1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Điều tra thành phần loài sâu bao (Lepidoptera: Psychidae) và khảo sát một số biện pháp phòng trị sâu bao Pteroma plagiophleps Hampson gây hại trên cây dừa nước (Nypa fruticans Wurmb) ở đồng bằng sông Cửu Long

46 829 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Điều tra thành phần loài sâu bao (Lepidoptera: Psychidae) và khảo sát một số biện pháp phòng trị sâu bao Pteroma plagiophleps Hampson gây hại trên cây dừa nước (Nypa fruticans Wurmb) ở đồng bằng sông Cửu Long
Tác giả Phan Tuấn Khanh
Người hướng dẫn Ts. Lê Văn Vàng, Ths. Huỳnh Phước Mẫn
Trường học Trường Đại Học Cần Thơ
Chuyên ngành Bảo vệ Thực vật
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2011
Thành phố Cần Thơ
Định dạng
Số trang 46
Dung lượng 1,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều tra thành phần loài sâu bao (Lepidoptera: Psychidae) và khảo sát một số biện pháp phòng trị sâu bao Pteroma plagiophleps Hampson gây hại trên cây dừa nước (Nypa fruticans Wurmb) ở đồng bằng sông Cửu Long

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

\

PHAN TUẤN KHANH

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KỸ SƯ NGÀNH BẢO VỆ THỰC VẬT

ĐIỀU TRA THÀNH PHẦN LOÀI SÂU BAO (LEPIDOPTERA: PSYCHIDAE) VÀ KHẢO SÁT MỘT SỐ BIỆN PHÁP

PHÕNG TRỊ SÂU BAO PTEROMA PLAGIOPHLEPS

HAMPSON GÂY HẠI TRÊN CÂY DỪA NƯỚC

(NYPA FRUTICANS WURMB) Ở ĐỒNG

BẰNG SÔNG CỬU LONG

CầnThơ, 12/2011

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG

Sinh viên thực hiện:

Phan Tuấn Khanh MSSV: 3083860

Lớp: Bảo vệ thực vật– K34

ĐIỀU TRA THÀNH PHẦN LOÀI SÂU BAO (LEPIDOPTERA: PSYCHIDAE) VÀ KHẢO SÁT MỘT SỐ BIỆN PHÁP

PHÕNG TRỊ SÂU BAO PTEROMA PLAGIOPHLEPS

HAMPSON GÂY HẠI TRÊN CÂY DỪA NƯỚC

(NYPA FRUTICANS WURMB) Ở ĐỒNG

BẰNG SÔNG CỬU LONG

Cần Thơ, 12/2011

Trang 3

Luận văn tốt nghiệp kỹ sư ngành Bảo vệ Thực vật với đề tài:

“ĐIỀU TRA THÀNH PHẦN LOÀI SÂU BAO (LEPIDOPTERA: PSYCHIDAE) VÀ

KHẢO SÁT MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÕNG TRỊ SÂU BAO PTEROMA

PLAGIOPHLEPS HAMPSON GÂY HẠI TRÊN CÂY DỪA NƯỚC (NYPA FRUTICANS WURMB) Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG”

Do sinh viên Phan Tuấn Khanh thực hiện và đề nạp

Kính trình lên Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp

Cần thơ, ngày …… tháng … năm 2011

Cán bộ hướng dẫn

Ts Lê Văn Vàng

Trang 4

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

BỘ MÔN BẢO VỆ THỰC VẬT

Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp nhận luận văn tốt nghiệp Kỹ sư ngành Bảo Vệ Thực Vật với đề tài:

“ĐIỀU TRA THÀNH PHẦN LOÀI SÂU BAO (LEPIDOPTERA: PSYCHIDAE) VÀ

KHẢO SÁT MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÕNG TRỊ SÂU BAO PTEROMA

PLAGIOPHLEPS HAMPSON GÂY HẠI TRÊN CÂY DỪA NƯỚC (NYPA FRUTICANS WURMB) Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG”

Do sinh viên PHAN TUẤN KHANH thực hiện và bảo vệ trước Hội đồng

Ý kiến của Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp:

Luận văn tốt nghiệp được Hội đồng đánh giá ở mức:

DUYỆT KHOA Cần Thơ, ngày….tháng….năm 2011 Trưởng Khoa Nông Nghiệp & SHƯD Chủ tịch Hội đồng ……… ………

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu và

kết quả trong luận văn tốt nghiệp là trung thực và chưa từng được ai công bố trong

bất kỳ luận văn đại học nào trước đây

Tác giả luận văn

Phan Tuấn Khanh

Trang 6

TIỂU SỬ CÁ NHÂN

Họ và tên: Phan Tuấn Khanh

Ngày, tháng, năm sinh: 02/12/1990

Dân tộc: kinh

Họ và tên cha: Phan Văn Mảnh

Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị Chi

Quê quán: ấp 6, xã Hậu Lộc, huyện Tam Bình, Tỉnh Vĩnh Long

Quá trình học tập

Năm 1996 -2001: cấp 1 tại trường Tiểu Học Lê Văn Lăng

Năm 2001-2005: cấp 2 tại trường THPT Cấp 2-3 Cái Ngang

Năm 2005-2008: cấp 3 tại trường THPT Phan Văn Hòa

Năm 2008-2012: sinh viên ngành Bảo Vệ Thực Vật khóa 34, Khoa Nông nghiệp & SHƯD, Trường Đại học Cần Thơ

Trang 7

LỜI CẢM TẠ

Kính dâng!

Cha mẹ đã suốt đời tận tụy, lo lắng cho con ăn học nên người!

Thành kính biết ơn đến!

Thầy Lê Văn Vàng đã truyền đạt kiến thức, kinh nghiệm quý báu của mình;

hướng dẫn khắc phục những khó khăn trong suốt thời gian thực hiện đề tài

Đặc biệt cảm ơn!

Anh Huỳnh Phước Mẫn đã trực tiếp giúp đỡ, động viên, truyền đạt kinh

nghiệm trong suốt thời gian thực hiện đề tài Cũng như hỗ trợ giúp đỡ trong suốt quá trình thực hiện bố trí thí nghiệm ngoài đồng

Thân ái gửi về!

Tập thể lớp Bảo vệ Thực vật khóa 34, lời chúc tất cả sức khỏe, thành đạt

Xin nhận lời cảm ơn sâu sắc

Phan Tuấn Khanh

Trang 8

PHAN TUẤN KHANH 2011 Điều tra thành phần loài sâu bao (Lepidoptera:

Psychidae) và khảo sát một số biện pháp phòng trị sâu bao Pteroma plagiophleps Hampson gây hại trên cây dừa nước (Nypa fruticans Wurmb) ở đồng bằng sông

Cửu Long, Trường Đại học Cần Thơ, 38 trang Cán bộ hướng dẫn khoa học: Ts Lê Văn Vàng và Ths Huỳnh Phước Mẫn

TÓM LƢỢC

Đề tài: “Điều tra thành phần loài sâu bao (Lepidoptera: Psychidae) và khảo sát một số biện pháp phòng trị sâu bao Pteroma plagiophleps Hampson gây hại trên cây dừa nước (Nypa fruticans Wurmb) ở đồng bằng sông Cửu Long” được thực hiện từ tháng 7 năm 2010 đến tháng 9 năm 2011 tại bộ môn Bảo Vệ Thực Vật, khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, Trường Đại Học Cần Thơ và các địa bàn trồng dừa nước thuộc thành phố Cần Thơ, tỉnh Vĩnh Long và tỉnh Hậu Giang

Kết quả khảo sát ngoài đồng ghi nhận có 3 loài sâu bao gồm Pteroma plagiophleps, Metisa plana và Brachycyttarus griseus gây hại trên 96,7% số vườn cây dừa nước được khảo sát với sự xâm nhiễm ở mức độ +++ (>61% số lá con/tàu lá bị nhiễm) xảy ra ở 53,3% số vườn P plagiophleps hiện diện ở 90% số vườn điều tra trong khi tỉ lệ này ở M plana và B grisesus tương ứng là 20% và 6,7%

Trong điều kiện phòng thí nghiệm, biện pháp xử lý thuốc Reasgant 3,6EC có độ hữu hiệu diệt sâu cao nhất (ĐHH 100% ở thời điểm 4 NSKXL)

Kết quả khảo nghiệm ngoài đồng cho thấy Ammate 150 SC cho kết quả khá cao (ĐHH 90% ở thời điểm 9 NSKXL) và biện pháp phun nước có khả năng đưa vào các qui trình quản lý tổng hợp trên sâu bao

Thành trùng cái P plagiophleps trong mạng lưới nhộng có khả năng hấp dẫn thành trùng đực cao hơn gấp nhiều lần so với sự hấp dẫn riêng lẽ của chúng

Từ khoá: Pteroma plagiophleps, Metisa plana, Brachycyttarus griseus, bagworm, dừa nước, Nypa fructican

Trang 9

MỞ ĐẦU

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) với hệ thống sông ngòi dày đặc, cùng với đó

là sự phổ biến của cây dừa nước (Nypa fruticans Wurmb) có tác dụng trong ngăn

ngừa xói mòn đất ven hai bên bờ sông Dừa nước hầu như hiện diện ở khắp mọi nơi, đặc biệt hơn cây dừa nước còn góp phần đóng góp cho ngành du lịch bởi sự thu hút đối với du khách khi đến vùng sông nước Ở ĐBSCL, lá cây dừa nước được dùng

để trầm lá, phần bặp dừa thì được sử dụng làm dây, đặc biệt hơn trái dừa nước là một thực phẩm cũng khá ngon và bổ dưỡng Bên cạnh đó, ở một số nước ở Đông Nam Á đã khai thác giá trị kinh tế từ cây dừa nước đó là trích lấy đường từ bông cây dừa nước để sản xuất ethanol, năng suất ethanol có thể đạt đến 6500-20000 lít/ha/năm so với 5000-8000 lít/ha/năm nếu dùng mía đường, hay 2000 lít/ha/năm nếu dùng bắp (Biopact 2007) Qua đó cho thấy, dừa nước có thể là cây trồng có triển vọng để cải thiện thu nhập người dân Tuy vậy, hiện nay cây dừa nước đang bị

nhiều loài sâu bao gây hại nghiêm trọng, đặc biệt là loài Pteroma plagiophleps

Hampson

Trên thế giới, họ sâu bao (Lepidoptera: Psychidae) có khoảng 1000 loài đã được

báo cáo (Rhainds et al., 2009) Hầu hết những loài này đều phải hoàn tất sự phát

triển của mình trong một cái bao quanh cơ thể của nó (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2010)

Ở ĐBSCL loài Pteroma plagiophleps Hampson gây hại khá nghiêm trọng, tuy vậy

kết quả nghiên cứu các biện pháp để nhằm khống chế loài gây hại quan trọng này hầu như chưa được ghi nhận

Từ đó đề tài “Điều tra thành phần loài sâu bao (Lepidoptera: Psychidae) và khảo sát

một số biện pháp phòng trị sâu bao Pteroma plagiophleps Hampson gây hại trên cây dừa nước (Nypa fruticans Wurmb) ở đồng bằng sông Cửu Long” được thực

hiện nhằm cung cấp thêm thông tin về họ Psychidae và một số biện pháp để có thể

hạn chế sự gây hại của loài sâu bao Pteroma plagiophleps Hampson đối với cây dừa

nước Để có thể cung cấp thêm thông tin để bổ sung vào các giáo trình giảng dạy côn trùng

Trang 10

CHƯƠNG 1: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 1.1 Đặc điểm sinh thái học của sâu bao bộ Lepidoptera- họ Psychidae

Bộ Lepidoptera là một bộ rất lớn với khoảng 140.000 loài đã được ghi nhận, phân

bố rất rộng hiện diện hầu như khắp mọi nơi, thường với số lượng rất lớn Phần lớn

cơ thể, chân và cánh mang nhiều lông vảy nhỏ (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2010)

Trong bộ Lepidoptera, họ Psychidae có hơn 1000 loài đã được miêu tả và 300 chi phân bố toàn cầu (Sattler, 1991), hầu hết những loài này có đời sống bất thường

(Leonhardt et al., 1983), với một tỉ lệ lớn thành trùng cái là những côn trùng không

bay được (Roff and Fairbairn, 1991)

1.1.1 Một số đặc điểm phân loại

Họ Psychidae là một trong 5 họ hình thành nên tổng họ Tineoidae Thành trùng có dạng bướm đêm với kích thước từ nhỏ đến trung bình, chiều dài sải cánh khoảng 4

– 28 mm (Rhainds et al., 2009) Hiện nay, họ Psychidae được chia làm 10 họ phụ

đặc trưng bởi một số đặc điểm về hình thái và hành vi của thành trùng cái (Bảng 1)

1.1.2 Vòng đời

- Giai đoạn trứng

Họ Psychidae là một trong 5 họ hình thành nên tổng họ Tineoidae Thành trùng có dạng bướm đêm với kích thước từ nhỏ đến trung bình, chiều dài sải cánh khoảng 4 – 28 mm Thành trùng đực luôn luôn có cánh phát triển đầy đủ, thành trùng cái có

sự đa dạng về hình thái từ có cánh, cánh ngắn, không cánh, hoặc hình dạng gần

giống hình dạng của ấu trùng (Rhainds et al., 2009) Hiện nay, họ Psychidae được

chia làm 10 họ phụ đặc trưng bởi một số đặc điểm về hình thái và hành vi của thành trùng cái (Bảng 1)

- Giai đoạn ấu trùng

Ấu trùng thường xuất hiện cùng một thời điểm trong vỏ bao của thành trùng cái, và đôi khi nó ăn xác của của thành trùng mẹ (Ameen and Sultana, 1977), vỏ trứng

(Rhainds et al., 2009), hoặc các trứng khác (Rhainds and Ho, 2002) Sau khi trứng

Trang 11

nở một thời gian (có thể lên đến 5 ngày), ấu trùng rời khỏi vỏ bao của mẹ từ đầu nhỏ của bao (Entwistle, 1963), và một số ấu trùng có thể chết trước khi rời khỏi bao của thành trùng cái (Basri and Kevan, 1995a)

Bảng 1 Tóm tắt một số đặc điểm về hình thái và hành vi của thành trùng cái và nhộng đực

của 10 họ phụ của họ Psychidae (Rhainds et al., 2009)

Naryciinae + or - + + or - Kiểu 1 Xa or trên bao Trước: nhiều

Trong bao và/or trong vỏ nhộng

Trước: 1 Sau: 1

Ghi chú: +: hiện diện, -: không có, R: tiêu giảm, or: hoặc

Kiểu 1: thành trùng cái nhô ra từ vỏ bao với một phần vỏ nhộng kèm theo;

Kiểu 2: thành trùng cái không có vỏ nhộng kèm theo và rời bỏ vỏ bao;

Kiểu 3: thành trùng cái không có vỏ nhộng kèm theo và lưu lại trong vỏ bao;

Kiểu 4: thành trùng cái nhô ra chỉ một phần cơ thể (đầu và ngực) từ vỏ bao;

Kiểu 5: thành trùng cái vẫn còn bên trong vỏ bao

Một số yếu tố tăng sự phát tán của ấu trùng: mật số của loài cao (Rhainds et al.,

2002), sự thay lá của cây ký chủ (Cox and Potter, 1986), chất lượng nguồn thức ăn sẵn có kém (Moore and Hanks, 2004), và tác động gió (Ghent, 1999) Ấu trùng tăng

Trang 12

cường phạm vi phân tán bằng cách di chuyển đến những nơi cao trên cây (như ngọn cây, phía ngoài của cành…) trước khi thả tơ (Stephens, 1962; Entwistle, 1963; Cruttwell, 1974)

Bảng 2 Tóm tắt một số đặc điểm về vòng đời của 18 loài sâu bao (Rhainds et al., 2009)

Loài thành trùng Chiều dài

cái (mm) A

Thời gian sống (ngày) B

Cây ký chủ (số lƣợng)

Khả năng sinh sản (fecundity) A Psychidae

Ghi chú: A : Số liệu là giá trị trung bình của số liệu trong nhiều bài báo cáo khác nhau

B : Khoảng số liệu được tính dựa vào số liệu của nhiều báo cáo khác nhau

Mỗi vỏ bao đều có 2 đầu: đầu lớn và đầu nhỏ Đầu và chân ngực nhô ra ở đầu lớn của bao, cho phép ấu trùng ăn và di chuyển trên cây trồng; đầu nhỏ mở ra để thải

phân và da (Rhainds et al., 2009) Khi vừa chui đầu ra khỏi bao của bướm mẹ, ấu

trùng không có bao Để làm bao, ấu trùng dùng miệng cắt biểu bì lá và nhả tơ kết dính các mảnh vụng lại bao quanh cơ thể (Huỳnh Nguyễn Quốc Việt, 2011) Ấu

Trang 13

trùng duy trì không gian bên trong bao sạch sẽ và khô ráo trong suốt giai đoạn phát triển Điều kiện ẩm ướt kéo dài bên trong bao có thể là điều kiện để các loài nấm ký sinh phát triển (Kozhanchikov, 1956) Ấu trùng duy trì không gian bên trong bao sạch sẽ và khô ráo trong suốt giai đoạn phát triển (Huỳnh Nguyễn Quốc Việt, 2011)

Ấu trùng có khả năng sửa chữa bao bị hư, nhưng khả năng xây dựng một bao mới

thì rất hạn chế (Rhainds et al., 2009; Huỳnh Nguyễn Quốc Việt, 2011) Các loài

được ghi nhận ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, thời gian phát triển của ấu trùng

biến động từ 40 ngày (Pteroma plagiophleps Hampson) đến hơn 200 ngày (Oiketicus kirbyi Guilding) (Krishnan, 1977) (Bảng 2)

- Giai đoạn nhộng

Trước khi hoá nhộng, ấu trùng đính chặt các phần dưới của nó lên chất nền (lá cây, cành khô…) và đảo ngược vị trí của nó ở bên trong bao với đầu hướng xuống phía dưới (Davis, 1964; Huỳnh Nguyễn Quốc Việt, 2011); nếu ấu trùng không đảo ngược vị trí của nó, thành trùng cái thường không thể thực hiện được chức năng

sinh dục (Rhainds et al., 2009) Ấu trùng thường tìm kiếm nơi có mật số loài cao

để làm nhộng thành từng nhóm (Kozhanchikov, 1956)

Nhộng cái lớn hơn và khác biệt về hình thái học so với nhộng đực Giai đoạn nhộng của nhộng cái ngắn hơn so với nhộng đực (Entwistle, 1963; Basri and Kevan, 1995a; Huỳnh Nguyễn Quốc Việt, 2011)

- Giai đoạn thành trùng

Ngay trước khi vũ hóa, nhộng đực đẩy một phần nhộng ra ngoài vỏ bao (ở đầu nhỏ); thỉnh thoảng được hỗ trợ bởi một hàng gai ở bụng (đốt bụng 2 – 8), làm ngăn ngừa các trường hợp nhộng đực bị rơi xuống mặt đất (Neal, 1982) Thành trùng đực có hình thái điển hình như con ngài, thường với râu đầu phát triển rất mạnh, chân tương đối dài, miệng tiêu giảm Thành trùng đực có khả năng bay liên tục và hoạt động một vài giờ mỗi ngày, hoặc trong thời gian ban ngày hoặc ban đêm tùy thuộc vào loài (Davis, 1964)

Khoảng 1/2 loài có thành trùng cái không có cánh, có thể do bị ức chế trong quá trình phát triển tế bào trong đĩa cánh bị gây ra bởi các cơ quan máu ở ấu trùng ở các tuổi cuối (Niitsu, 2003) Thành trùng cái không cánh có chân phát triển đầy đủ

Trang 14

thường rời khỏi nhộng khi hoàn tất giai đoạn nhộng và bám trên bề mặt bên ngoài của bao trong suốt thời gian thành trùng (Davis, 1964) (Bảng 1) Độ dài của thành trùng cái biến động từ 6 – 34 mm tùy loài (Bảng 2)

Cả thành trùng đực và thành trùng cái không ăn Tuổi thọ thành trùng cái dài hơn (lên đến hai tuần) so với thành trùng đực (thường là 1 hoặc 2 ngày) (Turner, 1997; Huỳnh Nguyễn Quốc Việt, 2011)

1.1.3 Hoạt động bắt cặp

Con cái hấp dẫn con đực cùng loài trong một khoảng cách lớn bằng cách tiết ra

pheromone giới tính bao gồm các chiral ester (Gries et al., 2006) Thành trùng cái

bắt đầu bắt cặp ở ngày đầu sau vũ hóa (Huỳnh Nguyễn Quốc Việt, 2011) và khả năng hấp dẫn giới tính sẽ giảm theo ngày tuổi (Thangavelu and Gunasekaran, 1982) Sau khi bắt cặp thành trùng cái đẻ trứng và sống trong bao cho đến khi chết (Huỳnh Nguyễn Quốc Việt, 2011) Ở những ngày cuối, thành trùng cái sẽ di chuyển (thả) xuống mặt đất để chết nếu không thu hút được thành trùng đực (Basri and Kevan, 1995b)

Khi bị thu hút bởi pheromone của con cái chưa bắt cặp, con đực sẽ đáp xuống trên túi và chèn bụng của mình vào đầu nhỏ (con cái sẽ mở ra) của vỏ bao thành trùng cái để tiếp xúc với cơ quan sinh dục ở cuối bụng (Thangavelu and Gunasekaran,

1982; Leonhardt et al., 1983) Con cái chỉ giao phối một lần và chấm dứt hấp dẫn

ngay sau đó (Entwistle, 1963) Thành trùng cái sẽ từ chối giao phối nếu nó đã bắt cặp trước đó

Trang 15

xây dựng bao, ở một vài trường hợp nó cũng có thể là vật ngăn cản sự chui ra của

ấu trùng (Rhainds et al., 2009)

1.1.5 Sự sinh sản

Thành trùng cái sâu bao hoàn tất tất cả hoạt động sinh sản trong bao của nó, và hành vi này được xem như một phương pháp để đánh giá sự thích nghi trong tự

nhiên (Rhainds et al., 1999) Khả năng sinh sản của con cái không bắt cặp là không

Khả năng sinh sản của thành trùng cái có bắt cặp có thể được đánh giá bằng cách đếm số lượng trứng trong vỏ nhộng

Giống như loài sinh sản vô tính, loài sinh sản hữu tính không mất năng lượng trực tiếp liên quan đến sinh sản hữu tính (chỉ chờ đợi để bắt cặp), mặc dù một tỉ lệ cao thành trùng cái không bắt cặp có thể gián tiếp làm giảm tổng sản lượng sinh sản của

con cái (Rhainds et al., 2009)

1.1.6 Một số đặc điểm của Pteroma plagiophleps Hampson

- Ký chủ và phân bố

Theo Rhainds et al (2009) ghi nhận được P plagiophleps đã được báo cáo có 22

cây ký chủ thuộc các họ Arecaceae, Cannaceae, Euphorbiaceae, Fabaceae (Caesalpinioideae và Faboideae), Lamiaceae, Lauraceae, Myrtaceae, Punicaceae, Salicaceae, Theaceae, Ulmaceae (Nair, 2007) và họ Ochnaceae (Võ Thị Thu, 2010),

họ Combretaceae (Huỳnh Nguyễn Quốc Việt, 2011) Trong trường hợp nguồn thức

ăn từ cây ký chủ chính cạn kiệt chúng có thể tấn công lên những loài cây ký chủ mới (Huỳnh Nguyễn Quốc Việt, 2011)

Loài P plagiophleps phân bố tại Ấn Độ, Indonesia, Bangladesh, Philippin,

Malaysia và Thái Lan (Nair, 2007) và Việt Nam (Võ Thị Thu, 2010)

- Thiệt hại về kinh tế

Sâu bao, P plagiophleps là loài có khả năng gây hại quan trọng (Võ Thị Thu,

2010) Ấu trùng chỉ ăn phần mô của lá, không làm thủng lá; khi dừa nước bị hại nặng , các lá trên tàu chuyển sang màu vàng và trở nên rất khô Sau đó màu trên lá

sẽ chuyển sang màu trắng tàu lá sẽ khô và rụng đi (Huỳnh Nguyễn Quốc Việt, 2011) Khi mật số cao có thể tìm thấy hàng trăm con trên cây, chúng làm cho lá cây

Trang 16

khô và rụng đi Nair (2007), đã nghiên cứu về sự gây hại của loài này trên các vườn

trồng cây F moluccana được 3 năm tuổi ở Kerala, Ấn Độ Kết quả cho thấy chỉ có

khoảng 10% số cây là không bị nhiễm trong khi đó có đến 51% số cây có mức độ nhiễm thấp, 19% có mức độ trung bình và 11% có mức độ cao và 8% ở mức độ rất cao

- Một số đặc điểm sinh học và sinh thái

Loài P plagiophleps có thời gian ủ trứng kéo dài khoảng 10-11 ngày Ấu trùng có 5 tuổi trên cây dừa nước Nypa fructican Thời gian phát triển của ấu trùng kéo dài

khoảng 30-37 ngày Thời gian của từng tuổi 1 đến tuổi 5 lần lượt là 5-6 ngày, 3-4 ngày, 3-4 ngày, 5-6 ngày, 4-6 ngày Thời gian giai đoạn nhộng cái ngắn hơn so với nhộng đực lần lượt là 2-3 ngày so với 10-11 ngày Trong khi đó, thời gian sống của thành trùng cái dài hơn so với thành trùng đực lần lượt là 12-15 ngày so với 2-3 ngày Thời gian từ trứng đến thành trùng đực kéo dài 40 – 48 ngày Trong khi đó, thời gian từ trứng đến thành trùng cái từ 32-40 ngày (Huỳnh Nguyễn Quốc Việt, 2011)

Thành trùng đực là một loài bướm đêm hoạt động có kích thước nhỏ, chiều rộng sải cánh khoảng 11,6-14 mm, chiều dài thân là 4-5 mm Mắt kép màu đen to, râu hình

C

Hình 1 Thành trùng đực loài P plagiophleps A: râu đầu, C:

vân cánh trước, D: vân cánh sau (Huỳnh Nguyễn Quốc Việt, 2011); B: thành trùng đực (Nair, 2007)

D

Trang 17

Hình 2 Thành trùng cái loài P plagiophleps A: mặt bụng của thành trùng;

B: thành trùng trong vỏ bao; C, D: thành trùng trong vỏ nhộng

(Huỳnh Nguyễn Quốc Việt, 2011)

Thành trùng cái sống bên trong bao tương tự như ấu trùng, không có cánh và chân với đầu và các đốt ngực hợp lại với nhau Toàn bộ cơ thể có dạng hình ống dài khoảng 6,2-7,3 mm (Bảng 6) Phần đầu thon nhọn có màu đen Phần ngực và phần bụng gần như không tách biệt rõ (Hình 2) Lúc mới vũ hóa, thành trùng cái có màu trắng hơi vàng, về sau màu sắc cơ thể chuyển dần sang nâu nhạt trong có thể nhìn thấy được ống tiêu hóa Phần lớn cơ thể thành trùng cái là phần bụng mềm chứa nhiều trứng Sau khi vũ hóa, vỏ nhộng vẫn còn nằm lại bên trong bao và kích thước

cơ thể của thành trùng cái giảm dần theo ngày tuổi (Võ Thị Thu, 2010); Huỳnh Nguyễn Quốc Việt, 2011)

Khả năng sinh sản (fecundity) của thành trùng cái là 174 trứng (Howlader, 1990 – trích dẫn bởi Basri and Kevan, 1995a), 100 – 200 ấu trùng (Nair and Mathew, 1992), 75 ấu trùng (Võ Thị Thu, 2010)

- Thiên địch

Loài P plagiophleps có rất nhiều thiên địch, theo Nair (2007), có tổng cộng 18 loài

ong ký sinh thuộc bộ Hymenoptera đã được tìm thấy thuộc các họ như Braconidae, Chalcididae, Eulophidae, Eurytomidae và Ichneumonidae Võ Thị Thu (2010), đã

Trang 18

ghi nhận 3 loài thiên địch của P plagiophleps bao gồm ong ký sinh đùi to Brachymeria sp1 (họ Chalcididae), nhện Oxyopes sp và một loài ong ký sinh họ

Ichneumonidae

- Phòng trừ

Phun thuốc trực tiếp lên lá để diệt sâu Kết quả nghiên cứu của Varma et al (1989)

cho thấy hai loại thuốc cho hiệu quả cao bằng cách phun lên lá trong điều kiện phòng thí nghiệm là 0,05% a.i quinaphos và methyl parathion

1.1.7 Một số đặc điểm của Metisa plana Walker

- Ký chủ và phân bố

Ký chủ: M plana là cũng loài đa ký chủ, gây hại trên nhiều họ cây trồng khác nhau như họ Palmae, Papilionaceae, Rubiaceae, Theaceae và Combretaceae (Norman et al., 1994)

Phân bố tại Ấn Độ, Sri Lanka, Malaysia (Norman et al., 1994)

- Thiệt hại về kinh tế

Theo Basri và Kevan (1995a), loài Metisa plana là loài gây hại nghiêm trọng nhất

trên cây cọ dầu bởi vì nguy cơ bộc phát dịch hại này rất dễ xảy ra: năm 1975-1980

trên 11.900 ha (Wood, 1982), năm 1981-1985 trên 37.102 ha (Basri et al., 1988)

Chúng ăn phần lá và vỏ cây làm cây trơ trọi gây thiệt hại lên đến 43% - 44% (Wood, 1968)

- Một số đặc điểm sinh học

Vòng đời của Metisa plana khoảng 90 ± 1,2 ngày Trong đó, thời gian từ bắt cặp

đến trứng nở là 19,7 ± 0,3 ngày; khả năng đẻ trứng (fecundity) của thành trùng cái

là 158,3 ± 10,3 trứng; thời gian sống của thành trùng: thành trùng cái là 21,4 ± 0,3 ngày, thành trùng đực là 10 ± 0,4 ngày Ấu trùng có 6 – 7 tuổi (Basri and Kevan, 1995a)

- Thiên địch

Thành phần côn trùng thiên địch trên M plana rất phong phú gồm 6 loài ký sinh

(parasitoid), 6 loài siêu ký sinh (hyperparasitoid) thuộc bộ Hymenoptera trong các

Trang 19

họ như Braconidae, Chalcididae, Eulophidae, Eurytomidae và Ichneumonidae,

Elasmidae, Ceraphoronidae; và 1 loài ăn thịt (predator) Sycanus dichtomous (Hemiptera: Pentatomidae) đã được báo cáo Trong các loài ký sinh (Goryphus bunoh Gauld, Dolichogenidea metesae Nixon, Aulosaphes psychidevoru Muesebeck, Brachymeria carinata Joseph, Tetrastichus sp., Elasmus sp.), loài G bunoh có thời gian sống lâu nhất (47 ngày) Trong khi đó, P imbreus là loài siêu ký sinh (Paraphylax varius Walker, Pediobius anomalus Gahan, Pediobius imbreus Walker, Eurytoma sp., Aphanogmus hakonensix Ashmead, Eupelmus catoxanthae)

có thời gian sống lâu nhất (22 ngày) (Wood, 1968; Basri et al., 1995b)

1.2 Cây dừa nước

1.2.1 Nguồn gốc và phân bố

Dừa nước Nypa fructicans (Arecales: Aecaceae) có nguồn gốc ở nam và đông nam

Châu Á Nó phân bố phổ biến dọc theo bờ biển và sông ở Ấn Độ và Thái Bình Dương Ngoài ra, nó còn xuất hiện ở châu Úc, châu Phi, châu Mỹ, châu Âu Ở châu

Á, N fruticans hiện diện ở nhiều quốc gia đông nam Á như Philippin, Indonesia,

Thái Lan, Malaysia, Brunei, Việt Nam… (Lawrence and Dennis, 1988) Dừa nước được biết đến với rất nhiều tên khác nhau: Nypa, Nipah, Nipa, Attap chee, Mangrove palm, Golpata và Dani (Elizabeth, 2010) Hoá thạch và phấn hoa của dừa nước đã được xác định niên đại đến 70 triệu năm về trước (Lawrence and Dennis, 1988)

1.2.2 Đặc tính nông học

Thân cây dừa nước mọc ngang dưới lòng đất, chỉ có lá và cuống hoa mọc trên mặt đất Vì vậy, nó không được xem như một loại cây gỗ, mặc dù tán lá có thể cao đến 9 mét Hoa cái nở rộ thành chùm ở đầu cụm hoa hình cầu, hoa đực màu đỏ hoặc vàng dạng đuôi sóc trên những nhánh kế sau Khi hoa đã thụ phấn, những trái nhỏ ép vào nhau lớn lên thành như một quả bóng đường kính cỡ 25-30 cm trên mỗi đầu cuống (quài dừa) Hạt dừa nước khô già sẽ rơi rụng và phát tán theo thuỷ triều, có khi mọc mầm ngay khi trôi nổi Nypa có thể phát triển tốt ở điều kiện nước mặn và nước

ngọt, và có thể sống sót 1 thời gian ngắn trong điều kiện khô hạn (Joshi et al.,

2006)

Trang 20

Dừa nước thường được tìm thấy ở các bờ biển và hoàn toàn không ảnh hưởng trực tiếp đến hầu hết các mục đích sử dụng đất khác Chúng có thể làm giảm xói mòn, sạt lở đất và ảnh hưởng của bão Trong hệ sinh thái dừa nước, hệ sinh vật biển cũng hiện diện rất đa dạng (Elizabeth, 2010)

1.2.3 Lợi ích kinh tế và xã hội từ cây dừa nước

Dừa nước 4 năm tuổi có thể sử dụng để lấy nguyên liệu, sau đó nó tiếp tục cho năng suất đến hơn 50 năm hoặc nhiều hơn (Dalibard, 1999) “Sáp” dừa nước chứa 15% đường Nhiều nghiên cứu cho thấy nó có khả năng sản xuất 20 tấn đường/ha /năm (sản lượng đường của mía khoảng 5-15 tấn/ha) và năng suất có thể đạt đến 6500 -

20000 lít ethanol/ha/năm so với 5000-8000 lít nếu dùng mía đường, hay 2000 lít nếu dùng bắp (Biopact, 2007) Ở Malaysia, đường dừa nước có mùi vị thơm ngon là một mặt hàng xuất khẩu Đường dừa nước có thể được trích quanh năm, sản xuất

không bị đứt quãng bởi thay đổi cơ cấu mùa vụ và cây trồng (Joshi et al., 2006)

Sản phẩm từ dừa nước rất đa dạng và có thể cải thiện kinh tế cho người dân địa phương Bên cạnh là nguyên liệu để sản xuất đường và ethanol sinh học, nypa có rất nhiều cách sử dụng tuỳ theo vùng như: thực phẩm, thức uống, thức ăn cho gia súc;

vật liệu làm giấy quấn thuốc lá, dây thừng, xây nhà… (Joshi et al., 2006)

1.3 Đặc tính hoá học và công dụng của một số loại thuốc bảo vệ thực vật

1.3.1 Abamectin

Hình 3 Phương pháp trích nguyên liệu từ cây dừa

nước Nypa fruticans (Nguồn: Biopact, 2007)

Trang 21

Abamectin là tên thương mại của hỗn hợp các đồng phân của sản phẩm lên mem Avermectin B1 (Chứa >80% avermectin B1a và <20% B1b)

Thuốc thu được từ quá trình lên men chủng Streptomyces avermitilis Nó vừa là

thuốc trừ sâu, trừ nhện, còn dùng để diệt sâu ăn lá và nhện đỏ trên rau quả như khoai tây, cà chua… đồng thời diệt gián tiếp trong sát trùng gia dụng

Abamectin có độ độc II, LD50 là 300 mg/kg Ở Việt Nam, Abamectin được sử dụng tương đối nhiều trong thời gian gần đây, dùng để diệt các loài sâu tơ, sâu xanh, dòi đục lá, sâu vẽ bùa trên rau quả, bọ trĩ, rệp, sâu đục thân lúa… Thuốc thường gia công dạng nhũ dầu, bột thấm nước và hỗn hợp với các thuốc hoặc dầu khoáng Khả năng hỗn hợp: có thể pha chung với nhiều loại thuốc trừ sâu, bệnh khác (Phạm

Văn Biên et al., 2000)

1.3.2 Ammate 150SC

Hoạt chất: Indoxacarb

Công thức hoá học: C22H17CIF3N3O7

Tên hoá học: [(S)-methyl-7-choro-2,5-dihydro-2- [(methoxycarboxyl)

[4(trifluoromethoxy) phenyl]amino] carbonyl] indeno [1,2-e][1,3,4] oxadiazine-4a

Đặc tính:

- Thuốc có tác động tiếp xúc và vị độc, có tính thấm sâu Trong cơ thể của sâu, ion

Na+ đóng vai trò truyền các xung động về hệ thần kinh trung ương, từ đó tạo ra các phản xạ cần thiết để cơ thể hoạt động Indoxacarb đóng đường dẫn ion Na+ vào tế bào thần kinh nên các xung động thần kinh không được truyền về thần kinh trung ương, làm sâu ngừng ăn, tê liệt và chết

Trang 22

- Thuốc bám dính tốt trên bề mặt trơn láng và thấm nhanh vào cây trồng, ít bị phân hủy bởi ánh sáng mặt trời, khó bị rửa trôi Thuốc vẫn đạt hiệu quả khi nhiệt độ là

5oC hoặc nhiệt độ là 45oC, nhiệt độ càng cao thì thuốc càng phát huy tác dụng nhanh hơn

- Công dụng của thuốc: thuốc trừ sâu, phổ tác động rộng Thuốc có tác dụng trong trong giai đoạn ấu trùng, trứng Thuốc không gây tính kháng, không gây hại cho cây trồng Đối tượng đăng ký sử dụng: lúa, chè, hoa hồng

Trang 23

Chương 2: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP

2.1 Phương tiện

- Nguồn sâu bao gây hại được thu trực tiếp tại quận Bình Thủy- thành phố Cần Thơ

và huyện Tam Bình- tỉnh Vĩnh Long

- Phiếu điều tra bao gồm những thông tin: một số yếu tố liên quan đến sự hiện diện

và phát triển, và sự hiểu biết của nông dân về nhóm sâu bao gây hại

- Vật tư quan sát : kính lúp, máy chụp hình, thước đo,…

- Vật tư giữ mẫu: một số loại hoá chất, các hộp plastic và các hộp giấy đựng mẫu…

- Vật tư quan sát: vợt, kính lúp, máy chụp hình, lồng lưới, thước đo…

- Bẫy pheromone bao gồm một tấm dính (27 cm x 30 cm) và mái che (Takeda Chemical Ind., Ltd., Osaka, Nhật Bản)

- Dụng cụ nuôi ấu trùng: hộp nhựa, đĩa petri, giấy thấm, gòn thấm nước Cồn 700,

960 dùng để khử trùng dụng cụ và tẩy mẫu cùng một số vật liệu cần thiết khác sử dụng trong phòng thí nghiệm như nhiệt kế, ẩm độ kế…

- Nguồn thức ăn: lá cây dừa nước được thu tại Bình Thủy- thành phố Cần Thơ

- Các loại thuốc trừ sâu hóa học và sinh học cần cho thí nghiệm

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thời gian và địa điểm

- Thời gian thực hiện đề tài: từ tháng 7/2010 đến tháng 9/2011

Hình 4 Cấu tạo của bẫy pheromone;

A: mái che, B: tấm dính

A

B

Ngày đăng: 22/02/2014, 20:48

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Tóm tắt một số đặc điểm về hình thái và hành vi của thành trùng cái và nhộng đực - Điều tra thành phần loài sâu bao (Lepidoptera: Psychidae) và khảo sát một số biện pháp phòng trị sâu bao Pteroma plagiophleps Hampson gây hại trên cây dừa nước (Nypa fruticans Wurmb) ở đồng bằng sông Cửu Long
Bảng 1. Tóm tắt một số đặc điểm về hình thái và hành vi của thành trùng cái và nhộng đực (Trang 11)
Bảng 2. Tóm tắt một số đặc điểm về vòng đời của 18 loài sâu bao (Rhainds et al., 2009) Loài thành trùng Chiều dài - Điều tra thành phần loài sâu bao (Lepidoptera: Psychidae) và khảo sát một số biện pháp phòng trị sâu bao Pteroma plagiophleps Hampson gây hại trên cây dừa nước (Nypa fruticans Wurmb) ở đồng bằng sông Cửu Long
Bảng 2. Tóm tắt một số đặc điểm về vòng đời của 18 loài sâu bao (Rhainds et al., 2009) Loài thành trùng Chiều dài (Trang 12)
Hình 1. Thành trùng đực loài P. plagiophleps. A: râu đầu, C: - Điều tra thành phần loài sâu bao (Lepidoptera: Psychidae) và khảo sát một số biện pháp phòng trị sâu bao Pteroma plagiophleps Hampson gây hại trên cây dừa nước (Nypa fruticans Wurmb) ở đồng bằng sông Cửu Long
Hình 1. Thành trùng đực loài P. plagiophleps. A: râu đầu, C: (Trang 16)
Hình 2. Thành trùng cái loài P. plagiophleps. A: mặt bụng của thành trùng; B:  thành  trùng  trong  vỏ  bao; C,  D:  thành  trùng  trong  vỏ  nhộng - Điều tra thành phần loài sâu bao (Lepidoptera: Psychidae) và khảo sát một số biện pháp phòng trị sâu bao Pteroma plagiophleps Hampson gây hại trên cây dừa nước (Nypa fruticans Wurmb) ở đồng bằng sông Cửu Long
Hình 2. Thành trùng cái loài P. plagiophleps. A: mặt bụng của thành trùng; B: thành trùng trong vỏ bao; C, D: thành trùng trong vỏ nhộng (Trang 17)
Hình 3. Phương pháp trích nguyên liệu từ cây dừa nước Nypa fruticans. (Nguồn: Biopact, 2007) - Điều tra thành phần loài sâu bao (Lepidoptera: Psychidae) và khảo sát một số biện pháp phòng trị sâu bao Pteroma plagiophleps Hampson gây hại trên cây dừa nước (Nypa fruticans Wurmb) ở đồng bằng sông Cửu Long
Hình 3. Phương pháp trích nguyên liệu từ cây dừa nước Nypa fruticans. (Nguồn: Biopact, 2007) (Trang 20)
- Vật tư quan sát: kính lúp, máy chụp hình, thước đo,… - Điều tra thành phần loài sâu bao (Lepidoptera: Psychidae) và khảo sát một số biện pháp phòng trị sâu bao Pteroma plagiophleps Hampson gây hại trên cây dừa nước (Nypa fruticans Wurmb) ở đồng bằng sông Cửu Long
t tư quan sát: kính lúp, máy chụp hình, thước đo,… (Trang 23)
Hình 5. Ấu trùng sâu bao được nuôi trong hộp nhựa có chứa các đoạn lá dừa nước - Điều tra thành phần loài sâu bao (Lepidoptera: Psychidae) và khảo sát một số biện pháp phòng trị sâu bao Pteroma plagiophleps Hampson gây hại trên cây dừa nước (Nypa fruticans Wurmb) ở đồng bằng sông Cửu Long
Hình 5. Ấu trùng sâu bao được nuôi trong hộp nhựa có chứa các đoạn lá dừa nước (Trang 25)
Bảng 3. Các nghiệm thức trong thí nghiệm ảnh hưởng của các biện pháp xử - Điều tra thành phần loài sâu bao (Lepidoptera: Psychidae) và khảo sát một số biện pháp phòng trị sâu bao Pteroma plagiophleps Hampson gây hại trên cây dừa nước (Nypa fruticans Wurmb) ở đồng bằng sông Cửu Long
Bảng 3. Các nghiệm thức trong thí nghiệm ảnh hưởng của các biện pháp xử (Trang 26)
Hình 6. Nhộng cái được tách ra các đĩa petri để theo dõi - Điều tra thành phần loài sâu bao (Lepidoptera: Psychidae) và khảo sát một số biện pháp phòng trị sâu bao Pteroma plagiophleps Hampson gây hại trên cây dừa nước (Nypa fruticans Wurmb) ở đồng bằng sông Cửu Long
Hình 6. Nhộng cái được tách ra các đĩa petri để theo dõi (Trang 27)
Hình 7. Cách bố trí các bẫy pheromome ở nghiệm thức 3 bướm cái - Điều tra thành phần loài sâu bao (Lepidoptera: Psychidae) và khảo sát một số biện pháp phòng trị sâu bao Pteroma plagiophleps Hampson gây hại trên cây dừa nước (Nypa fruticans Wurmb) ở đồng bằng sông Cửu Long
Hình 7. Cách bố trí các bẫy pheromome ở nghiệm thức 3 bướm cái (Trang 28)
Bảng 5. Các nghiệm thức trong thí nghiệm khảo sát và đánh giá hiệu lực của một - Điều tra thành phần loài sâu bao (Lepidoptera: Psychidae) và khảo sát một số biện pháp phòng trị sâu bao Pteroma plagiophleps Hampson gây hại trên cây dừa nước (Nypa fruticans Wurmb) ở đồng bằng sông Cửu Long
Bảng 5. Các nghiệm thức trong thí nghiệm khảo sát và đánh giá hiệu lực của một (Trang 28)
Kết quả trình bày trong biểu đồ hình 8 cho thấy 100% hộ nông dâ nở Vĩnh Long, 90% hộ nông dân ở Hậu Giang và 100% hộ nông dân ở cần Thơ được điều tra đều  nhận biết được sự gây hại của sâu bao, chứng tỏ sâu bao hiện diện rất phổ biến trên  cây dừa nước - Điều tra thành phần loài sâu bao (Lepidoptera: Psychidae) và khảo sát một số biện pháp phòng trị sâu bao Pteroma plagiophleps Hampson gây hại trên cây dừa nước (Nypa fruticans Wurmb) ở đồng bằng sông Cửu Long
t quả trình bày trong biểu đồ hình 8 cho thấy 100% hộ nông dâ nở Vĩnh Long, 90% hộ nông dân ở Hậu Giang và 100% hộ nông dân ở cần Thơ được điều tra đều nhận biết được sự gây hại của sâu bao, chứng tỏ sâu bao hiện diện rất phổ biến trên cây dừa nước (Trang 30)
Hình 9. Mục đích sử dụng của các sản phẩm từ cây dừa nước - Điều tra thành phần loài sâu bao (Lepidoptera: Psychidae) và khảo sát một số biện pháp phòng trị sâu bao Pteroma plagiophleps Hampson gây hại trên cây dừa nước (Nypa fruticans Wurmb) ở đồng bằng sông Cửu Long
Hình 9. Mục đích sử dụng của các sản phẩm từ cây dừa nước (Trang 31)
không phổ biến, chiếm 6,7% (Hình 12). - Điều tra thành phần loài sâu bao (Lepidoptera: Psychidae) và khảo sát một số biện pháp phòng trị sâu bao Pteroma plagiophleps Hampson gây hại trên cây dừa nước (Nypa fruticans Wurmb) ở đồng bằng sông Cửu Long
kh ông phổ biến, chiếm 6,7% (Hình 12) (Trang 32)
plagiophleps, Metisa plana, Brachycyttarus griseus (Hình 10). Trong đó, lồi P. plagiophleps gần như hiện diện ở hầu hết các địa bàn điều tra, chiếm 90%; loài M - Điều tra thành phần loài sâu bao (Lepidoptera: Psychidae) và khảo sát một số biện pháp phòng trị sâu bao Pteroma plagiophleps Hampson gây hại trên cây dừa nước (Nypa fruticans Wurmb) ở đồng bằng sông Cửu Long
plagiophleps Metisa plana, Brachycyttarus griseus (Hình 10). Trong đó, lồi P. plagiophleps gần như hiện diện ở hầu hết các địa bàn điều tra, chiếm 90%; loài M (Trang 32)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w