Về mặt kinh tế, tỷ lệ thất nghiệp gia tăng làm cho tỷ lệ sản lượng bị bỏ đi hoặc không sản xuất gia tăng.. Bản chất của thất nghiệp: Theo tổ chức Lao động quốc tế ILO, “Thất nghiệp là tì
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
BÀI TẬP LỚN HỌC PHẦN KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC-LÊNIN
ĐỀ TÀI: Trình bày lý luận của Chủ nghĩa Mác Lênin về thất nghiệp và liên hệ
với thực tiễn ở Việt Nam.
Họ và tên sinh viên :
Hà Nội, 4/2022
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU
Theo nhà triết học Jane Addams:” Trong tất cả các khía cạnh của sự khốn cùng của xã hội, không có gì đau lòng như thất nghiệp” Cho thấy, thất nghiệp một vấn đề đáng quan tâm của toàn nhân loại Mặc dù xã hội ngày càng hiện đại đáp ứng được nhiều nhu cầu tiện ích cho con người nhưng việc người lao động thiếu việc làm lại có xu hướng tăng lên Tình trạng thất nghiệp ngày càng trở nên phức tạp ở nhiều nước, trong đó có Việt Nam
Ở Việt Nam, vấn nạn thất nghiệp đã xuất hiện từ thời kì chuyển đổi nền kinh
tế cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường So với thế giới tỷ lệ thất nghiệp ở nước ta có xu hướng giảm nhưng con số tuyệt đối lại có sự gia tăng không nhỏ Đây là một thách thức lớn đối với đất nước chúng ta vì Việt Nam đang có cơ cấu dân số trẻ với độ tuổi lao động đầy tiềm năng, số lượng lao động đông đúc Tình trạng thất nghiệp ngày càng tăng sẽ gây tổn thất cho nền kinh tế, cũng như xã hội Về mặt kinh tế, tỷ lệ thất nghiệp gia tăng làm cho tỷ lệ sản lượng bị bỏ
đi hoặc không sản xuất gia tăng Về mặt xã hội, thất nghiệp gây ra nhiều tổn thất nặng nề về con người, tâm lý và xã hội
Để giải quyết được vấn nạn to lớn này chúng ta cần phải tìm hiểu nguyên nhân thực trạng và cách thức giải quyết hợp lý Cùng với sự tìm hiểu về những lí luận của chủ nghĩa Mác-Lênin chúng ta sẽ tìm hiểu và phân tích kĩ càng hơn về vấn đề thất nghiệp ở độ tuổi lao động sau đó tìm ra cách giải quyết vấn đề này
Ở bài tập lớn này, em xin trình bày về hai vấn đề chính gồm có quan điểm của Mác-Lênin về thất nghiệp và phân tích tình trạng thất nghiệp ở Việt Nam đặc biệt là tình trạng thất nghiệp ở thanh niên từ 15 đến 24 tuổi
Trang 3MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 1
Lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về thất nghiệp: 2
1 Bản chất của thất nghiệp: 3
2 Nguyên nhân gây ra thất nghiệp: 4
3 Các hình thái của nhân khẩu thừa: 6
I Thực trạng thất nghiệp ở Việt Nam nói chung và thất nghiệp ở thanh niên từ 15 đến 24 tuổi tại Việt Nam nói riêng: 6
1 Thực trạng thất nghiệp ở Việt Nam: 6
2 Tỉ lệ thất nghiệp ở thanh niên từ 15 đến 24 tuổi ở Việt Nam hiện nay: 11
3 Nguyên nhân thất nghiệp ở thanh niên từ 15 đến 24 tuổi: 12
4 Giải pháp: 14
4.1 Về phía người lao động: 14
4.2 Về phía nhà tuyển dụng: 15
4.3 Về phía nhà nước: 15
KẾT LUẬN 16
TÀI LIỆU THAM KHẢO 17
2
Trang 4Lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về thất nghiệp:
1 Bản chất của thất nghiệp:
Theo tổ chức Lao động quốc tế (ILO), “Thất nghiệp là tình trạng tồn tại một số người trong lực lượng lao động muốn làm việc nhưng không thể tìm được việc làm
ở mức lương thịnh hành” Tỉ lệ thất nghiệp là phần trăm của số người thất nghiệp trên tổng số lực lượng lao động xã hội
Nạn thất nghiệp chỉ xảy ra ở xã hội tư bản trong suốt quá trình hình thành lịch sử loài người Trong xã hội nguyên thuỷ, không xảy ra tình trạng thất nghiệp bởi việc duy trì trật tự bày đàn đòi hỏi các thành viên đều phải làm việc Để đảm bảo mọi người đều có việc làm, ở xã hội phong kiến châu Âu họ thường kế thừa tài sản đất đai từ cha mẹ Ngay cả trong xã hội chủ nô, khi nô lệ bị coi là tài sản của chủ nô, chủ nô không bao giờ để tài sản của họ được rỗi rãi trong thời gian dài Các nền kinh tế theo học thuyết Mác – Lênin cố gắng tạo công ăn việc làm cho mọi người, thậm chí mở rộng bộ máy nếu cần thiết (thực tế này có thể được gọi là thất nghiệp từng phần hoặc thất nghiệp ẩn, nhưng nó đảm bảo rằng mọi người tiếp tục có thu nhập từ việc làm)
Trong xã hội tư bản, lợi nhuận chính là mục tiêu tối thượng của giới chủ Mặt khác, giới chủ không phải chịu trách nhiệm trong việc sa thải người lao động nên
họ chấp nhận tình trạng thất nghiệp, không những thế họ còn có thể được hưởng lợi
từ tình trạng thất nghiệp Người lao động không có nguồn lực sản xuất phải chấp nhận đi làm thuê hoặc thất nghiệp
Thất nghiệp được giải thích khác nhau theo từng học thuyết kinh tế khác nhau Theo kinh tế học Keynes, thất nghiệp được giải thích rằng nhu cầu yếu sẽ dẫn đến sản xuất giảm và sa thải công nhân Một số kinh tế học khác cho rằng vấn đề cơ cấu ảnh hưởng đến thị trường lao động Theo kinh tế học cổ điển và tân cổ điển có xu hướng giải thích các áp lực thị trường Những thứ đến từ bên ngoài như lương tối thiểu, thuế, các quy định hạn chế thuê nhân công Chủ nghĩa Mác giải thích thất
Trang 5nghiệp là giúp duy trì lợi nhuận doanh nghiệp và chủ nghĩa tư bản Các quan điểm khác nhau góp phần tạo nên một cái nhìn toàn diện về thất nghiệp
2 Nguyên nhân gây ra thất nghiệp:
C.Mác không phải là người đầu tiên nghiên cứu về vấn nạn thất nghiệp mà trước C.Mác đã có không ít nhà kinh tế học đã lý giải về nguyên nhân của nạn thất nghiệp Nhưng C.Mác lại là người đầu tiên giải thích chính xác và đầy đủ nhất về nguyên nhân gây ra thất nghiệp bằng cách vận dụng quan điểm triết học và thực tiễn
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, để lý giải thất nghiệp có thể lý giải bằng quá trình tích luỹ tư bản Tích luỹ tư bản là sự chuyển hoá một phần giá trị thặng dư thành tư bản Về bản chất, tích luỹ tư bản là quá trình tái sản xuất mở rộng
tư bản chủ nghĩa thông qua việc chuyển hoá thặng dư thành tư bản phụ thêm để tiếp tục mở rộng sản xuất kinh doanh thông qua mua thêm hàng hoá sức lao động,
mở mang nhà xưởng, mua thêm nguyên-vật liệu, trang bị máy móc, thiết bị,… Quá trình tích luỹ trong nền kinh tế thị trường tư bản dẫn tới làm tăng cấu tạo hữu cơ của tư bản
Cấu tạo tư bản dùng để mô tả sự tồn tại và biểu hiện ra bên ngoài dưới dạng cấu trúc vật chất và cấu trúc giá trị Cấu tạo tư bản gồm có cấu tạo giá trị và cấu tạo kỹ thuật Cấu tạo giá trị là tỉ lệ giữa lượng giá trị tư bản bất biến và lượng giá trị tư bản khả biến Nếu quan sát qua hình thái hiện vật thì mối quan hệ tỉ lệ giữa số lượng tư liệu sản xuất và số lượng sức lao động được coi là cấu tạo kỹ thuật
Cấu tạo kỹ thuật và cấu tạo giá trị có mỗi quan hệ chặt chẽ với nhau Khi cấu tạo
kỹ thuật thay đổi sẽ làm cho cấu tạo giá trị thay đổi Để thể hiện mối quan hệ của chúng C.Mác đã sử dụng một phạm trù khác đó là cấu tạo hữu cơ của tư bản Cấu tạo hữu cơ của tư bản là cấu tạo giá trị được quyết định bởi cấu tạo kỹ thuật và phản ánh sự biến đổi của cấu tạo kỹ thuật của tư bản
Trong quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản, cấu tạo hữu cơ luôn có xu hướng tăng do cấu tạo kỹ thuật cũng vận động theo xu hướng tăng lên về lượng Sự gia
4
Trang 6tăng của cấu tạo hữu cơ thể hiện ở chỗ tư bản khả biến có xu hướng giảm tương đối
so với tư bản bất biến Sự biến đổi này đã dẫn đến hậu quả là thừa nhân khẩu ( đội quân thất nghiệp)
Như mọi người đã biết, mục tiêu cuối cùng của giới chủ là lợi nhuận, đồng thời lợi nhuận cũng là động cơ, động lực của hoạt động sản xuất và kinh doanh trong nền kinh tế thị trường C.Mác đã từng khái quát rằng:” Giá trị thặng dư, được quan niệm là con đẻ của toàn bộ tư bản ứng trước, mang hình thái chuyển hoá là lợi nhuận” Như vậy, các doanh nghiệp sẽ tìm mọi cách làm tăng giá trị thặng dư và sử dụng nó để thúc đẩy quá trình tích luỹ tư bản và phát triển quy mô sản xuất, từ đó giúp tối đa hoá lợi nhuận Việc sử dụng máy móc trong quá trình sản xuất thay thế
vị trí con người dẫn đến hậu quả là dư thừa lao động gây nên tình trạng thất nghiệp Quy mô tích lũy tư bản phụ thuộc vào tỷ lệ phân chia giữa tích lũy và tiêu dùng với khối lượng giá trị thặng dư nhất định Nếu tỷ lệ giữa tích lũy và tiêu dùng đã được xác định thì quy mô tích luỹ tư bản phụ thuộc vào khối lượng giá trị thặng dư Các nhân tố ảnh hưởng đến quy mô tích luỹ có thể lý giải cho thất nghiệp gồm:
Thứ nhất, trình độ khai thác sức lao động Thông thường nhà tư bản phải đầu tư thêm máy móc, thiết bị và nhân công để tăng quy mô giá trị thặng dư Tuy nhiên, hầu hết các nhà tư bản không tăng thêm số lượng máy móc, thiết bị hay tăng thêm
số lượng công nhân mà họ sử dụng các biện pháp cắt giảm tiền công, tăng ca, tăng cường độ lao dộng đồng thời sử dụng triệt để công suất máy móc hiện có Họ chỉ tăng số nguyên liệu tương ứng để sản suất Bằng cách này, giá trị thặng dư tăng lên, quy mô sản xuất cũng được mở rộng, nhưng điều này không những không tạo ra nhiều công việc hơn mà ngược lại còn khiến cho nhà tư bản bóc lột người lao động nhiều hơn
Thứ hai, năng suất lao động xã hội Năng suất lao động xã hội tăng lên thì giá cả
tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng giảm Sự giảm này đem lại hai hệ quả cho tích luỹ: Một là, với khối lượng giá trị thặng dư nhất định, phần dành cho tích luỹ có thể lấn sang phần tiêu dùng, trong khi sự tiêu dùng của nhà tư bản không giảm mà vẫn
Trang 7có thể bằng hoặc cao hơn trước Hai là, một lượng giá trị thặng dư nhất định dành cho tích luỹ cũng có thể chuyển hóa thành một khối lượng tư liệu sản xuất và sức lao động phụ thêm nhiều hơn trước
Những tiến bộ của khoa học và công nghệ đã góp phần to lớn trong quá trình tăng năng suất lao động Nhưng nếu doanh nghiệp sử dụng máy móc một cách có hiệu quả thì sẽ làm giảm công việc của người lao động trong sản xuất đồng thời cũng dẫn tới hệ quả là số lượng công nhân được yêu cầu sử dụng ít hơn, để sản xuất một số lượng sản phẩm nhất định
Như vậy, có thể kết luận rằng: quá trình tích luỹ tư bản có tính hai mặt, một mặt thể hiện tích luỹ sự giàu sang về phía giai cấp tư sản; mặt khác tích luỹ sự bần cùng
về phía giai cấp công nhân làm thuê Cơ cấu tư bản ngày càng phát triển, do đó cầu tương đối về lao động có xu hướng giảm, đó là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng nhân khẩu thừa tương đối( thất nghiệp)
3 Các hình thái của nhân khẩu thừa:
Nhân khẩu thừa có 3 hình thái cơ bản:
- Nhân khẩu thừa lưu động là loại lao động bị sa thải ở xí nghiệp này, nhưng lại tìm được việc làm ở xí nghiệp khác Nói chung, số này chỉ mất việc làm từng lúc
- Nhân khẩu thừa tiềm tàng là nhân khẩu thừa trong nông nghiệp – đó là những người nghèo ở nông thôn, thiếu việc làm và cũng không thể tìm được việc làm trong công nghiệp, phải sống vất vưởng
- Nhân khẩu thừa ngừng trệ là những người hầu như thường xuyên thất
nghiệp, thỉnh thoảng mới tìm được việc làm tạm thời với tiền công rẻ mạt, sống lang thang, tạo thành tầng lớp dưới đáy của xã hội
I Thực trạng thất nghiệp ở Việt Nam nói chung và thất nghiệp ở thanh niên
từ 15 đến 24 tuổi tại Việt Nam nói riêng:
1 Thực trạng thất nghiệp ở Việt Nam:
6
Trang 8Sáng ngày 12/4/2022, Tổng cục Thống kê tổ chức họp báo công bố tình hình lao động, việc làm quý I năm 2022 Theo báo cáo, thị trường lao động quý I năm 2022
đã dần phục hồi trở lại sau chiến lược thích ứng an toàn và tăng độ phủ vắc xin Tỷ
lệ thất nghiệp và thiếu việc làm trong độ tuổi lao động mặc dù cao hơn so với cùng
kỳ năm trước nhưng đều giảm so với quý trước
Trong quý I năm 2022, mặc dù cả nước vẫn còn hơn 16,9 triệu người từ 15 tuổi trở lên chịu tác động tiêu cực của đại dịch Covid-19 nhưng con số này đã giảm 7,8 triệu người so với quý trước Theo kết quả điều tra ghi nhận đây là mức giảm mạnh nhất kể từ khi nước ta chứng kiến sự bùng phát của đại dịch Covid-19 Trong tổng
số người bị tác động tiêu cực bởi đại dịch, có 0,9 triệu người bị mất việc, chiếm 1,2%; 5,1 triệu người phải tạm nghỉ/ tạm ngừng sản xuất kinh doanh, chiếm 6,7%; 5,7 triệu người bị cắt giảm giờ làm hoặc buộc phải nghỉ giãn việc, nghỉ luân phiên, chiếm 7,6% và 13,7 triệu lao động bị giảm thu nhập, chiếm 18,3%
Số người từ 15 tuổi trở lên bị ảnh hưởng tiêu cực,
quý IV năm 2021 và quý I năm 2022
Đơn vị: Triệu người
Với nỗ lực triển khai các hoạt động sản xuất, kinh doanh, đời sống xã hội, sớm khắc phục những khó khăn, thách thức, tận dụng cơ hội để đẩy nhanh quá trình phục hồi và phát triển kinh tế – xã hội của đất nước đã có hiệu quả rõ rệt đối với thị trường lao động Việt Nam Số lao động bị ảnh hưởng tiêu cực bởi đại dịch
Covid-19 đã giảm mạnh
Trang 9Theo Nghị quyết số 68/NQ-CP, Nghị quyết số 126/NQ-CP triển khai kịp thời đã
hỗ trợ người sử dụng lao động vay vốn trả lương cho người lao động, hỗ trợ tích cực cho doanh nghiệp giảm bớt khó khăn, góp phần phục hồi sản xuất, kinh doanh cho người sử dụng lao động, đảm bảo phục hồi, duy trì việc làm cho người lao động Hiện nay, các doanh nghiệp đang bước vào giai đoạn phục hồi sản xuất kinh doanh; các cấp, các ngành đang tập trung triển khai các chính sách hỗ trợ theo Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 30/01/2022 của Chính phủ về Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế – xã hội; trong đó bao gồm các giải pháp cụ thể như hỗ trợ người lao động quay trở lại thị trường lao động, người lao động đang làm việc tại doanh nghiệp Những chính sách này đã cải thiện tình trạng thiếu việc làm của người lao động quý đầu năm 2022, tiếp nối với thành quả phục hồi đã ghi nhận được ở quý
IV năm 2021 Số người thiếu việc làm trong độ tuổi quý I năm 2022 là khoảng 1,3 triệu người, giảm 135,2 nghìn người so với quý trước và tăng 357,5 nghìn người so với cùng kỳ năm trước Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi quý I năm
2022 là 3,01%, giảm 0,36 điểm phần trăm so với quý trước và tăng 0,81 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi ở khu vực thành thị thấp hơn so với khu vực nông thôn (tương ứng là 2,39% và 3,40%)
Số người và tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động
theo quý, giai đoạn 2020-2022
8
Trang 10Tỷ lệ thiếu việc làm giữa các vùng kinh tế - xã hội: cao nhất là ở vùng Bắc Trung
Bộ và Duyên hải miền Trung với 4,23%; tiếp đến là vùng Đồng bằng sông Cửu Long với 4,0% Đặc biệt, Đông Nam Bộ đã chuyển mình từ vùng có tỷ lệ thiếu việc làm cao thứ hai ở quý trước sang vùng có tỷ lệ thấp nhất ở quý này (quý IV năm 2021: 4,61%; quý I năm 2022: 1,60%)
Trong ba khu vực kinh tế, lao động thiếu việc làm trong độ tuổi ở khu vực dịch
vụ trong quý I năm 2022 không còn chiếm tỷ trọng cao nhất như quý trước Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản là khu vực có tỷ trọng thiếu việc làm cao nhất trong quý này với 37,3% (tương đương với 496,3 nghìn người thiếu việc làm); tiếp theo là khu vực dịch vụ chiếm tỷ trọng 35,6% (khoảng 472,9 nghìn người); khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm tỷ trọng thấp nhất với 27,1% (khoảng 359,6 nghìn người) So với quý trước, số lao động thiếu việc làm trong độ tuổi quý I năm 2022 giảm ở khu vực công nghiệp, xây dựng và khu vực dịch vụ (tương ứng giảm 88,5 nghìn người và giảm 58,1 nghìn người) và tăng ở khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản (tăng 11,3 nghìn người) Tuy nhiên, so với cùng kỳ năm trước, số lao động thiếu việc làm ở cả ba khu vực kinh tế đều tăng lên, khu vực dịch vụ tăng 159,7 nghìn người; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 126,9 nghìn người và khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 70,8 nghìn người
Tình trạng thiếu việc làm đã được cải thiện đáng kể, đặc biệt ở khu vực dịch vụ
Tỷ lệ thiếu việc làm giảm mạnh và đang dần trở lại trạng thái như đã quan sát được
ở thời kỳ trước khi đại dịch xảy ra
Theo tinh thần của Nghị quyết 11/NQ-CP của các cấp, các ngành, các địa phương cùng với các chính sách nới lỏng giãn cách xã hội và hoàn thành tiêm vắc xin trong những tháng cuối năm 2021 và đầu năm 2022 đã tạo điều kiện cho thị trường lao động từng bước phục hồi và đạt được mức tăng trưởng khá Chính vì vậy, tình hình thất nghiệp trong quý I năm 2022 khả quan hơn, thay vì trước đây dịch bệnh phức tạp, người lao động khó tìm việc thì nay họ đã có thể tham gia vào thị trường lao động một cách thuận lợi hơn Số người thất nghiệp trong độ tuổi lao