86

3.2.4 Biện pháp 4: Tổ chức tham vấn tâm lý trợ giúp cho giáo viên và trẻ có cách ứng xử tích cực đối với hành vi bạo lực đối với trẻ em 87

Tiểu kết chương 3 88

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 89

TÀI LIỆU THAM KHẢO 95

Trang 7

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Phân bố mẫu nghiên cứu: 36 Bảng 3.1 Mức độ bạo lực đối với trẻ em trong trường mầm non 50 Bảng 3.2 Các hình thức bạo lực đối với trẻ em trong trường mầm non (N=175) 51 Bảng 3.3 Hành vi bạo lực đối với trẻ em theo hình thức giữa trẻ em đối với trẻ hay

tự trẻ gây ra (N: 175) 52 Bảng 3.4 Hành vi bạo lực đối với trẻ em thuộc hình thức bạo lực giữa giáo viên đối

với trẻ (N: 175) 53 Bảng 3.5 Hành vi bạo lực đối với trẻ em thuộc hình thức giữa lực lượng giáo dục

khác đối với trẻ (N = 175) 55 Bảng 3.6 Các nguyên nhân dẫn đến bạo lực đối với trẻ em trong trường mầm non

(N=175) 56 Bảng 3.7 Nhóm nguyên nhân từ trẻ và những yêu cầu công việc của giáo viên liên

quan đến trẻ (N=175) 57 Bảng 3.8 Nhóm nguyên nhân từ mối quan hệ giữa GV với phụ huynh của trẻ (N= 175) 59 Bảng 3.9 Nhóm nguyên nhân từ áp lực công việc và những biến đổi tâm sinh lý của

giáo viên (N=175) 59 Bảng 3.10 Nhóm nguyên nhân từ những vi phạm kỷ luật trong công việc và những

mâu thuẫn trong các mối quan hệ của giáo viên 61 Bảng 3.11 Ma trận tương quan giữa các nhóm nguyên nhân dẫn đến bạo lực đối

với trẻ em trong trường mầm non 63 Bảng 3.13 Nhận thức của giáo viên về các hình thức bạo lực đối với trẻ em trong

trường mầm non 66 Bảng 3.14 Nhận thức của giáo viên về các hành vi bạo lực thuộc hình thức bạo lực

giữa các lực lượng giáo dục khác đối với trẻ em trong trường mầm non (N= 175) 67 Bảng 3.15 Nhận thức của giáo viên về các hành vi bạo lực thuộc hình thức bạo lực

giữa giáo viên đối với trẻ em (N = 175) 68

Trang 8

Bảng 3.16 Nhận thức của giáo viên về các hành vi bạo lực thuộc hình thức bạo lực

giữa trẻ đối với trẻ hay tự trẻ gây ra trong trường mầm non (N = 175) 69 Bảng 3.17 Nhận thức của giáo viên theo các nhóm hậu quả của bạo lực đối với trẻ

em trong trường mầm non (N: 175) 70 Bảng 3.18 Nhận thức của giáo viên về những hậu quả về thể chất và sự phát triển

tâm lý của trẻ do bạo lực đối với trẻ em của giáo viên trong trường mầm non (N = 175) 71 Bảng 3.19 Nhận thức của giáo viên về các hậu quả gây ra cho trẻ trong nhóm hậu

qua gây ra những rối nhiễu tâm lý cho trẻ (N = 175) 72 Bảng 3.20 Nhận thức của giáo viên về những hậu quả của bạo lực đối với trẻ em trong

nhóm hậu quả ảnh hưởng đến môi trường giáo dục của trẻ (N = 175) 73 Bảng 3.21 Mối tương quan giữa mức độ BL, nguyên nhân bạo lực với nhận thực về

hành vi BL và hậu quả BL đối với trẻ em 74 Bảng 3.22 Tính lạc quan của giáo viên mầm non trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh 76 Bảng 3.23 Điểm trung bình, độ lệch chuẩn, tần suất lòng yêu ghề của giáo viên

trong trường mầm non trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh 76 Bảng 3.24 Mối quan hệ yếu tố khi chất của giáo viên với mức độ bạo lực đối với trẻ

em trong trường mầm non 78 Bảng 3.25 Mối quan hệ yếu tố kinh tế gia đình của giáo viên với mức độ bạo lực

đối với trẻ em trong trường mầm non 79 Bảng 3.26 Mối quan hệ yếu tố tình trạng hôn nhân của giáo viên với mức độ bạo

lực đối với trẻ em trong trường mầm non 80 3.2.3 Ma trận tương quan giữa các yếu tố ảnh cá nhân và xã hội của giáo viên

ảnh hưởng đến mức độ bạo lực đối với trẻ em trong TMN 81 Bảng 3.27 Ma trận tương quan các yếu tố cá nhân và xã hội của giáo viên ảnh

hưởng đến mức độ bạo lực đối với trẻ em trong trường mầm non (N

= 175) 82 Biểu đồ 3.1 Mối quan hệ giữa lòng yêu nghề của giáo viên với mức độ bạo lực đối

với trẻ em trong trường mầm non 77

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hiện tượng bạo lực đối với trẻ em nói chung, trong trường học nói riêng đã và đang diễn ra ở mức độ báo động, được coi là một vấn nạn mang tính toàn cầu Có rất nhiều diễn đàn, nhiều cuộc khảo sát, nhiều công trình nghiên cứu về tình trạng bạo lực đối với trẻ em trong nhà trường trên thế giới, trong khu vực châu Á, cũng như ở Việt Nam Con số được nhắc đến nhiều nhất ước tính có khoảng 350 triệu học sinh đang phải đối mặt với nạn BL tại trường học mỗi năm Trên thực tế con số trẻ bị BL chỉ được phát hiện khi báo chí hay các cơ quan thi hành pháp luật vào cuộc và những nạn nhân của BL thì vẫn trong tình trạng “khó nói” Do đó, “thực trạng BL ngầm, BL công khai và BL tự sướng” qua các trang mạng vẫn xuất hiện liên tục trong thế giới học đường [6, tr 182 – 183] Tình trạng bạo lực đối với trẻ em ở Việt Nam trong thời gian qua được các cấp chính quyền và toàn xã hội quan tâm, nhìn nhận như là một tệ nạn cần phải “chống” Tại hội thảo quốc gia về phòng chống BL, xâm hại trẻ em được Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Bộ Giáo dục và Đào tạo và các tổ chức quốc tế tổ chức ở Hà Nội ngày 24 tháng 9 năm 2010, bà Nguyễn Thị Kim Ngân, Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, cho biết chỉ trong 2 năm 2008-2009, cả nước đã xảy ra 5.956 vụ BL trẻ em Theo thống kê của Bộ Công an, bình quân một năm có trên

100 vụ giết trẻ em, 800 vụ xâm hại tình dục, 50 vụ bắt cóc, buôn bán trẻ em được phát hiện và xử lý hình sự [30] Việc cấm trừng phạt trẻ em – bảo vệ trẻ em được Chính phủ Việt Nam ký kết thông qua Công ước quốc tế về quyền trẻ em, năm 1991

Tình trạng BL học đường ở Việt Nam rộ lên theo kiểu “báo động đỏ” từ năm

2007 Theo ông Nguyễn Đình Mạnh, Phó vụ trưởng Vụ Công tác học sinh - sinh viên

Bộ GD-ĐT, từ đầu năm học 2009 - 2010 đến nay, cả nước đã xảy ra 1.598 vụ việc học sinh đánh nhau, trong đó có 7 vụ dẫn đến chết người [28] Ngày 27/05/2009, Viện Nghiên cứu Phát triển thành phố HCM đã phối hợp với Trung tâm tư vấn FDC tổ chức Hội thảo khoa học “Bạo hành trẻ em trong gia đình và nhà trường ở thành phố HCM – thực trạng và giải pháp”, theo báo cáo điều tra về “Bạo hành trẻ em trong gia đình và nhà trường” do tác giả Lê Thị Ngọc Dung, Nghiên cứu Phát triển thành phố HCM thực hiện cho thấy, có 26.3% học sinh bị thầy cô dùng các hình phạt như hù dọa, cốc đầu,

Trang 10

nhéo tai, phơi nắng…, thay vì tôn trọng, yêu mến thầy, cô giáo thì đa số các em tỏ ra

sợ thầy, cô giáo, chiếm 48.0% học sinh [4] Môi trường học đường ở một số nơi đã bị

“ô nhiễm” bởi các tệ nạn xã hội, bởi tình trạng BL diễn ra giữa GV với học sinh, giữa học sinh với học sinh trong và ngoài nhà trường ngày càng báo động, ở tất cả các bậc học, cấp học từ TMN cho đến trường Đại học gây bức xúc cho toàn xã hội

Thành phố HCM là thành phố trực thuộc Trung ương, lực lượng lao động từ các tỉnh thành trong cả nước đổ về thành phố HCM ngày một gia tăng, kéo theo tỷ lệ trẻ không ngừng gia tăng, dẫn đến nhu cầu TMN không ngừng phát triển Năm học 2018-

2019 tại thành phố HCM có 1.296 TMN (Trong đó có 467 trường công lập, 829 trường ngoài công lập), tổng số trẻ đến trường, lớp là 364.648 trẻ, có tổng số 52.211 cán bộ, GV và công nhân viên (trong đó có 26.602 GV) Dự kiến năm học 2019 –

2020 số trường mầm non có 1.381 trường, có 371.941 trẻ đến trường, 27.314 giáo viên tham gia giảng dạy [2] Tỷ lệ trẻ đến TMN ngày một tăng, kéo theo sự gia tăng về cơ

sở vật chất, lớp, TMN công lập và ngoài công lập, điều này ảnh hưởng rất lớn đến công tác quản lý và chất lượng giáo dục mầm non cũng như nhiều vấn đề nảy sinh trong hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ của GV trong TMN Trong thời gian qua, trên các phương tiện truyền thông đại chúng đã đăng tải nhiều tình huống bạo lực đối với trẻ em trong các TMN trên địa bàn thành phố HCM với nhiều hình thức và mức độ biểu hiện khác nhau Theo nhận định của bà Nguyễn Thị Hậu, phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển cho rằng ở một mức độ nào đó, phải chăng

“bạo hành” (BL) đối với trẻ chính là sự bất lực của người lớn đối với trẻ, và bất lực với chính mình ? [30] Trong các tình huống bạo lực đối với trẻ em trong TMN đã xảy ra

và được công chúng biết đến, chúng ta nhận thấy chủ yếu do GV, bảo mẫu tiến hành đối với trẻ, ngoài ra còn có những hành vi BL giữa trẻ đối với trẻ, gây ra nhiều hậu quả

về mặt thể chất và tâm lý cho trẻ

Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài “Thực trạng mức độ bạo

lực đối với trẻ em trong TMN trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh” làm đề tài

nghiên cứu Vấn đề bạo lực đối với trẻ em trong TMN, trong thời gian qua còn ít nhận được sự quan tâm, nghiên cứu sâu rộng về mặt lý luận và thực tiễn của các nhà khoa học, vì vậy, đề tài nghiên cứu của chúng tôi có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn

Trang 11

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở kết quả nghiên cứu lý luận và thực trang về mức độ bạo lực đối với trẻ

em trong TMN và các yếu tố ảnh hưởng đến bạo lực đối với trẻ em trong TMN, từ đó

đề xuất một số biện pháp giúp phòng ngừa hành vi bạo lực đối với trẻ em trong TMN trên địa bàn thành phố HCM

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Xây dựng cơ sở lý luận về bạo lực đối với trẻ em trong TMN

3.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng mức độ bạo lực đối với trẻ em trong TMN trên địa bàn thành phố HCM

3.3 Đề xuất một số biện pháp phòng ngừa hành vi bạo lực đối với trẻ em trong TMN trên địa bàn thành phố HCM

4 Giả thuyết nghiên cứu

Bạo lực đối với trẻ em trong TMN trên địa bàn thành phố HCM hiện nay diễn ra với nhiều mức độ từ không bao giờ đến hiếm khi, với các hình thức khác nhau Bạo lực đối với trẻ em trong TMN diễn ra do nhiều nguyên nhân liên quan đến GV, đến trẻ

và các lực lượng giáo dục khác trong TMN trên địa bàn thành phố HCM Nhận thức về các hành vi và những hậu quả có liên quan đến hành vi bạo lực đối với trẻ em ở giáo viên với mức độ cao Bạo lực đối với trẻ em trong TMN chịu tác động bởi một số yếu

tố tâm lý và xã hội của GV trong TMN

5 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu:

Mức độ hành vi bạo lực đối với trẻ em trong trường mầm non

5.2 Khách thể nghiên cứu:

- GV tại các TMN công lập và ngoài công lập trên địa bàn thành phố HCM tham gia điều tra chính thức

6 Phạm vi nghiên cứu

6.1 Giới hạn về nội dung nghiên cứu

Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu hành vi bạo lực đối với trẻ em của GV trong TMN ở các khía cách:

- Mức độ, các hình thức bạo lực đối với trẻ em trong TMN

Trang 12

- Nguyên nhân dẫn đến bạo lực đối với trẻ em trong TMN

- Nhận thức của giáo viên về các hành vi và hậu quả bạo lực đối với trẻ em trong TMN

- Nghiên cứu sự tác động của một số yếu tố cá nhân và xã hội của GV đến bạo lực đối với trẻ em trong TMN

- Đề xuất một số biện giúp phòng ngừa những hành vi bạo lực đối với trẻ em trong TMN thành phố Hồ Chí Minh

6.2 Giới hạn về khách thể và địa bàn nghiên cứu

Đề tài tiến hành khảo sát nghiên cứu trên 175 khách thể là GVMN, trong đo gồm

90 giáo viên ở các TMN công lập và 85 GV ở các TMN ngoài công lập thuộc các quận

3, 9, 12, huyện Bình Chánh trên địa bàn thành phố HCM

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp luận

Nguyên tắc tiếp cận hoạt động được sử dụng trong nghiên cứu này Nghiên cứu mức độ bạo lực đối với trẻ em trong nhà trường mầm non không tách hoạt động giáo dục mầm non có nhiều đặc thù, là môi trường dễ dẫn đến hành vi bạo hành của GV Tiếp cận theo nguyên tắc lịch sử, cụ thể, thông qua trải nghiệm của GV trong hoạt động nghề nghiệp có thể xác định được mức độ bạo lực đối với trẻ em trong TMN, các nguyên nhân dẫn đến bạo lực đối với trẻ em, và mối liên hệ giữa nhận thức của GV về hành vi bạo lực đối với trẻ em, hậu quả của bạo lực đối với trẻ em Tiếp cận theo nguyên tắc tiếp cận lứa tuổi, ở mỗi giai đoạn lứa tuổi khác nhau, trẻ em có những đặc điểm tâm sinh lý khác nhau, dẫn đến những mức độ, nguyên nhân bạo lực ở trẻ là khác nhau

7.2 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu

- Phương pháp chuyên gia

- Phương pháp điều tra bằng hỏi

- Phương pháp phỏng vấn sâu

- Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học

Các phương pháp nghiên cứu, mục đích, nội dung và cách thức tiến hành được

Trang 13

chúng tôi trình bày cụ thể trong chương 2

8 Những đóng góp của đề tài nghiên cứu

8.1 Đóng góp về mặt lý luận

Kết quả nghiên cứu lý luận đã bổ sung và phát triển thêm lý luận về BL và bạo lực đối với trẻ em cụ thể: xác định được khái niệm về BL, bạo lực đối với trẻ em, bạo lực đối với trẻ em trong TMN, các hình thức bạo lực đối với trẻ em, nguyên nhân dẫn đến bạo lực đối với trẻ em, Kết quả nghiên cứu còn cho thấy mối liên hệ giữa mức

độ bạo lực đối với trẻ em với một số yếu tố cá nhân và xã hội khác của GVMN Đây là phát hiện mới bổ sung cho các luận điểm lý thuyết nghiên cứu về bạo lực đối với trẻ

em trong TMN nói riêng và BL học đường nói chung

8.2 Đóng góp về mặt thực tiễn

Trong phạm vi nghiên cứu, đây là một trong những công trình đi sâu nghiên cứu

về thực trạng mức độ bạo lực đối với trẻ em trong TMN Kết quả nghiên cứu thực tiễn góp phần làm sáng tỏ các vấn đề: mức độ, các hình thức bạo lực đối với trẻ em; nguyên nhân dẫn đến bạo lực đối với trẻ em; nhận thức của giáo viên về hành vi và hậu quả của bạo lực đối với trẻ em; Mối liên hệ tác động của một số yếu tố cá nhân và

xã hội của GV đến mức độ bạo lực đối với trẻ em trong TMN Bên cạnh đó đề tài có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho sinh viên tại các cơ sở đào tạo tâm lý học,

đào tạo GVMN, quản lý TMN và những người nghiên cứu tâm lý

9 Cấu trúc của đề tài nghiên cứu

Đề tài gồm những phần sau:

- Mở đầu:

- Chương 1: Cơ sở lý luận về bạo lực đối với trẻ em trong TMN

- Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu

- Chương 3: Kết quả nghiên cứu thực trạng về mức độ bạo lực đối với trẻ em trong TMN trên địa bàn thành phố HCM

- Kết luận và kiến nghị

- Danh mục tài liệu tham khảo

- Phụ lục

Trang 14

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẠO LỰC ĐỐI VỚI TRẺ EM TRONG TRƯỜNG MẦM NON

1.1 Tổng quan các nghiên cứu về bạo lực đối với trẻ em trong trường mầm non

1.1.1 Các nghiên cứu về bạo lực đối với trẻ em trong trường mầm non ở nước ngoài

Qua nghiên cứu, phân tích tài liệu về bạo lực đối với trẻ em trong nhà trường nói chung và trường mầm non nói riêng, chúng tôi nhận thấy các nghiên cứu ở nước ngoài khá phong phú, đa dạng, chúng tôi điểm luận tài liệu theo các hướng nghiên cứu sau:

Hành vi và mức độ bạo lực đối với trẻ em trong nhà trường có thể diễn ra giữa giáo viên với học sinh và giữa học sinh đối với học sinh Các công trình nghiên cứu những hành vi BL của GV được tiến hành đối với học sinh như những hình thức trừng phạt được tiến hành từ phía nhà trường Ở Thổ Nhĩ Kỳ, người ta quan niệm rằng: “Khi GV đánh thì hoa hồng sẽ nở” Ở Singapore cho phép hiệu trưởng hoặc

GV cao cấp dùng roi đánh học sinh nam trên 10 tuổi, nếu học sinh này phạm nỗi lớn, còn học sinh nữ được miễn Ở Kenya hình phạt thể chất giống như một nghi thức của hiệu trưởng trước sự chứng kiến của người khác và phải ghi lại cụ thể “Sổ ghi phạt” hình phạt đã sử dụng [6, tr.184]

Trong một cuộc khảo sát của Bộ Giáo dục Nhật Bản báo cáo đã chỉ ra rằng học sinh ở các trường công lập tham gia vào một số lượng kỷ lục các sự cố BL trong năm

2007 là 52.756 trường hợp, gia tăng 8.000 vụ so với năm trước Trong đó GV là mục tiêu của gần 7.000 cuộc tấn công Tại Vương quốc Anh, một cuộc điều tra Chính phủ trong năm 1989 thấy rằng cứ 2/100 GV đã có báo cáo về việc phải đối mặt với gây hấn thể chất Trong năm 2007, một cuộc khảo sát của 6.000 GV của Công đoàn GV (NASUWT) phát hiện thấy có hơn 16% GV bị học sinh hành hung Ở xứ Wales, một cuộc khảo sát năm 2009 cho thấy 2/5 GV báo cáo đã bị học sinh hành hung trong lớp học và có 49% GV bị đe dọa hành hung [6]

Nguyên cứu tại Bỉ cho thấy, BL thường xảy ra đối với các GV nói tiếng Pháp, điều này khiến cho nhiều GV quyết định bỏ nghề dạy học Năm 2002, một vụ nổ súng ở

Trang 15

trường học cướp đi mạng sống của 14 GV, 2 học sinh và một cảnh sát tại thành phố Erfurt, nước Đức Tháng 7/2003, một học sinh 16 tuổi bắn một thầy giáo trước khi tự sát tại một trường học ở thành phố Coburg Tháng 11/2006, một cựu học sinh 18 tuổi cũng

nổ súng trong một trường học ở thành phố Emsdetten, làm ít nhát 11 người bị thương, rồi tự sát…

Một nghiên cứu được thực hiện bởi Tonja Nansel và đồng nghiệp (2001) chỉ ra rằng trong số hơn 15.000 học sinh Mỹ, từ lớp 6 đến lớp 10 có khoảng 17 % học sinh cho biết họ thỉnh thoảng hoặc thường xuyên bị bắt nạt trong cả năm học Gần 19% cho rằng họ “thỉnh thoảng” hoặc thường xuyên bắt nạt các bạn khác và 6% nói rằng họ vừa

bị bắt nạt người khác vừa là nạn nhân của nạn bắt nạt Còn ở Hàn Quốc, thống kê cũng cho thấy gần 13,2% học sinh nam và 5,8% học sinh nữ từ lớp 4 đến lớp 12 bị các bạn cùng lớp đánh hoặc làm tổn thương Giữa năm 2007, tại một trường thuộc tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc), Wu Jianguo, 17 tuổi, “canh me” một nhóm bạn bước ra khỏi thang máy và lập tức đâm các học sinh này Lý do: Wu sợ bị bạn học đòi tiền “bảo kê”, nên “tiên hạ thủ vi cường” [6]

Một cuộc thăm dò thực hiện ở trẻ có độ tuổi từ 12 – 17 tuổi cho kết quả các em đều thừa nhận BL đang gia tăng ở trường học của mình Mỗi tháng có 282.000 học sinh ở các trường trung học cơ sở Mỹ bị tấn công Tại Mỹ, nghiên cứu của Hội đồng phòng chống tội phạm quốc gia (NCPC) khẳng định 43% học sinh cả nam lẫn nữ từng

bị dọa nạt hoặc chế giễu trên internet

Có thể dễ dàng nhận thấy rằng, tình trạng BL trong trường học diễn ra phổ biến trên toàn thế giới giữa GV với học sinh và giữa học sinh với học sinh dưới nhiều hình thức, cách thức khác nhau, để lại những hậu quả đáng tiếc cho chính kẻ gây ra BL và nạn nhân hứng chịu BL trong trường học, gây ra những hậu qua cho gia đình, nhà trường và toàn xã hội

em trong trường học

Nghiên cứu của Tiến sỹ Thomas Gordon (1989) cho thấy cách sử dụng các hình thức trừng phạt học sinh từ phía trường học ở các nước là một trong những những nguyên nhân gây ra BL học đường Khi những chính sách trừng phạt học sinh của nhà

Trang 16

trường không đi kèm với việc lôi kéo sự hợp tác của người học, cũng như không nhằm phục vụ lợi ích của trường học, thì chắc chắn các hình thức kỷ luật học sinh còn tệ hơn và

sẽ dẫn đến tình trạng BL học đường, hoặc chúng sẽ buộc học sinh phải ngừng đi học Thực tế, việc GV vẫn còn bị hành hung chứng tỏ các kiểu trừng phạt học đường góp phần

là nguyên nhân của gây hấn học đường hơn là giải pháp ngăn chặn [6, tr 184-185]

David G.Myes (2005) cho rằng sự nghiêm khắc nổi tiếng của nhà trường và GV được coi là một nguyên nhân dẫn tới tệ bắt nạt Những đứa trẻ phải tuân thủ nghiêm gặt nội quy trường học khi có nhiều quy định hơi bị quá đáng, ví dụ học sinh không được phép để tóc dài Tính ham hiểu biết của trẻ bị ngăn chặn và chúng cảm thấy chán chường với những nội quy và điều đó có thể gây ra tâm lý muốn bắt nạt người khác Theo số liệu báo cáo của Viện Nghiên cứu Chính sach Giáo dục Quốc gia Nhật Bản cho thầy rằng có khoảng 86,9% học sinh tiểu học bị bắt nạt mà không báo cáo với người có trách nhiệm, tỷ lệ này ở học sinh cấp 2 là 80,3% Báo cáo cho biết tình trạng bắt nạt hầu hết ở mọi học sinh bất kể xuất thân thành phần gia đình và nét đặc trưng cá nhân Báo cáo cũng không xác định yếu tố đặc biệt nào được xem là nguyên nhân chính của tình trạng bắt nạt trong học đường nhưng khẳng định học sinh có thể bị stress Ý kiến của một số chuyên gia Nhật cho rằng “Thay vì đặt ra những hình phạt nghiêm khắc, các phụ huynh cần điều chỉnh lại cách sống của mình Bởi ngày nay ba

mẹ cố gắng chăm lo đời sống vật chất của các con sao cho đầy đủ nhất, nhưng lại quên mất chuyện nâng niu trái tim và tâm hồn con mình” [6, tr 186 – 187]

Các chuyên gia tâm lý của Đức cho rằng, nguyên nhân dẫn đến BL học đường là các em bị ức chế tâm lý do sức ép phải đạt kết quả cao trong học tập và phải tham gia một khối lượng lớn các hoạt động ngoại khóa Các em không thể kiểm soát được cảm xúc của mình, dẫn tới những hành động bột phát làm giảm giá trị đạo đức và phải nhận những hình thức kỷ luật tương xứng Ngoài ra, hình ảnh BL trên phim, các cuộc đọ sung trong game, các tin tức liên quan đến tệ nạn xã hội cũng trực tiếp tác động đến tâm lý học sinh Bernd Holthusen, một nhà nghiên cứu về ngăn ngừa tội phạm tại Viện Thanh niên ở Munich, cho rằng, những hình ảnh BL tràn lan là một trong các nguyên nhân chính dẫn tới tình trạng phạm tội của trẻ vị thành niên “Sự nhạy cảm của trẻ đối với BL ngày càng lớn Những vụ thảm sát bằng súng như vậy có thể kích động một số

Trang 17

người khác làm theo Điều này hết sức nguy hiểm” [6, tr.191] Tại Mỹ, một mặt chính phủ và các nhà hoạt động xã hội cố gắng ngăn ngừa, giảm bớt “những cái đầu nóng” trong môi trường học đường Nhưng mặt khác, những văn hóa phẩm BL và sự tự do sử dụng vũ khí vẫn để tràn lan Tình trạng này đúng là “bắt cóc bỏ dĩa”, rằng “không thể cứu đám cháy của một tòa cao ốc chỉ với một chậu nước” – giáo sư Thomas R.Frieden, Giám đốc Trung tâm kiểm soát và phong ngừa dịch bệnh Mỹ phát biểu

Một nghiên cứu của Sargent và cộng sự (2002) cho thấy, các em công khai xem những bộ phim thô bạo là phổ biên và 2/3 trong số đó coi các phim này là những chuyện vui Thanh thiếu niên ngày nay “trở nên bị trơ lì một cách mạnh mẽ với những tranh ảnh BL và tình dục hơn so với bố mẹ chúng ở thời của họ” nhà nghiên cưu Josephine Mazzuca viện Gallup đã kết luận như vậy Ngoài ra việc tiếp xúc với BL gia đình, khủng bố, và các loại thuốc gây nghiện cũng là nguyên nhân tác động hiệu quả dẫn đến BL trong nhà trường.[6, tr.192-193]

Ở châu Âu, hiện tượng bắt nạt học đường xảy ra thường xuyên ở các trường tiểu học, liên quan tới 15% số học sinh Ở trung học cơ sở, tỷ lệ học sinh bị bắt nạt là từ 3% - 10%, với mức độ cao đột biến ở độ tuổi 13 – 14, khi các em học sinh bắt đầu tuổi dậy thì Đến cấp trung học phổ thông, nạn BL học đường bắt đầu có xu hướng giảm đi [6, tr.88] Như vây, có rất nhiều nguyên nhân và các yếu tố dẫn đến bạo lực đối với trẻ em trong trường học, khó có thể xác đinh được đâu là nguyên nhân và yếu tố chính dẫn đến bạo lực đối với trẻ em Những nguyên nhân và các yếu tố dẫn đến bạo lực đối với trẻ em có liên quan đến sự quản lý của nhà trường, ảnh hưởng của môi trường học đường, sự tiếp xúc với hình ảnh BL, tình dục ngoài xã hội và trong gia đình trẻ Sự phát triển, biến đổi tâm lý ở lứa tuổi của trẻ cũng là một trong những nguyên nhân, yếu

tố góp phần gây ra bạo lực đối với trẻ em

bạo lực đối với trẻ em được ghi nhận, báo cáo ở nhiều nước thuộc châu Á như ở Nhật Bản năm 2003, sách trắng về thanh thiếu niên thống kê 23.351 vụ bắt nạt trong các trường tiểu học và trung học công lập cùng với các trường khiếm thính, khiếm thị

và khuyết tật khác, con số này vượt hơn năm trước 1.046 vụ, tăng 5,16% Báo cáo của chính phủ Nhật Bản cho thấy tình trạng bắt nạt hiện rất phổ biến trong trường học mà

Trang 18

hầu hết học sinh từng trải qua hoặc là nạn nhân, hoạc là thủ phạm Ở Hàn Quốc, thống

kê cũng cho thấy gần 13,2% học sinh nam và 5,8% học sinh nữ từ lớp 4 đến lớp 12 bị các bạn cùng lớp đánh hoặc làm tổn thương Cuối tháng 2 năm 2007, Bộ Giáo dục Hàn Quốc cho biết: nạn BL học đường đã gia tăng ở nước này, 15,9% học sinh thú nhận từng “nếm mùi” BL ở trường học So với năm 2003, tỷ lệ học sinh bị bạn học đe dọa, trấn lột hoặc bắt nạt đều cao hơn gấp 2 – 3 lần Cũng ở Trung Quốc, ngày 15/05/2007, nhiều báo chí cũng đã đưa tin về một vụ học sinh trung học giết chết 2 người bạn và làm bị thương 4 người khác ngay sau giờ học [6, tr.186 – 187]

Tại châu Âu, vấn đề BL trong nhà trường được quan tâm từ rất sớm Ở Anh nạn

BL học đường nghiêm trọng tới mức số học sinh bị các trường đuổi học đã tăng 14% năm 2005 Năm 2006 hơn 1.000 trẻ chỉ mới 5 tuổi hoặc ít hơn bị đổi học vì BL gia tăng Các cuộc khảo sát cho thấy, số vụ BL học đường tại Đức có chiều hướng tăng mạnh trong thời gian gần đây, đặc biệt ngày càng có nhiều học sinh tiểu học tỏ ra

“hiếu chiến” Trung bình mỗi ngày các trường học ở nước này xảy ra khoảng 50 vụ gây gổ Ở Nam Phi, hơn 1/5 học sinh bị tấn công tình dục trong trường học Ủy ban Quyền con người Nam Phi cho biết 40% trẻ em được phỏng vấn tiết lộ các em là nạn nhân của BL học đường Hơn 1/4 các vụ xâm hại tình dục ở Nam Phi bị phát hiện tại trường học Bộ trưởng Bộ Giáo dục tiểu học bang Queensland, Úc cho biết, trong năm

2008 có 55.000 học sinh đã bị đình chỉ trong các trường học của nhà nước, gần 1/3 trong số đó được cho là có “hành vi sai trái về thể chất”

Theo thống kế của cơ quan của cơ quan quản lý giáo dục Mỹ, năm 2009 có 12,4% học sinh từng đánh nhau thậm chí gây thương tích nặng cho người khác tại trường học, và đáng sợ hơn có 5,9% mang theo vũ khí sát thương khi tới trường Những nghiên cứu gần đây tại Mỹ cho thấy cứ 7 phút lại có một trẻ em bị bắt nạt, cứ 4 trẻ lại có một trẻ thừa nhận đã bị bắt nạt và cứ 5 trẻ, có một trẻ thừa nhận đã từng bắt nạt trẻ khác [6, tr 185 – 195]

Một cuộc khảo sát kéo dài 12 tháng (2009) tại Mỹ cho thấy, 7,8% học sinh trung học báo cáo bị đe dọa hoặc bị thương ở trường học ít nhất một lần Trong 30 ngày kể từ ngày khảo sát, 5,5% sinh viên báo cáo rằng bởi vì họ không cảm thấy an toàn, họ đã không dám đến trường ít nhất một ngày Về tội phạm BL, có 7% GV (ở đô thị là 10%) là đối tượng

Trang 19

BL trong năm 2003 5% GV tại các trường trong đô thị bị tấn công Các thành viên khác của đội ngũ nhân viên trường cũng có nguy cơ bị tấn công BL, đặc biệt những người điều khiển xe buýt nhà trường dễ là mục tiêu của sự tấn công.[6, tr.195]

Tóm lại, bạo lực đối với trẻ em trong trường học, trước hết gây ra tình hình bất

ổn cho xã hội và gây mất an toàn trong môi trường học đường ở tất cả các nước trên thế giới, đồng thời xâm hại đến thể chất, đe dọa đến tính mạng của học sinh, GV và những người có liên quan BL học đường còn gây ra những tổn thương, những rối loạn tâm lý cho những trẻ là nạn nhận của BL Ngoài ra bạo lực đối với trẻ em gây ra tổn thất to lớn về tài chính, giá trị tinh thần của gia đình nạn nhân, bạo lực đối với trẻ em trong trường học khiến trẻ bị đuổi học, không dám đến trường hay nghỉ học, thâm chí dẫn đến tình trạng tự tử ở trẻ, ảnh hưởng đến sự hình thành, phát triển nhân cách và tương lai của trẻ

trẻ em trong trường học

Ở Mỹ kỷ luật học đường đã trở thành hiện tượng của năm 1977 khi BL thể chất đưa ra xét xử tại tòa án tối cao liên bang Các cuộc điều tra thăm dò dư luận của Viện Gallup khi đó đã chỉ ra rằng, cha mẹ coi kỷ luật là vấn đề cấp thiết nhất tại trường học, đại đa số ủng hộ việc sử dụng một cách hợp pháp các hình thức trừng phạt thân thể, chỉ chưa đến 20% không đồng tình việc áp dụng nó ở trường học [6, tr.192] Tại Bulgaria, Bộ trưởng Bộ Giáo dục trong năm 2009 đã đưa ra quy định chặt chẽ về hành

vi của người học, bao gồm cả việc ăn mặc không thích hợp, say rượu, mang điện thoại

di động vào lớp GV đã được trao thêm quyền hạn để trừng phạt những học sinh gây rối Ba Lan, trong năm 2006, Bộ trưởng Bộ Giáo dục Ba Lan, Roman Giertych, đưa ra một chương trình cải cách không khoan dung Theo kế hoạch này, GV sẽ có tư cách pháp lý để giải quyết tình hình tội phạm học đường và trừng phạt nghiêm khắc hơn những tội phạm BL chống lại GV Những GV không báo cáo tình trạng gây hấn trong học đường có thể phải đối mặt với án tù giam [6, tr190]

Để ngăn chặn nạn BL học đường, ở Hàn Quốc cùng với việc thi hành luật, người dân nước này cũng đã tham gia nhiều cuộc vận động nâng cao nhận thức về BL học đường, tư vấn cũng như các biện pháp khác nhằm hỗ trợ các nạn nhân là học sinh Hệ

Trang 20

thống cảnh sát học đường cũng được tăng cường để chiến đấu với nạn BL học đường đang gia tăng và ngăn chặn tội phạm vị thành niên Hơn 70 trường học Hàn Quốc đã áp dụng hệ thống này nhằm xóa sổ BL học đường Tại một số nước châu Á hệ thống cảnh sát học đường được tăng cường, công việc của những cách sát này là giám sát BL trường học,

tư vấn cho học sinh, phụ huynh và GV đồng thời bảo vệ các nạn nhân [6, tr.188]

Ở Đức, nhằm hạn chế tình trạng BL học đường, từ sau vụ tấn công ở thành phố Erfurt năm 2002, đã quy định độ tuổi được phép sử dụng súng cho mục đích giải trí, thể thao… tăng thêm 3 tuổi lên mắc 21 tuổi Các nhà sản xuất trò chơi máy tính cũng được yêu cầu giới hạn các nhóm tuổi cho mỗi cho chơi Vấn đề BL học đường đang gióng lên một hồi chuông cảnh báo nước Đức, buộc nước này phải thắt chặt các điều luật về sử dụng súng cũng như các trò chơi game BL trong giới trẻ [6, tr.190 – 191] Ông Erich Marks, Chủ tịch Ủy ban Quốc hội Đức về phòng chống tội phạm, nhấn mạnh: “Chúng ta cần xem xét, phân tích cẩn thận từng sự kiện, từng chi tiết, từng vấn đề và từng biểu hiện nhỏ để ngăn chặn tận gốc những vụ BL học đường Chúng ta không cần có thêm nhiều luật Chúng ta cũng không cần một hệ thống an ninh riêng ở trường học, bởi trường học là trường học, không phải pháo đài Chúng ta cũng không cần thảo luận xem có nâng mức hình phạt đối với người phạm tội hay không, mà cần

có những trường học tốt với những sân chơi thể thao, những hình thức giải trí lành mạnh Toàn thể xã hội cần quan tâm nhiều hơn đến giới trẻ”

Nhằm hạn chế tình trạng bạo lực đối với trẻ em trong trường học, một số nước đã ban hành luật cấm trừng phạt trẻ em trong nhà trường Những tranh cãi xung quanh chủ đề trừng phạt trẻ em ở trường học luôn mang tính quốc tế Ở Thụy Điển, người ta

đã tranh luận một cách rộng rãi và sôi nổi về dự thảo luật cấm đánh đập trẻ em và nghiêm cấm cha mẹ lăng mạ hoặc ngược đãi dẫn đến mức trẻ rối loạn tinh thần Mặc

dù dự luật vấp phải sự phản đối dữ dội, tuy nhiên ở Thụy Điển, việc trừng phạt thân thể trẻ em ở trường học đã bị coi là bất hợp pháp từ lâu Trong khi đó, ở Hoa Kỳ, hiện nay mới chỉ có 8 bang ban hành luật tuyệt đối cấm trừng phạt thân thể trong trường học Chỉ 6 trong số 8 bang này bảo vệ trẻ em sống tại các nhà nuôi dưỡng, những trung tâm chăm sóc trẻ hay trường học [6, tr.196]

Trang 21

Một nghiên cứu gần đây của Buddhiprabha D D Pathirana (2006) đã tiến hành

“Một cuộc điều tra về BL sớm - và hành vi hành vi gây hấn ở trẻ em mầm non tại Sri Lanka đến xác định can thiệp thích hợp của GVMN” Nghiên cứu được tiến hành khảo sát 275 GVMN từ 18 huyện, 23 cuộc phỏng vấn GVMN và các quan sát hoạt động giáo dục trẻ em trong bốn TMN khác nhau, đánh giá tài liệu văn bản hơn 300 tạp chí bài báo và sách Dựa trên kết quả nghiên cứu, các tác giả đã xây dựng 14 mô-đun giảng dạy kỹ năng cho GVMN Sri Lanka nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu BL sớm, hành vi gây hấn và thúc đẩy hành vi xã hội ở trẻ em mầm non, để tạo ra một môi trường không BL trong các TMN[22]

Tóm lại, những hậu quả to lớn của bạo lực đối với trẻ em trong trường học vẫn tiếp diễn, do tính chất phức tạp của các nguyên nhân và yếu tố dẫn tới bạo lực đối với trẻ em trong trường học, vì vậy, đó khó có thể đưa ra được một biện pháp triệt để có thể giải quyết “vấn nạn” bạo lực đối với trẻ em trong trường học trên toàn thế giới Qua nghiên cứu cho thấy, kinh nghiệm giải quyết “vấn nạn” bạo lực đối với trẻ em trong nhà trường

ở các nước trên thế giới với nhiều biện pháp, cách thức, chiến lược khác nhau như: xây dựng khung pháp lý liên quan đến BL, giảng dạy và tập huấn các kỹ năng phong ngừa

và giàm thiểu BL…, nhưng vẫn chưa đạt được kết quả như mong muốn Việc nghiên cứu tìm kiếm các biện pháp, cách thức hay chiến lược phòng ngừa và giải quyết “nạn” bạo lực đối với trẻ em trong trường học cần được tiến hành phù hợp với đặc điểm của từng nền văn hóa, nền giáo dục, các bậc học, lứa tuổi của trẻ ở các quốc gia luôn trở nên cấp thiết

Từ tổng quan tài liệu, chúng tội nhận thấy các nghiên cứu, báo cáo về bạo lực đối với trẻ em trong trường học phổ biến ở các bậc học tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông và đại học, có rất ít tài liệu, báo cáo đề cập đến tình trạng bạo lực đối với trẻ em trong TMN Vì vậy, vấn đề bạo lực đối với trẻ em trong TMN, được chúng tôi lựa chọn nghiên cứu phù hợp với chuyên ngành tâm lý học và mang ý nghĩa về mặt

lý luận và thực tiễn

1.1.2 Các nghiên cứu về bạo lực đối với trẻ em trong trường mầm non ở Việt Nam

Bạo lực đối với trẻ em trong trường học hiện nay tại Việt Nam trở thành chủ đề được bàn luận sôi nổi trên các phương tiền truyền thông đại chúng nhất là những

Trang 22

trường hợp bạo lực đối với trẻ em của GV trong TMN, đã và đang trở thành mối quan tâm lớn của toàn xã hội Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề bạo lực đối với trẻ em trong trường học nói chung và bạo lực đối với trẻ em trong TMN nói riêng còn khá khiêm tốn

Hơn 10 năm trở lại đây, các nghiên cứu nhỏ lẻ tập trung đến vấn đề gây hấn và hành vi lệch chuẩn của trẻ em, của thanh thiếu niên, trong phạm vi trường học của học sinh như: Hung tính của trẻ em của tác giả Phạm Mạnh Hà, Hoàng Gia Trang (2002), Ảnh hưởng của nhóm bạn không chính thức đến hành vi phạm pháp của trẻ vị thành niên của tác giả Mã Ngọc Thể (2004), Một vài hiện tượng tiêu cực trong thanh niên hiện nay và công tác giáo dục vận động thanh niên của tác giả Lê Ngọc Dung, Hồ Bá Thông, (2004), Tìm hiểu những hành vi sai lệch chuẩn mực xã hội của học sinh trường PTTH Dân lập Đinh Tiên Hoàng của tác giả Nguyễn Thị Phượng (2006), Ảnh hưởng của gia đình tới hành vi hung tính của trẻ của tác giả Hoàng Gia Trang (2006), sách Giáo dục hay Xâm hại – Nghiên cứu về trừng phạt thân thể và tinh thần trẻ em tại Việt Nam do nhiều tác giả viết (2007), Cách thức cha mẹ quan hệ với con và hành vi lệch chuẩn của trẻ của tác giả Lưu Song Hà (2008) Những nghiên cứu này được tiếp cận nghiên cứu từ góc độ tâm lý, xã hội và giới tính, kết quả nghiên cứu bước đầu phản ánh tình trạng gây hấn, những hành vi lệch chuẩn và BL giữa GV với học sinh và giữa học sinh với học sinh trong trường học hiện nay diễn ra với nhiều mức độ, hình thức khác nhau [dẫn theo 6, tr.199]

Theo thống kê chưa đầy đủ, từ năm 2005 đến năm 2008, tổng số vi phạm pháp luật hình sự trong học sinh, sinh viên khoảng hơn 8.000 trường hợp, trong đó các hành

vi đánh nhau gây rối trật tự công cộng hơn 2000 trường hợp; 815 trường hợp tội phạm

ma túy; 83 vụ giết người; 1.372 vụ cướp tài sản; 1.117 vụ xâm hại sức khỏe, tính mạng Nỗi đau đạo đức còn thể hiện ở nhiều hành vi phổ biến trong học sinh như BL trong nhà trường, hành hung thầy, cô giáo, vô cảm, thờ ơ trước nỗi đau của người khác, không dám đấu tranh với cái sai…[6]

Nghiên cứu của Lê Cự Linh về “BL trong thanh thiếu niên Việt Nam: một kết quả từ hai vòng điều tra quốc gia” cho thấy 4.3% nam thanh thiếu niên thành thị và 2% nam thanh thiếu niên nông thôn đã từng gây ra thương tích cho người khác, tỷ lệ ở nữ

Trang 23

giới lần lượt ở mức 0.6% và 0.2% Nghiên cứu đã chỉ ra một số yếu tố của nguy cơ BL có liên quan đến giới tính, vị thành niên say rượu bia, và một số hành vi có hại khác [11]

BL trong trường học không chỉ diễn ra giữa các học sinh nam, tình trạng này xảy

ra cả với nữ sinh Năm 2008, một cuộc khảo sát tại 2 trường THPT thuộc quận Đống

Đa, Hà Nội do khoa Xã hội học, trường đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, ĐHQG

Hà Nội tiến hành, cho thấy tình trạng BL nữ sinh có kết quả đáng lo ngại, có đến 96,7% số học sinh trong mẫu được hỏi cho rằng, ở trường các em có hiện tượng nữ sinh đánh nhau, 64% các em nữ thừa nhận đã từng có hành vi đánh nhau với các bạn khác, 45,3% học sinh cho rằng đó là bình thường, 30,7% trả lời có thể chấp nhận được, 24% học sinh không chấp nhận hành vi BL ở nữ sinh

Cuộc khảo sát do báo Pháp luật Thành phố HCM thực hiện tại 10 trường học trên địa bàn TP HCM với 250 phiếu điều tra, kết quả có 64% học sinh cho biết đã từng nhìn thấy các nữ sinh đánh nhau trong khuôn viên trường 67% học sinh chọn giải pháp tích cực khi nhìn thấy bạn bè đánh nhau là can ngăn bạn, gọi người lớn can thiệp…, 2,6% học sinh cổ vũ khi nhìn thấy bạn đánh nhau, lý giải việc không can ngăn khi bạn đánh nhau, 54% các em gái giải thích sợ bị trả thù, hoặc “chuyện riêng của ai, người đó tự giải quyết”

Nghiên cứu của nhóm tác giả Nguyễn Thị Phương Thảo, Đặng Bích Thủy, Trần Thị Vân Anh về “Bạo hành đối với em gái trong môi trường học đường” cho thấy bạo hành xảy ra đối với nữ sinh ở tất cả các cấp học với các mức độ khác nhau Các hình thức bạo hành diễn ra đối với nữ sinh là khá đa dạng, từ thể chất, vật chất tới tâm lý, tình cảm Nghiên cứu đã tập trung vào một số yếu tố chính và liên quan đến các nhóm

xã hội có tác động trực tiếp và quan trọng nhất đối với vấn đề bạo hành ở môi trường học đường là GV, học sinh, phụ huynh và các đoàn thể xã hội [15]

Một số công trình nghiên cứu về BL học đường của các tác giả như: Nguyễn Thị Thùy Dung (2012), nhận thức của học sinh trường THPT Nguyễn Trường Tộ (thành phố Vinh – Nghệ An) về vấn đề BL học đường Nguyễn Thị Hương (2011), nghiên cứu hành vi BL ở học sinh thiếu niên với bạn cùng lứa, Lê Thị Quyên (2011), tìm hiểu nguy cơ BL học đường của học sinh THPT Nguyễn Thị Nga (2011), tìm hiểu hiện tượng bị bắt nạt ở học sinh phổ thông Nguyễn Thị Minh Sao (2011), một số yếu tố tác

Trang 24

động tới BL học đường, cho thấy mức độ, các hình thức bạo lực đối với trẻ em ở các bậc học tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông diễn ra với niều mức độ và hình thức khác nhau với các nguyên nhân khác nhau và đã để lại những hậu quả nhất định cho trẻ em Các đề tài bước đầu đã đề xuất một số biện pháp nhằm hạn chế bạo lực đối với trẻ em trong nhà trường hiện nay

Tác giả Trịnh Viết Then đã nghiên cứu về “xây dựng thang đo hành vi bạo lực đối với trẻ em của GV trong nhà TMN”, tác giả tiến hành điều tra 118 GV đang giảng dạy tại các TMN công lập và ngoài công lập trên địa bàn thành phố HCM và phân tích

số liệu bằng phần mềm SPSS để kiểm tra tính hiệu lực và độ tin cậy của thang đo Kết quả nghiên cứu, tác giả đã xây dựng được thang đó hành vi bạo lực đối với trẻ em của

GV trong TMN bao gồm những hành vi BL về thể chất và tinh thần đối với trẻ Ngoài

ra tác giả còn đề xuất hướng áp dụng nghiên cứu của thang đó trong nghiên cứu hành

vi bạo lực đối với trẻ em của GV trong nhà TMN [18]

Trong thời gian qua, trên các phương tiện truyền thông đại chúng đã đưa khá nhiều hình ảnh, những video về bạo lực đối với trẻ em trong nhà TMN, đồng thời những chuyên gia tâm lý, giáo dục, nhà quản lý đã đưa ra nhiều ý kiến, bàn luận, phát biểu xoay quanh vấn đề này nhằm phân tích những nguyên nhân, hậu quả và đề xuất các biện pháp đối với

GV, nhà trường, ngành giáo dục, gia đình và xã hội nhằm giải quyết tình trạng bạo lực đối với trẻ em trong TMN Tuy nhiên, những nghiên cứu chuyên sâu cả về mặt lý luận và thực tiễn về vấn đề bạo lực đối với trẻ em trong nhà TMN ở Việt Nam hiện vẫn còn khá khiêm tốn, và chưa được quan tâm nghiên cứu một cách bài bản

1.2 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến vấn đề nghiên cứu

1.2.1 Khái niệm bạo lực đối với trẻ em

1.2.1.1 Khái niệm về bạo lực

Bạo lực là một thuật ngữ rộng, tùy theo cách tiếp cận nghiên cứu, mỗi tác giả đưa ra khái niệm khác nhau Theo từ điển tiếng Anh – Việt: “Violence’ được dịch là “BL” có nghĩa là BL, sự dữ dội, tính hung bạo, xúc phạm mạnh Theo tổ chức y tế thế giới (WHO):

“BL là việc đe dọa, dùng sức mạnh thể chất hay quyền lực đối với bản thân, người khác hoặc đối với một nhóm người hay một cộng đồng người mà gây ra hay làm tăng khả năng gây tổn thương, tử vong, tổn hại về tâm lý, ảnh hưởng đến sự phát triển” [14]

Trang 25

Khái niệm BL vẫn thường được hiểu theo nghĩa hẹp của ngành Chính trị học BL được hiểu với tính chất của một phương thức vận động chính trị, được sử dụng để giành chính quyền, duy trì và sử dụng quyền lực nhà nước Theo từ điển Tiếng Việt

2003: “BL là sức mạnh dùng để trấn áp, lật đổ”, theo đại từ điển Tiếng Việt 1998 thì:

“BL là sức mạnh dùng để trấn áp, chống lại lực lượng đối lập, lật đổ chính quyền”

Có thể nói BL là một hiện tượng xã hội Nó là một phương thức hành xử trong các mối quan hệ giữa con người với con người và tồn tại rất lâu trong lịch sử Với bản chất là

sử dụng sức mạnh trong các mối quan hệ xã hội, BL có thể là những hình thức chém giết, đánh đập, gây đầu rơi máu chảy, nhưng cũng có thể là cưỡng bức, trấn áp, đe dọa

về mặt tâm lý, tinh thần gây hoang mang, lo sợ cho nạn nhân [16], [18]

Một số tác giả cho rằng: BL là hành xử phi nhân tính, chúng là hành vi bất bình thường nhân văn [dẫn theo 10] Hay BL là dùng sức mạnh, quyền lực, hay các hành động khác để đe dọa, cưỡng bức, xúc phạm… làm tổn hại đến thể chất, tinh thần, vật chất của người khác [14] Có thể thấy, BL xảy ra dưới nhiều hình thức như: hành hạ, đánh đập người khác, chửi bới, quấy rối, lạm dụng tình dục làm tổn thương đến cơ thể, tình cảm, tâm lý, sự tiến bộ của con người

Như vậy có thể hiểu một cách chung nhất khái niệm BL là cá nhân hay nhóm

người sử dụng sức mạnh, quyền lực hay các hành động khác để đe dọa, cưỡng bức, xúc phạm… làm tổn hại đến thể chất, tinh thần và vật chất cho cá nhân hoặc những người có liên quan

1.2.1.2 Khái niệm về bạo lực đối với trẻ em

Khái niệm trẻ em là một khái niệm mang tính lịch sử, mỗi thời đại khác nhau đều

có những quan niệm khác nhau Tác giả Nguyễn Hữu Long quan niệm “Trẻ em vừa là trẻ em, vừa là người lớn đang hình thành Sự khác biệt về tâm, sinh lí giữa trẻ em và người lớn vừa về lượng, vừa về chất” Theo tác giả Tăng Thị Tuyết cho rằng: “Trẻ em là những người còn non nớt, ở độ tuổi dưới 16 tuổi, chưa phát triển đầy đủ về thể chất, tinh thần Trẻ em vừa là trẻ em, vừa là người lớn đang hình thành Do đó, trẻ em cần có được

sự chăm sóc, giáo dục vào bảo hộ của gia đình và xã hội” [16] Theo luật pháp Việt Nam, trẻ em được qui định là những công dân Việt Nam dưới 16 tuổi [12]

Trang 26

BL trẻ em là một cụm từ xuất hiện trên các phương tiện thông tin đại chúng và được sử dụng chính thức trong các văn bản quốc tế về quyền Trẻ em Tại điều 19

(Công ước quốc tế về quyền Trẻ em năm 1989) đưa ra quan điểm: “BL trẻ em đó là

mọi hình thức BL về thể xác và tinh thần, gây tổn thương hay xúc phạm, bỏ mặc hoặc sao nhãng trong việc chăm sóc, ngược đãi hoặc bóc lột, kể cả về xâm hại tình dục”

Ở nước ta hiện nay, hành vi BL trẻ em được hiểu là những hành vi – vi phạm chuẩn mực đạo đức trái với luân thường đạo lý và truyền thống tốt đẹp của dân tộc, ở mức độ cao hơn có thể cấu thành các tội bức tử, giết người, cố ý gây thương tích, làm nhục người khác… BL trẻ em cũng có thể được hiểu là những hành vi xâm hại một cách thô bạo tới thân thể, đời sống tâm lý trẻ em thông qua các hình thức biểu hiện cụ thể như: đánh đập, ngược đãi, hành hạ, lạm dụng, bóc lột, sỉ nhục…Xét về tình cảm, mức độ của hành vi xâm hại trẻ em cho thấy, một hành vi chỉ được coi là BL khi diễn

ra một cách thường xuyên Những hành động có tính chất thi thoảng, kể cả đấm đá, tát tai, nếu không nghiêm trọng đến sức khỏe, tâm lý đều không thể coi là BL Tuy nhiên, nếu quan niệm như vậy thì dường như những hành vi BL đã được bỏ qua, được tha thứ Do đó, những hành vi có thể ít xảy ra nhưng gây tổn thương nghiêm trọng hoặc có nguy cơ gây tổn thương nghiêm trọng đến sức khỏe, tinh thần của trẻ em cũng được coi là BL [16]

Từ những phân tích về đặc điểm trẻ em và những lí luận nêu trên có thể hiểu một

cách khái quát về bạo lực đối với trẻ em như sau: “bạo lực đối với trẻ em là những

hành vi trực tiếp xâm hại hoặc đe dọa đến sự phát triển bình thường về thể chất, tâm

lý của trẻ em, từ đó gây ra những hậu quả xấu cho trẻ em, gia đình và xã hội”

1.2.2 Khái niệm bạo lực đối với trẻ em trong trường mầm non

1.2.2.1 Khái niệm bạo lực trong trường học

Theo tác giả Trần Thị Minh Đức, ngoài thuật ngữ khoa học sử dụng theo nghĩa rộng nhằm chỉ việc làm tổn thương người khác về thể chất, tinh thần một cách cố ý (ngay cả khi không đạt được mục đích) trong lĩnh vực học đường là “gây hấn học đường”, trong tâm lý học xã hội người ta dùng thuật ngữ chuyên hơn là “bắt nạt học đường” để chỉ hiện tượng học sinh lớn hơn, mạnh hơn đe dọa học sinh yếu hơn và không có khả năng chống trả Trong khuôn khổ mối quan hệ chính thức giữa trường

Trang 27

học (GV) và học sinh người ta có thể dùng từ “trừng phạt học đường” Thuật ngữ ngoài đời chung nhất, quen gọi nhất là “BL học đường” Ngoài ra sự “xâm hại học đường” đôi khi cũng được xử dụng cho đối tượng học sinh nhỏ, là trẻ em bị xâm hại bởi người lớn… tùy vào từng tình huống cụ thể , ngữ cảnh và thói quen sử dụng từ ngữ, tất cả đều xoay quanh bản chất chung nhất của hành vi là “làm hại, gây tổn thương về thể chất, tình thần cho học sinh một cách cố ý” [6, tr.182]

Một số nghiên cứu của các tác giả trong nước và nước ngoài đề cập đến vấn đề BL học đường từ các góc độ nghiên cứu khác nhau đã đưa ra các định nghĩa khác nhau:

BL học đường là một dạng hành vi lệch chuẩn của học sinh [13] BL học đường

là những hành vi sai lệch vừa có tính chủ động vừa có tính thụ động của học sinh trong môi trường học đường hoặc những hành vi của lứa tuổi học đường Nó bao gồm một loạt các hành vi BL giữa GV với học sinh và ngược lại, giữa học sinh với nhau gây tổn hại nghiêm trọng tới tính mạng, danh dự và nhân phẩm của người bị hại [7]

BL học đường là một thuật ngữ để chỉ những hành vi BL trong môi trường học đường, hoặc những hành vi BL của lứa tuổi học đường Bao gồm trong thuật ngữ này là hàng loạt các hành vi BL với các mức độ khác nhau, từ không lời đến có lời, từ hành động đơn giản đến những hành động thù địch, gây hấn, phá phách, gây tổn thương thâm chí tổn hại đến người khác [8 tr.8] BL học đường là một thuật ngữ dùng để chỉ các hành vi làm tổn hại đến thể chất, tinh thần và vật chất của người khác, dưới những hình thức khác nhau diễn ra trong môi trường học đường [14] BL học đường là hành vi cố ý của học sinh

và GV diễn ra trong hay ngoài phạm vi nhà trường mà gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với học sinh hay GV khác [5]

Bất kỳ hành vi nào vi phạm một nhiệm vụ giáo dục của nhà trường hoặc môi trường học đường, gây nguy hiểm cho mục đích của nhà trường: Xâm lược, chống lại người hoặc tài sản, ma túy, vũ khí, gián đoạn và gây rối loạn [23] BL học đường là những BL xảy ra trong trường học bao gồm: Bằng lời nói, thể chất, tình dục, BL tâm

lý, BL liên quan đến tài sản…[26]

Như vậy, theo cách hiểu của chúng tôi và trong luận văn này, chúng tôi coi BL

học đường hay BL trong trường học được hiểu đó là những hành vi BL được tiến hành trong môi trường học đường giữa GV với học sinh, giữa học sinh với học sinh hoặc

Trang 28

học sinh với lực lượng giáo dục có liên quan khác, gây ra những tổn hại về thể chất, tinh thần và vật chất cho người bị hại

Từ những định nghĩa trên chúng ta thấy có một số điểm chung: Trước hết, những hành vi BL được hiểu là những hành vi được tiến hành trong môi trường học đường Thứ hai, hành vi BL được tiến hành giữa GV với học sinh hoặc học sinh với học sinh hay học sinh với các lực lượng giáo dục có liên quan trong nhà trường Thứ ba, những hành vi BL được tiến hành với nhiều hình thức khác nhau từ lời nói cho đến hành động Thứ tư hành vi BL gây ra những tổn hại về thể chất, tinh thần và vật chất

1.2.2.2 Khái niệm bạo lực đối với trẻ em trong trường mầm non

Ở Việt Nam, nhà TMN nuôi dương, chăm sóc và giáo dục trẻ từ 3 tháng tuổi đến

6 tuổi [3] Hoạt động lao động của GV tại các TMN có những đặc thù riêng về đối tượng, nội dung, thời gian giảng dạy và các đặc điểm khác nảy sinh trở thành những nguyên nhân, yếu tố tác động đến GV đến trẻ làm nảy sinh những mức độ bạo lực đối với trẻ em khác nhau trong TMN

Khi xảy ra những bạo lực đối với trẻ em trong nhà TMN, thông thường trẻ em là đối tượng bị động chịu sự tác động của các hành vi BL, còn chủ thể tiến hành hành vi

BL là những GV, bảo mẫu, người quản lý, nhân viên và cả những hành vi BL giữa các trẻ em với nhau Trong giới hạn nghiên cứu đề tài này, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu bạo lực đối với trẻ em trong TMN có liên quan trực tiếp đến GVMN, bởi GV là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dương, giáo dục trẻ và trực tiếp chịu trách nhiệm trong mọi hoạt động có liên quan đến trẻ tại lớp, tại trường

Theo cách hiểu trên, chúng tôi xem bạo lực đối với trẻ em trong TMN là những

hành vi trực tiếp hay gián tiếp của GV xâm hại hoặc đe dọa đến sự phát triển về thể chất, tâm lý của trẻ em, gây ra những hậu quả xấu cho trẻ, nảy sinh do sự tác động của các nguyên nhân, yếu tố đến GV trong hoạt động nghề nghiệp, ảnh hưởng đến hoạt động giáo dục của nhà trường, gia đình và xã hội

Một số điểm chúng ta cần lưu ý khi đề cập đến khái niệm bạo lực đối với trẻ em trong TMN, đó chính là do đặc thù hoạt hoạt động nghề nghiệp, có rất nhiều nguyên nhân, yếu tố tác động đến GVMN, tuy nhiên không phải bất kỳ nguyên nhân, yếu tố nào tác động đến GV cũng đều xảy ra hành vi bạo lực đối với trẻ em Tùy thuộc vào

Trang 29

cách nhìn nhận, đánh giá cá nhân đối với những nguyên nhân, yếu tố tác động đến GV làm nảy sinh những hành vi bạo lực đối với trẻ em là khác nhau ở mỗi GVMN dẫn đến mức độ bạo lực đối với trẻ em trong TMN là khác nhau Khi nghiên cứu về bạo lực đối với trẻ em trong TMN, chúng tôi chú ý làm rõ các vấn đề: mực độ, các hình thức bạo lực đối với trẻ em trong TMN, các nguyên nhân dẫn đến bạo lực đối với trẻ em trong TMN, hậu quả của bạo lực đối với trẻ em, tìm hiểu sự tác động của một số yếu tố cá nhân của GV đến mức độ bạo lực đối với trẻ em trong TMN

1.3 Các hình thức bạo lực đối với trẻ em trong trường mầm non

Một số tác giả khi đề cập đến BL trong nhà trường hay BL học đường đã phân chia thành các hình thức như: BL tinh thần, BL thể chất, BL về kinh tế và BL tình dục Tác giả Dương Thị Thùy Dung (2012) khi tiến hành nghiên cứu nhận thức của học sinh THPT Nguyễn Trường Tộ (thành phố Vinh – Nghệ An) về vấn đề BL học đường, cho rằng BL học đường về tinh thần là loại hình thức BL không sử dụng vũ lực, tác động lên tinh thần nạn nhân, bao gồm: mắng chửi, lăng mạ, miệt thị; bỏ rơi không quan tâm, cô lập, tránh giao tiếp với nạn nhân; để nạn nhân luôn lo lắng, trạng thái tinh thần bất an, sống trong bầu không khí bị đe dọa hoặc bị lăng mạ với những lời

lẽ mạt sát; bị xúc phạm khiến nạn nhân ngộ nhận, bị mất đi niềm tin vào chính bản thân mình, buộc họ phải tin rằng họ bị hành hạ như thế là đúng; chụp ảnh, quay phim cảnh làm nhục nạn nhân phát tán trên Internet, trên điện thoại…, đáng chú ý là loại bạo hành ngôn ngữ Bạo hành về mặt thể chất là loại BL có sử dụng vũ lực, tác động trực tiếp lên thân thể nạn nhân, bao gồm: những hành vi dùng sức mạnh bản thân để tấn công nạn nhân (đấm đá, bạt tai, làm gãy xương, bầm dập…); những hành vi dùng các loại vật dụng công cụ để đánh đập gây tổn thương về mặt cơ thể (roi, gậy, ghế gộc, lưỡi lam…) BL về mặt kinh tế là hình thức BL có sử dụng vũ lực, sử dụng ngôn ngữ tác động trực tiếp lên nạn nhân để cướp đoạt về vật chất, bao gồm: uy hiếp, cướp giật các đồ vật có giá trị (tiền, điện thoại, đồng hồ…); bắt buộc “nộp phí” (tiền) hàng ngày (hay hàng tuần, hàng tháng…) [5, tr.17-18]

Theo tác giả Lê Thị Quyên (2011), BL học đường bao gồm hình thức BL tâm lý, tình cảm gồm những hành động, lời nói, cử chỉ mang tính chất xúc phạm, dọa nạt, mắng

mỏ, gây áp lực, buộc làm những việc mà các em không muốn và các quan niệm gây ra những hậu quả xấu về mặt tâm lý, tình cảm BL về thể chất bao gồm những hành động

Trang 30

dùng tay, chân hoặc các vật dụng xâm hại đến người khác trong trường học có thể gây tổn thương về thân thể hoặc làm tổn thương về tâm lý BL về vật chất, là những hành động gây thiệt hại về đồ dùng, trang phục, phương tiện đi lại, tiền của cho học sinh, hình thức BL về vật chất thường hay xảy ra giữa học sinh trong trường với nhau BL về tình dục bao gồm những hành động quấy rối tình dục và lạm dụng tình dục [14]

Nguyễn Thị Minh Sao (2011) đưa ra các hình thức BL học đường chủ yếu bao gồm: BL về thể chất gồm các hành vi sử dụng vũ lực làm tổn thương một ai đó, cụ thể như: xô đẩy, đánh đập, đấm, đá,… hoặc dùng các công cụ để gây thương tích như roi, gậy, các vật dụng khác,… BL về tinh thần, bao gồm các hành vi như: Đe dọa làm người khác sự hãi; dọa nạt bạn bằng lời nói; hét lên, cao giọng, lớn tiếng quát tháo với bạn; chế nhạo hoặc chỉ trích, mắng chửi bạn, làm mất thanh thế của bạn và gia đình bạn; buộc tội sai cho bạn, đổ oan, vu cáo bạn; bới móc và nói ra những lỗi của bạn; tung tin đồn thất thiệt,… BL về tình dục là việc buộc người khác tham gia vào các hành vi tình dục, có nhiều hình thức như: làm nhục bằng lời nói với các từ mang tính chất tình dục, bị buộc phải hôn nhau, tiếp xúc với những cảnh tình dục, ; cưỡng ép bạn quan hệ tình dục; đối xử với bạn như một đối tượng tình dục, cưỡng ép bạn xem sách báo khiêu dâm; săn lùng bạn vì mục đích tình dục,…[15]

Theo tác giả Tăng Phương Tuyết (2011) cho rằng bạo lực đối với trẻ em bao gồm các hình thức: BL trẻ em về thể chất như: hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc hành vi

cố ý khác xâm hại đến sức khỏe, tính mạng của trẻ em; cưỡng ép quan hệ tình dục; cưỡng ép trẻ em lao động quá sức, đóng góp tài chính quá khả năng của trẻ; kiểm soát thu nhập của trẻ nhằm tạo ra tình trạng phụ thuộc về tài chính BL trẻ em về tinh thần như: lăng mạ hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm trẻ em; cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên đối với trẻ về tâm lí gây hậu quả nghiêm trọng; ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa anh chị, em với nhau; cưỡng ép tảo hôn; cưỡng ép kết hôn, li hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ [16]

Tổ chức y tế thế giới đã đưa ra hệ thống loại hình BL tự thân, BL giữa các cá nhân và BL tập thể [21]:

Trang 31

Hình 1.1 Các loại hình bạo lực

Theo Công ước quốc tế về quyền Trẻ em năm 1989 tại điều 19 đưa ra quan điểm:

“Các quốc gia thành viên phải thực hiện tất cả các biện pháp lập pháp, hành chính, xã hội và giáo dục thích hợp để bảo vệ trẻ em khỏi tất cả các hình thức BL về thể chất hoặc tinh thần, bị thương tổn hay lạm dụng, bị bỏ mặc hoặc sao nhãng việc chăm sóc,

bị ngược đãi hoặc bóc lột, gồm cả lạm dụng tình dục trong khi trẻ em vẫn nằm trong vòng chăm sóc của cha mẹ hoặc cả cha lẫn mẹ, một hay nhiều người giám hộ pháp lý, hoặc của bất kỳ người nào khác được giao việc chăm sóc trẻ em” Như vậy, theo quan điểm này thì bạo lực đối với trẻ em được chia thành 4 loại: BL về thể chất; chểnh mảng trầm trọng trong chăm sóc; BL tâm lý; hành hạ tình dục [1]

Trong TMN, trẻ em tham gia vào các mối quan hệ với GV, bảo mẫu, trẻ với trẻ,

và trẻ với các lực lượng giáo dục khác trong nhà trường BL đối với trẻ trong nhà TMN có thể xảy ra giữa GV, bảo mẫu đối với trẻ, giữa trẻ đối với trẻ, giữa các lực lượng khác đối với trẻ em, và những hành vi BL do chính trẻ gây ra cho bản thân (tự té ngã, tự gây thương tích…), theo quy định về nhiệm vụ của GV trong hoạt động nghề nghiệp là, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ, vì vậy, mọi hình vi BL đối với trẻ GV đều có trách nhiệm, theo quan điểm của chúng tôi, căn cứ vào mối quan hệ có thể chia những hành vi BL của GV đối với trẻ thành những hình thức BL trực tiếp (GV trực

Trang 32

tiếp gây ra cho trẻ) và những hình thức BL gián tiếp (hành vi BL giữa trẻ đối với trẻ, hành vi BL do các lực lượng khác đối với trẻ, hành vi BL do trẻ tự gây ra cho trẻ), căn

cứ vào tính chất của hành vi, những hành vi BL đối với trẻ có thể chia ra 2 hình thức

BL chính đối với trẻ trong TMN bao gồm hình thức BL về thể chất và hình thức BL về tinh thần

- Các biểu hiện của hình thức BL về thể chất: Để trẻ bị bạn đánh, đập, tát, đấm, đá, giựt tóc, cào cấu, cắn… khi chơi; Dùng những vật sắc nhọn như kim khâu, đinh, kéo…

để hành hạ trẻ; Bắt trẻ ăn quá nhanh khiến trẻ ói mửa, khóc lóc; Đụng chạm hoặc sờ

mó chỗ nhạy cảm trên cơ thể trẻ; Bắt trẻ ăn lại thức ăn trẻ lôn mửa (ói) ra khi cho trẻ ăn; Có những hành động như tát, bẹo, tét vào tay, chân, mông đít, người mỗi khi trẻ mắc lỗi; Dùng những hình phạt như bắt đứng góc lớp, không cho đồ chơi, bắt trực vệ sinh lớp… đối với trẻ khi trẻ mắc lỗi; Để trẻ bị bạn ném đồ chơi gây tổn thương; Để trẻ bị nhóm bạn chọc ghẹo, đánh đập trong lớp, trong trường; Trẻ tự té ngã, va đập gây tổn thương trong khi hoạt động tại trường; Để trẻ bị bạn thực hiện hành động bất ngờ làm té ngã: xô, đẩy…trong trường, lớp học; Để trẻ bị bạn xúi giục đánh nhau trong lớp; Để trẻ bị cán bộ trong trường (bảo vệ, lao công, nhân viên, quản lý ) đánh đập, hành hạ; Để trẻ bị phụ huynh đánh đập, hành hạ khi đến trường; Để trẻ bị phụ huynh trẻ khác đánh đập, hành hạ trong trường; Để trẻ bị người ngoài trường đánh đập, hành

hạ trong trường

- Các biểu hiện của hình thức BL về tinh thần: Cô lập trẻ, không được chơi trong nhóm bạn khi trẻ mắc lỗi; La mắng, hù dọa, chửi bới (nói tục) trẻ; Bỏ mặc trẻ khóc lóc trong lớp không quan tâm; Để trẻ bị bạn cô lập không cho chơi chung; Để trẻ bị bạn gọi tên cha mẹ để chửi rủa, bêu xấu gia đình hoặc cố tình kiếm chuyện với trẻ; Để trẻ

bị cán bộ trong trường (bảo vệ, lao công, nhân viên, quản lý ) đe dọa, chửi bới (nói tục), la mắng; Để trẻ bị phụ huynh chửi bới (nói tục), la mắng khi đến trường; Để trẻ bị phụ huynh trẻ khác đe dọa, chửi bới (nói tục), la mắng trong trường; Để trẻ bị người ngoài trường đe dọa, chởi bới (nói tục), la mắng trong trường

1.4 Nguyên nhân dẫn đến bạo lực đối với trẻ em trong trường mầm non

Khi ngiên cứu về bạo lực đối với trẻ em, các công trình chủ yếu nghiên cứu đề cập đến các nguyên nhân dẫn đến bạo lực đối với trẻ em diễn ra trong mối quan hệ

Trang 33

giữa trẻ với trẻ trong môi trường học đường Có rất ít công trình nghiên cứu của các tác giả, những tài liệu đề cập đến nguyên nhân dẫn đến bạo lực đối với trẻ em trong môi quan hệ giữa GV với trẻ em

Dựa trên cơ sở các thuyết nghiên cứu, một số tác giả đã đưa ra cái nhìn tổng thể

về nguyên nhân dẫn đến hành vi BL dựa trên các học thuyết tâm lý học xã hội Tác giả Trần Thị Minh Đức đã tiếp cận phân tích chỉ ra nguyên nhân của hành vi gây hấn của con người nói chung theo thuyết bản năng về gây hấn, thuyết động lực về gây hấn, thuyết hành vi về gây hấn, thuyết học tập xã hội về gây hấn, [6] Tác giả Nguyễn Thị Hương cũng đã đưa ra một vài lý giải dựa trên cách thức tiếp cận giải thích nguyên nhân của hành vi BL từ các lý thuyết khác nhau: tiếp cần lý thuyết BL từ góc độ sinh học; tiếp cận nguyên nhân BL từ quan điểm của một số lý thuyết tâm lý học khác như: lý thuyết

“hành vi”, lý thuyết “nhân văn – hiện sinh”, lý thuyết “tâm động lực”, lý thuyết “học tập

xã hội”; tiếp cận nguyên nhân BL từ ảnh hưởng của truyền thông: ảnh hưởng của truyền hình, ảnh hưởng của game BL Gây hấn của con người nói chung dựa trên các cách tiếp cận, tác giả cho rằng hành vi BL không phải là do bẩm sinh, là tiền định và chúng ta có thể kiểm soát và giảm thiểu được sự phát triển của nó [10, tr.31-42]

Một số công trình nghiếu đã chỉ ra nguyên nhân BL giữa trẻ với trẻ bao gồm một số nguyên nhần: Nguyên nhân từ phía cá nhân do nhận thức của cá nhân, hệ thống kiến thức, hệ thống thái độ của học sinh, do tính cách và đặc điểm tâm – sinh lý của các em; Nguyên nhân từ phía gia đình, các em bị tiêm nhiễm từ lối sống cư xử của những người lớn trong gia đình, ảnh hưởng do gia đình lý tán, gia đình không có sự chăm sóc hoặc thiếu hụt sự chăm sóc của cha mẹ, và do ảnh hưởng bởi hành vi BL trong gia đình; Nguyên nhân từ phía nhà trường: học sinh bị đổ thừa, kỳ thị, sỷ nhục, quan hệ giữa GV và học sinh thiếu dân chủ, chương trình học tập quá tải, sự ganh đua thiếu lành mạnh, những kinh nghiệm thiếu lành mạnh của học sinh trong giải quyết xung đột, những kỷ luật, trừng phạt của nhà trường…; nguyên nhân từ phía xã hội: từ nền văn hóa xã hội, từ phương tiện truyền thông

Theo chúng tôi hành vi bạo lực đối với trẻ em trong nhà TMN do những nguyên nhân cụ thể sau:

- Nguyên nhân từ phía trẻ: Trẻ bướng bỉnh, không nghe lời GV; Trẻ giành đồ

Trang 34

chơi của bạn; Vô tình trẻ xô đẩy bạn; Có trẻ khuyết tật về tâm lý (tăng động, tự kỷ….) học hòa nhập trong lớp, trong trường; Trẻ hay đau ốm vặt, không tăng cân; Trẻ chưa hòa nhập được với bạn trong lớp; Khả năng nhận thức, tiếp thu bài học của trẻ chậm; Trẻ hay la, khóc, quậy phá; Trẻ biếng ăn, khó ăn, ăn hay ói mửa; Các tình huống xảy

ra bất ngờ ở trẻ (bị ngã, đánh nhau )

- Nguyên nhân từ sự quá tải trong hoạt động nghề nghiệp của GV: Lớp học quá đông; GV phải đón trẻ sớm, trả trẻ muốn; GV thường xuyên phải chú ý, quan tâm, chăm sóc trẻ; Áp lực công việc khiến GV cắng thẳng tâm lý; GV phải làm nhiều việc không liên quan đến chuyên môn; GV chịu những áp lực từ chất lượng giảng dạy/ thanh tra/ kiểm tra thường xuyên; Ăn uống, nghỉ ngơi của cô ở trường không đảm bảo; Môi trường làm việc ồn ào; Công việc lặp đi lặp lại hàng ngày khiến GV nhàm chán;

GV vừa phải giảng dạy, vừa phải chăm sóc trẻ; GV thiên vị và đối xử không công bằng giữa các trẻ

- Mối quan hệ giữa GV với đồng nghiệp: GV không hài lòng về đánh giá của lãnh đạo với bản thân; GV không nhận được sự giúp đỡ của đồng nghiệp; GV mẫu thuẫn với đồng nghiệp trong lớp; GV, nhân viên mâu thuẫn với cán bộ quản lý

- Nguyên nhân từ phía phụ huynh trẻ: Thái độ của phụ huynh với cô khi đưa đón trẻ tại trường; Cách ứng xử của phụ huynh với cô khi trẻ gặp sự cố (xây sát, đau ốm, không lên cân ); GV ít nhận được sự phối hợp, giúp đỡ của phụ huynh trong việc chăm sóc, giáo dục trẻ; Yêu cầu cao của phụ huỳnh với cô trong việc chăm sóc, giáo dục trẻ; GV mâu thuẫn với phụ huynh trẻ

- Nguyên nhân từ phía trường học: GV vi phạm quy chế làm việc; GV bị nhà trường kỷ luật, trừ lương, thưởng; Chế độ đãi ngộ của nhà trường với GV chưa thỏa đáng; Đánh giá khen thưởng của lãnh đạo với không chính xác, đúng người, đúng việc

- Nguyên nhân liên quan đến cá nhân; GV mâu thuẫn với người ngoài trường: GV

có vấn đề mâu thuẫn với các thành viên trong gia đình, người thân; Sức khỏe của GV suy giảm; GV phát hiện ra bệnh mãn tính; GV mắc bệnh mãn tính (đau dạ dày, viêm

đường hô hấp, )

1.5 Hậu quả của bạo lực đối với trẻ em trong trường mầm non

Cơ sở dữ liệu toàn cầu của UNICEF năm 2014 cho thấy, chỉ tính riêng trong năm

2012, có khoảng 95.000 trẻ em và thanh thiếu niên ở độ tuổi dưới 20 bị giết và có khoảng

Trang 35

6 trong 10 trẻ em từ 2 đến 14 tuổi trên toàn thế giới (gần 1 tỷ trẻ) đang bị người chăm sóc trừng phạt đánh đập một cách thường xuyên Khoảng 3 trong 10 người lớn trên toàn thế giới tin rằng sự trừng phạt thể chất là cần thiết nhằm giáo dục con cái hiệu quả [27] Bạo lực đối với trẻ em trong trường học để lại những hậu quả đó là những tổn thương về thể chất và tinh thần cho trẻ, trẻ có thể bị kỷ luật, đuổi học, nghỉ học, tự tử, gây ra những rối nhiễu tâm lý cho trẻ Bạo lực đối với trẻ em còn gây ra tình trạng mất trật tự an ninh cho xã hội, gây mất an toàn trong môi trường học đường, ảnh hưởng đến tinh thần, tính mạng và hoạt động nghề nghiệp của GV, các lực lượng giáo dục trong trường học [6]

Dựa trên kết qua nghiên cứu tài liệu, theo quan điểm của chúng tôi, bạo lực đối với trẻ em trong TMN có thể để lại một số hậu qua sau:

- Gây ra những rối nhiễu tâm lý cho trẻ như: Trẻ trở nên tự ti, nhút nhát không dám thể hiện bản thân vì sợ bị bạo hành tiếp diễn; Trẻ thu mình lại, không dám giao lưu với bạn bè xung quanh vì sợ các bạn, GV đánh mình; Trẻ bắt đầu hung hăng hơn

để không bị bạn ức hiếp, hoặc để phản ứng với bạn, GV, cán bộ trong trường hoặc người khác; Trẻ không muốn đến lớp, đến trường gặp GV, gặp các bạn, GV, cán bộ trong trường; Mỗi khi đến lớp, đến trường trẻ thường la hét không muốn rời cha mẹ; Trẻ ngủ hay giật mình, la hét trong lớp/ ở nhà; Trẻ có hành vi bắt chước và thể hiện những hành vi BL của các bạn, GV, cán bộ trong trường hoặc người khác

- Ảnh hưởng đến thể chất và sự phát triển tâm lý của trẻ như: Sức khỏe giảm sút

do thường xuyên bị bạo hành (tấn công); Nếu kéo dài và lặp đi lặp lại hiện tượng bạo hành có thể tạo nên những đứa trẻ vô cảm trước những bất công hay nỗi đau của người khác; Ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách trong tương lai của trẻ bị bạo hành; Dẫn đến những tổn thương về thể chất cho trẻ

- Ảnh hưởng đến môi trường giáo dục cho trẻ: Gây ra sự tổn thương về đời sống tinh thần, vật chất cho gia đình trẻ; Đe dọa sự an toàn đến tính mạng của trẻ, của lớp học, của nhà trường; Ảnh hưởng xấu đến hoạt động học tập, vui chơi của trẻ; Mất kỷ cương, nề nếp của nhà trường; Gây ra sự căng thẳng, mất đoàn kết, bè phái trong trường; Ảnh hưởng tới an ninh, trật tự của xã hội; Làm nảy sinh mâu thuẫn giữa phụ huynh với GV; Làm nảy sinh mâu thuẫn giữa các phụ huynh của trẻ; Ảnh hưởng đến

Trang 36

hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ cua GV, của nhà trường

Ngoài ra bạo lực đối với trẻ em trong TMN con để lại những hậu quả đối với GV khi xảy ra hành vi bạo lực đối với trẻ em, đó chính là ảnh hưởng đến hoạt động nghề nghiệp, danh dự của GV và những vấn đề liên quan khác, khi GV tiến hành hành vi

BL đối với trẻ có thể nhận những hình thức kỷ luật của nhà trường và của luật pháp nhà nước Tùy thuộc vào mức độ của hành vi BL và các hình thức hành vi BL đối với trẻ mà GV có thể nhận các hình thức kỷ lật như: Không bị bất cứ hình thức kỷ luật nào; Nhắc nhở trước tập thể nhà trường; Cảnh cáo, hạ bậc thi đua, khen thưởng; Kỷ luật, hạ bậc lương hoặc buộc thôi việc; Khởi tố trước pháp luật

1.6 Một số yếu tố ảnh hưởng đến bạo lực đối với trẻ em trong trường mầm non

- Tính lạc quan, bi quan trong hoạt động nghề nghiệp của GV

Tính lạc quan hay bi quan được coi là một trong những thiên hướng của nhân cách, Tinh thần lạc quan được Scheier và Carver định nghĩa là luôn được mong đợi, tin tưởng rằng những điều tốt đẹp sẽ xảy ra Với những đặc điểm này, cách suy nghĩ, thái

độ nói chung của người lạc quan đối với thế giới, con người xung quanh luôn theo chiều hướng tích cực Nhờ thế nó cho phép con người ứng phó hiệu quả hơn trước những tình huống khó khăn, bất ngờ, giảm đi nguy cơ của bệnh tất [9], [20]

Tính lạc quan, bi quan có môi liên hệ với sức khỏe ở chỗ cách nhìn nhận và ứng

xử của cá nhân với bệnh tật của mình cũng như với tất cả những gì xảy ra trong cuộc sống hàng ngày Cách ứng xử tích cực, hợp lý của những người lạc quan sẽ tạo điều kiện cho việc khắc phục những hậu quả không mong muốn và tạo cách sống lành mạnh Còn cách ứng xử bi quan, thiếu niềm tin có thể làm bệnh tật thêm phat triển và cuộc sống thêm nặng nề

Như vậy, người GV trong TMN có tinh thần lạc quan sẽ giúp GV có cách nhìn nhận đánh giá, ứng xử với các vấn đề xảy ra trong hoạt động nghề nghiệp một cách đúng đắn, chính xác, giúp GV có tinh thần thoải mái, thúc đẩy GV hoàn thành tốt công việc

- Sự hài lòng trong hoạt động nghề nghiệp của GV

Công việc và gia đình là hai khía cạnh quan trọng trong cuộc sống của một cá nhân Những thay đổi tại nơi làm việc và thay đổi nhân sự đã được nhiều nhà nghiên cứu chú ý tìm hiểu mối quan hệ gữa công việc và cuộc sống gia đình của nhân viên Sự hài lòng và

Trang 37

căng thẳng tâm lý trong hoạt động nghề nghiệp đều có nguồn gốc từ công việc và cuộc sống gia đình của cá nhân Toàn cầu hóa đã làm thay đổi môi trường làm việc đã dẫn đến

cơ cấu lại công ăn việc làm, khối lượng công việc nhiều, thời gian làm việc kéo dài, cạnh tranh trong công việc Điều kiện vật chất cũng như tinh thần có ảnh hưởng đáng kể về mức độ hài lòng công việc của nhân viên và mức độ thường xuyên vắng mặt tại nơi làm việc của họ (Tennant, 2001) Sự hài lòng công việc có tầm quan trọng sống còn đối với hiệu quả của một tổ chức cũng như hiệu quả hoạt động của cá nhân "Sự hài lòng công việc được gọi là một sự kết hợp tâm lý, môi trường và sinh lý làm cho một cá nhân thực

sự cảm thấy hài lòng về công việc của mình" (Hoppock, 1935)

Hài lòng công việc là một khái niệm linh hoạt và phức tạp mỗi người có sự cảm nhận nó một cách khác nhau Nó thường được xem xét trong bối cảnh tác động của yếu tố bên ngoài Nó giống như sự nhận thức nội tâm của một người và cảm xúc mà có thể liên quan đến những thứ như một cảm giác con người đạt được một cái gì đó (Mullins, 2005) Thứ hai, đó là thái độ đối với công việc là một trong những thái độ tích cực hoặc là tiêu cực (Abdul, Ismail, & Jaafar, 2010) Thực tế cho thấy, một người

có thái độ tích cực đối với công việc nếu người đó có mức độ cao của sự hài lòng công việc và một cá nhân có thái độ tiêu cực đối với công việc nếu người đó có sự bất mãn

từ công việc Người quản lý sử dụng nhân viên có thái độ tích cực như một sự thay thế cho sự hài lòng trong công việc của nhân viên (P.Robbins & Coulter, 2004) [25] Đối với GV trong TMN, sự hài lòng trong công việc thể hiện qua thái độ cách ứng xử với trẻ, với đồng nghiệp một cách tích cực trong hoạt động nghề nghiệp, và tính hiệu quả trong công việc ở mức độ cao Sự hài lòng trong công việc sẽ giúp GV

nỗ lực, khắc phục và hoàn thành nhiệm vụ trong những điều kiện, hoàn cảnh công việc khó khăn mang tính đặc thù của nghề GVMN

- Yếu tố khí chất của GV

Khí chất là đặc điểm chung nhất của mỗi con người, là đặc điểm cơ bản của hệ thần kinh, tạo ra các diện mạo nhất định của toàn bộ hoạt động ở mỗi cá thể Cần phải lưu ý rằng, khí chất bị quy định không những bởi những đặc tính bẩm sinh của hệ thần kinh mà còn bởi những điều kiện sống và hoạt động Khí chất không phải là bất biến trong cuộc đời của một cá nhân Bất kỳ khí chất nào cũng đều không cản trở sự phát

Trang 38

triển của tất cả các đặc tính xã hội cần thiết của cá nhân, song mỗi khí chất lại đòi hỏi những con đường và những phương thức hình thành riêng

Theo quan điểm của tâm lý học: khí chất là thuộc tính tâm lý nhân cách gắn liền với đặc điểm của từng kiểu loại hoạt động thần kinh cấp cao, quy định tính năng động của tâm lý và hình vi của cá nhân Khí chất bao giờ cũng tương ứng với kiểu hoạt động thần kinh cấp cao và phản ánh các đặc điểm hoạt động sinh lý thần kinh của từng người Biểu hiện cường độ, tốc độ, nhịp độ của hoạt động tâm lý in dấu lên toàn bộ thái độ, hành vi, hoạt động của mỗi người I.P.Páplốp – nhà sinh lý học thần kinh của Nga – đã chỉ ra sự phụ thuộc chủ yếu của khí chất con người vào đặc điểm hoạt động

và mối quan hệ của hai quá trình thần kinh cơ bản là hưng phấn và ức chế với ba thuộc tính cơ bản: Cường độ, tính cân bằng, tính linh hoạt Sự kết hợp theo các cách khác nhau giữa 3 thuộc tính này tạo ra 4 kiểu khí chất: Nóng, hoạt , trầm và ưu tư [9]

+ Khí chất nóng: Ứng với kiểu thần kinh mạnh, không cân bằng và linh hoạt GV thuộc kiểu khí chất này thường dễ xúc động, hành động nhanh nhưng không bền vững Xúc cảm mạnh, dễ thay đổi, tính tình nóng nảy

+ Khí chất hoạt bát: Ứng với kiểu thần kinh mạnh, cân bằng và linh hoạt Những

GV thuộc kiểu khí chất này thường năng động, linh hoạt, ham thích tìm tòi cởi mở; nhạy cảm, vui vẻ, nhưng xúc cảm không bền vững, sâu sắc, dễ tiếp xúc, dễ hòa nhập,

dễ tiếp thu cái mới những cũng dễ di chuyển chú ý, chóng quên, không thích ngồi yên một chỗ

+ Khí chất trầm (bỉnh thản): Ứng với kiểu thần kinh mạnh, cần bằng, không linh hoạt GV thuộc kiểu khí chất này thường điềm tĩnh, chậm chạp, khó quen với hoàn cảnh mới Trong sinh hoạt thường kiên trì, cố gắng hoàn thành công việc

+ Khí chất yếu (ưu tư): Ứng với kiểu thần kinh, không cân bằng và ít linh hoạt

GV thuộc kiểu khí chất này có các quá trình tâm lý diễn ra chậm chạp, khó đáp ứng với những kích thích mạnh, kéo dài, khó thích nghi với môi trường mới, dễ lo sợ, xúc cảm xuất hiện muộn nhưng sâu sắc, bền vững

Các đặc điểm khí chất tạo nên sự khác biệt cá nhân là một trong những tác nhân ảnh hưởng mạnh mẽ đến những hoạt động nghề nghiệp, ảnh hưởng đến mức độ BL đối với trẻ và những hành vi ứng xử khác nhau khi xảy ra hành vi BL đối với trẻ của GV

Trang 39

trong TMN

- Một số yếu tố như trình độ chuyên môn, thâm niên công tác, yếu tố về tuổi, của

GV có liên quan đến kinh nghiệm hoạt động nghề nghiệp, kinh nghiệm xử lý các tình huống xảy ra trong công tác chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục trẻ, đây là một trong những yếu tố có thể làm tăng hoặc giảm hành vi BL của GV đối với trẻ em trong TMN

- Một số yếu tố khác như thu nhập của cá nhân, kinh tế gia đình, tình trạng hôn nhân gia đình là một trong những yếu tố góp phần là những nguyên nhân ảnh hưởng dẫn đến hành vi bạo lực đối với trẻ em của GV trong TMN, ảnh hưởng đến tính ổn định, cách ứng xử của GV với trẻ em, với đồng nghiệp và lãnh đạo nhà trường, với phụ huynh của trẻ Khi những yếu tố này ổn định sẽ là động lực thúc đẩy giúp GV yên tâm công tác, phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ của người GVMN, giảm bớt được mức

độ bạo lực đối với trẻ em trong TMN

1.7 Một số biện phóng ngừa và giảm thiểu mức độ bạo lực đối với trẻ em trong trường mầm non

Theo báo cáo (2011) cuối cùng của kỳ họp về giải quyết vấn đề BL trong trường học, do chính phủ Na Uy phối hợp tổ chức cùng với Hội đồng châu Âu và các đại diện đặc biệt của Liên Hiệp Quốc, đã đề cập đến phương pháp tiếp cận chung nhằm đưa ra những biện pháp phòng ngừa, giảm thiểu hành vi bạo lực đối với trẻ em [27]:

1 Xây dựng chính sách, các chương trình và hoạt động nghiên cứu cần thực hiện

3 Tất cả các biện pháp được thực hiện ở các khu vực, quốc gia và trên toàn thế giới cần nâng cao hiểu biết và nhận thức của mỗi người về BL học đường đó là sự vi phạm quyền trẻ em Do đó, các biện pháp phòng ngừa và bảo vệ phải được thực hiện

để đảm bảo quyền trẻ em

4 Cần đảm bảo về nguồn tài chính, trách nhiệm và năng lực cần thiết đề thực

Trang 40

hiện từng biện pháp cụ thể nhằm giải quyết vấn đề BL trong trường học

Báo cáo cũng chỉ ra những phương pháp và cách thức thực hiện cụ thể đối với vấn đề BL với trẻ em trong trường học [27]: (1) Giáo dục sớm về nhân quyền và dân chủ đây là cơ sở cần được áp dụng vào thực tế trong công tác phòng chống và giải quyết các trường hợp BL trong trường học; (2) Hiểu biết về những hành vi BL của trẻ

em nam và nữ thuộc các nhóm khác nhau (ví dụ như tuổi tác, nguồn gốc dân tộc) đây

là cơ sở quan trọng để giải quyết các hình thức BL khác nhau trong trường và trong xã hội nói chung Quan điểm tiếp cận giới tính cần được chú ý như là một phần của bất

kỳ phương pháp tiếp cận chung nào; (3) Xây dựng, phát triển các hướng dẫn và các công cụ để tiếp cận cụ thể được với các nhóm trẻ em cũng như người lớn tiếp cận với trẻ em, và đảm bảo các phương tiện tiếp cận đến các nhóm được triển khai theo các kế hoạch và chiến lược cụ thể; (4) Việc phổ biến, tuyên truyền về BL trong trường học nhằm ngăn ngừa và giảm thiểu hành vi BL cần được triển khai thông qua nhiều hình thức, phương tiện truyền thông khác nhau nhằm tiếp cận được với tất cả trẻ em dễ bị tổn thương nhất và có nguy cơ trở thành nạn nhân của BL học đường; (5) Ở nhiều nước, khung pháp lý cần thiết được xây dựng để phòng chống BL trong trường và phải

có sự cam kết của chính phủ; (6) Tại những nước có khung pháp lý được xây dựng nhưng việc thi hành pháp luật, những quy định về trách nhiệm chưa cụ thể, cần đưa những cam kết cụ thể để áp dụng khung pháp lý vào trong các chương trình, chính sách thực tế; (7) Những nỗ lực nên tiếp tục tập trung cả về phòng ngừa và can thiệp

Sự can thiệp khi BL đã xảy ra là một biện pháp ngắn hạn, trong khi chiến lượng, biện pháp phòng ngừa giúp giảm thiểu BL trong trường học là một cách bền vững

Như vậy, theo quan điểm chúng tôi để có thể phòng tránh và hạn chế hành vi bạo lực đối với trẻ em trong TMN, chúng ta cần xây dựng một số biện pháp phù hợp liên quan đến các vấn đề như: xây dựng khung pháp lý về vấn đề bạo lực đối với trẻ em, đề

ra những hình thức kỷ luật nghiêm khác với các hình thức bạo lực đối với trẻ em của

GV trong TMN, có biện pháp can thiệp kịp thời khi có hiện tượng BL xảy ra trong lớp trong trường, có những biện pháp, cách thức giúp đỡ, tư vấn tâm lý cho GV và trẻ em, giám sát quản lý các hoạt động của GV và trẻ bằng các kênh khác nhau, tổ chức các lớp học kỹ năng cho GV, cán bộ quản lý, phụ huynh của trẻ liên quan đến các hành vi

Ngày đăng: 11/06/2022, 11:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Bộ giáo dục và đào tạo, Điều lệ TMN, Ban hành kèm theo Quyết định số 14 /2008/QĐ-BGDĐT ngày 07 tháng 4 năm 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều lệ TMN
4. Lê Thị Ngọc Dung (2008), Bạo hành trẻ em trong gia đình và nhà trường, Viện Nghiên cứu Phát triển TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bạo hành trẻ em trong gia đình và nhà trường
Tác giả: Lê Thị Ngọc Dung
Năm: 2008
5. Nguyễn Thị Thùy Dung (2012), Nhận thức của học sinh trường THPT Nguyễn Trường Tộ (thành phố Vinh – Nghệ An) về vấn đề BL học đường, luận văn thạc sỹ Tâm lý học, trường Đại học khoa học xã hội và Nhân văn, ĐHQG Hà Nội 6. Trần Thị Minh Đức (2009), Hành vi gây hấn phân tích từ góc độ tâm lý học xãhội, NXB ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận thức của học sinh trường THPT Nguyễn Trường Tộ (thành phố Vinh – Nghệ An) về vấn đề BL học đường", luận văn thạc sỹ Tâm lý học, trường Đại học khoa học xã hội và Nhân văn, ĐHQG Hà Nội 6. Trần Thị Minh Đức (2009), "Hành vi gây hấn phân tích từ góc độ tâm lý học xã "hội
Tác giả: Nguyễn Thị Thùy Dung (2012), Nhận thức của học sinh trường THPT Nguyễn Trường Tộ (thành phố Vinh – Nghệ An) về vấn đề BL học đường, luận văn thạc sỹ Tâm lý học, trường Đại học khoa học xã hội và Nhân văn, ĐHQG Hà Nội 6. Trần Thị Minh Đức
Nhà XB: NXB ĐHQG Hà Nội
Năm: 2009
7. Bùi Thị Hồng, Tình hình BL học đường ở Việt Nam những năm gần đây, Niên giám thông tin Khoa học Xã hội, số 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình BL học đường ở Việt Nam những năm gần đây
8. Phan Thị Mai Hương, Thực trạng BL học đường hiện nay, Hội thảo “nhu cầu, định hướng đào tạo tâm lý học đường tại Việt Nam, Hội thảo Khoa học quốc tế, Hà Nội, tháng 8/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng BL học đường hiện nay, Hội thảo “nhu cầu, định hướng đào tạo tâm lý học đường tại Việt Nam
9. Phan Thị Mai Hương (2007), Cách ứng phó của trẻ vị thành niên với hoàn cảnh khó khăn, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cách ứng phó của trẻ vị thành niên với hoàn cảnh khó khăn
Tác giả: Phan Thị Mai Hương
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2007
10. Nguyễn Thị Hương (2011), Nghiên cứu hành vi BL ở học sinh thiếu niên với bạn cùng lứa, luận văn thạc sỹ Tâm lý học, trường Đại học sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu hành vi BL ở học sinh thiếu niên với bạn cùng lứa
Tác giả: Nguyễn Thị Hương
Năm: 2011
11. Lê Cự Linh (2011), BL trong thanh thiếu niên Việt Nam: một kết quả từ hai vòng điều tra quốc gia, tạp chí Nghiên cứu gia đình và giới 4/2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: BL trong thanh thiếu niên Việt Nam: một kết quả từ hai vòng điều tra quốc gia
Tác giả: Lê Cự Linh
Năm: 2011
14. Lê Thị Quyên (2011), Tìm hiểu nguy cơ BL học đường của học sinh THPT, luận văn thạc sỹ Tâm lý học, trường Đại học sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu nguy cơ BL học đường của học sinh THPT
Tác giả: Lê Thị Quyên
Năm: 2011
15. Nguyễn Thị Minh Sao (2011), Một số yếu tố tác động tới BL học đường, luận văn thạc sỹ Xã hội học, Học viện khoa học xã hội, Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số yếu tố tác động tới BL học đường
Tác giả: Nguyễn Thị Minh Sao
Năm: 2011
16. Tăng Phương Tuyết (2011) “Biện pháp nâng cao nhận thức, thay đổi thái độ và hành vi của phụ huynh về BL trẻ em trong gia đình ở tỉnh Bình Dương”, Luận văn thạc sĩ , ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: B"iện pháp nâng cao nhận thức, thay đổi thái độ và hành vi của phụ huynh về BL trẻ em trong gia đình ở tỉnh Bình Dương
17. Trịnh Viết Then (2014), Ứng phó với stress của GVMN trên địa bàn quận Phú Nhuận, thành phố HCM, Tạp chí khoa học trường Đại học Văn Hiến, số 5/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng phó với stress của GVMN trên địa bàn quận Phú Nhuận, thành phố HCM
Tác giả: Trịnh Viết Then
Năm: 2014
18. Trịnh Viết Then (2015), Xây dựng thang đo đánh giá hành vi BL đói với trẻ em của GV trong nhà TMN, Tạp chí khoa học trường Đại học Văn Hiến, số 6/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng thang đo đánh giá hành vi BL đói với trẻ em của GV trong nhà TMN
Tác giả: Trịnh Viết Then
Năm: 2015
19. Trịnh Viết Then (2016), Stress ở giáo viên mầm non, Luận án tiến sỹ Tâm lý học, Viện Hàn Lâm khoa học xã hội Việt Nam, Học viện khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Stress ở giáo viên mầm non
Tác giả: Trịnh Viết Then
Năm: 2016
20. Đinh Thị Hồng Vân (2014), Cách ứng phó với những cảm xúc âm tính trong quan hệ xã hội của trẻ vị thành niên thành phố Huế, Luận án tiến sỹ Tâm lý học, Học viện Khoa học xã hội, Viện hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cách ứng phó với những cảm xúc âm tính trong quan hệ xã hội của trẻ vị thành niên thành phố Huế
Tác giả: Đinh Thị Hồng Vân
Năm: 2014
21. WHO. (2002). Báo cáo toàn cầu về BL và sức khỏe: Tổ chức y tế thế giới. Tài liệu tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo toàn cầu về BL và sức khỏe
Tác giả: WHO
Năm: 2002
22. Buddhiprabha D. D. Pathirana (2006), Ensuring Harmony and Protection in Preschool Education, Sri Lanka Journal of Advanced Social Studies - Vol. 1 - No. 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ensuring Harmony and Protection in Preschool Education
Tác giả: Buddhiprabha D. D. Pathirana
Năm: 2006
23. Center for the Prevention of School Violence North Carolina Department of Juvenile Justice and Delinquency Prevention (2002), Just what is “school violence”? CPSV Location: 313 Chapanoke Road Suite 140 Raleigh, America Sách, tạp chí
Tiêu đề: Just what is “school violence”
Tác giả: Center for the Prevention of School Violence North Carolina Department of Juvenile Justice and Delinquency Prevention
Năm: 2002
24. Kezban Tepeli (2013), Examination of the messages preschool teachers use against undesirable behaviors of children, Educational Research and Review Vol. 8(3), pp. 104 – 111, 10 February, 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Examination of the messages preschool teachers use against undesirable behaviors of children
Tác giả: Kezban Tepeli
Năm: 2013
25. Komal Saeed and Yasir Aftab Farooqi (2014), Examining the Relationship between Work Life Balance, Job Stress and Job Satisfaction Among University Teachers (A Case of University of Gujrat), international journal of multidisciplinary sciences and engineering, Vol.5, No.6, June 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Examining the Relationship between Work Life Balance, Job Stress and Job Satisfaction Among University Teachers (A Case of University of Gujrat)
Tác giả: Komal Saeed and Yasir Aftab Farooqi
Năm: 2014

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Các loại hình bạo lực - LVTS_ ĐỀ TÀI BẠO LỰC TRƯỜNG MẦM NON
Hình 1.1. Các loại hình bạo lực (Trang 31)
Bảng 2.1. Phân bố mẫu nghiên cứu: - LVTS_ ĐỀ TÀI BẠO LỰC TRƯỜNG MẦM NON
Bảng 2.1. Phân bố mẫu nghiên cứu: (Trang 44)
Bảng 3.1. Mức độ bạo lực đối với trẻ em trong trường mầm non - LVTS_ ĐỀ TÀI BẠO LỰC TRƯỜNG MẦM NON
Bảng 3.1. Mức độ bạo lực đối với trẻ em trong trường mầm non (Trang 58)
Bảng 3.3. Hành vi bạo lực đối với trẻ em theo hình thức giữa trẻ em đối với trẻ hay tự trẻ gây ra (N: 175) - LVTS_ ĐỀ TÀI BẠO LỰC TRƯỜNG MẦM NON
Bảng 3.3. Hành vi bạo lực đối với trẻ em theo hình thức giữa trẻ em đối với trẻ hay tự trẻ gây ra (N: 175) (Trang 60)
Bảng 3.4. Hành vi bạo lực đối với trẻ em thuộc hình thức bạo lực giữa giáo viên đối với trẻ (N: 175) - LVTS_ ĐỀ TÀI BẠO LỰC TRƯỜNG MẦM NON
Bảng 3.4. Hành vi bạo lực đối với trẻ em thuộc hình thức bạo lực giữa giáo viên đối với trẻ (N: 175) (Trang 61)
Bảng 3.5. Hành vi bạo lực đối với trẻ em thuộc hình thức giữa lực lượng giáo dục khác đối với trẻ (N = 175) - LVTS_ ĐỀ TÀI BẠO LỰC TRƯỜNG MẦM NON
Bảng 3.5. Hành vi bạo lực đối với trẻ em thuộc hình thức giữa lực lượng giáo dục khác đối với trẻ (N = 175) (Trang 63)
Bảng 3.9. Nhóm nguyên nhân từ áp lực công việc và những biến đổi tâm sinh lý của giáo viên (N=175) - LVTS_ ĐỀ TÀI BẠO LỰC TRƯỜNG MẦM NON
Bảng 3.9. Nhóm nguyên nhân từ áp lực công việc và những biến đổi tâm sinh lý của giáo viên (N=175) (Trang 67)
Bảng 3.8. Nhóm nguyên nhân từ mối quan hệ giữa GV với phụ huynh của trẻ (N=175) - LVTS_ ĐỀ TÀI BẠO LỰC TRƯỜNG MẦM NON
Bảng 3.8. Nhóm nguyên nhân từ mối quan hệ giữa GV với phụ huynh của trẻ (N=175) (Trang 67)
Bảng 3.11. Ma trận tương quan giữa các nhóm nguyên nhân dẫn đến bạo lực đối với trẻ em trong trường mầm non - LVTS_ ĐỀ TÀI BẠO LỰC TRƯỜNG MẦM NON
Bảng 3.11. Ma trận tương quan giữa các nhóm nguyên nhân dẫn đến bạo lực đối với trẻ em trong trường mầm non (Trang 71)
Bảng 3.14 Nhận thức của giáo viên về các hành vi bạo lực thuộc hình thức bạo lực giữa các lực lượng giáo dục khác đối với trẻ em trong trường mầm non (N= 175) - LVTS_ ĐỀ TÀI BẠO LỰC TRƯỜNG MẦM NON
Bảng 3.14 Nhận thức của giáo viên về các hành vi bạo lực thuộc hình thức bạo lực giữa các lực lượng giáo dục khác đối với trẻ em trong trường mầm non (N= 175) (Trang 75)
Bảng 3.15. Nhận thức của giáo viên về các hành vi bạo lực thuộc hình thức bạo lực giữa giáo viên đối với trẻ em (N = 175) - LVTS_ ĐỀ TÀI BẠO LỰC TRƯỜNG MẦM NON
Bảng 3.15. Nhận thức của giáo viên về các hành vi bạo lực thuộc hình thức bạo lực giữa giáo viên đối với trẻ em (N = 175) (Trang 76)
Bảng 3.16. Nhận thức của giáo viên về các hành vi bạo lực thuộc hình thức bạo lực giữa trẻ đối với trẻ hay tự trẻ gây ra trong trường mầm non (N = 175) - LVTS_ ĐỀ TÀI BẠO LỰC TRƯỜNG MẦM NON
Bảng 3.16. Nhận thức của giáo viên về các hành vi bạo lực thuộc hình thức bạo lực giữa trẻ đối với trẻ hay tự trẻ gây ra trong trường mầm non (N = 175) (Trang 77)
Bảng 3.18. Nhận thức của giáo viên về những hậu quả về thể chất và sự phát triển tâm lý của trẻ do bạo lực đối với trẻ em của giáo viên trong trường mầm non (N = 175) - LVTS_ ĐỀ TÀI BẠO LỰC TRƯỜNG MẦM NON
Bảng 3.18. Nhận thức của giáo viên về những hậu quả về thể chất và sự phát triển tâm lý của trẻ do bạo lực đối với trẻ em của giáo viên trong trường mầm non (N = 175) (Trang 79)
Bảng 3.20. Nhận thức của giáo viên về những hậu quả của bạo lực đối với trẻ em trong nhóm hậu quả ảnh hưởng đến môi trường giáo dục của trẻ (N = 175) - LVTS_ ĐỀ TÀI BẠO LỰC TRƯỜNG MẦM NON
Bảng 3.20. Nhận thức của giáo viên về những hậu quả của bạo lực đối với trẻ em trong nhóm hậu quả ảnh hưởng đến môi trường giáo dục của trẻ (N = 175) (Trang 81)
Bảng 3.21. Mối tương quan giữa mức độ BL, nguyên nhân bạo lực với nhận thực về hành vi BL và hậu quả BL đối với trẻ em - LVTS_ ĐỀ TÀI BẠO LỰC TRƯỜNG MẦM NON
Bảng 3.21. Mối tương quan giữa mức độ BL, nguyên nhân bạo lực với nhận thực về hành vi BL và hậu quả BL đối với trẻ em (Trang 82)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w