Đề trở thành hàng hóa một vật cần phải có: - Tính hữu dụng đối với người dùng - Giá trị kinh tế, nghĩa là được chi phí bởi lao động - Sự hạn chế để đạt được nó, nghĩa là độ khan hiếm b
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN VIỆN THƯƠNG MẠI VÀ KINH TẾ QUỐC TẾ
-*** -BÀI TẬP LỚN MÔN: KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC LÊ NIN
ĐỀ BÀI: Lí luận về giá trị hàng hóa và vận dụng trong việc nâng cao năng
lực cạnh tranh của kinh tế Việt Nam.
Họ tên: Phạm Thị Huyền
Mã sinh viên: 11212751
Lớp tín chỉ: Kinh tế chính trị Mác Lenin (221) _10
GV hướng dẫn: PGS.TS Tô Đức Hạnh
Hà Nội - 4/2022
Trang 2Mục lục
I Lí luận về giá trị hàng hóa 1
1 Hàng hóa 1
a) Khái niệm 1
b) Các thuộc tính cơ bản của giá trị hàng hóa 1
2 Lượng giá trị của hàng hóa 3
a) Thước đo lượng giá trị hàng hóa 3
b) Các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hóa 4
II Thực trạng về năng lực cạnh tranh của kinh tế Việt Nam 5
1 Thực trạng 5
2 Đánh giá thực trạng 7
a) Những kết quả đạt được 7
b) Những hạn chế và nguyên nhân 9
III Những giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của kinh tế Việt Nam hiện nay… 12
1 Đối với Nhà nước 12
2 Đối với doanh nghiệp 13
Trang 3I Lí luận về giá trị hàng hóa
1 Hàng hóa
a) Khái niệm
Hàng hóa là sản phẩm của lao động mà có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người thông qua trao đổi, mua bán
Có rất nhiều tiêu thức để phân chia các loại hàng hóa như: hàng hóa thông thường, hàng hóa đặc biệt, hàng hóa hữu hình (sắt, thép, lương thực, thực phẩm, đồ thủ công mỹ nghệ, …), hàng hóa vô hình (dịch vụ vận tải, chăm sóc sức khỏe, giải trí, làm đẹp…), hàng hóa tư nhân, hàng hóa công cộng…
Hàng hóa có thể cho một cá nhân sử dụng hoặc cho nhiều người sử dụng Hàng hóa
là một phạm trù lịch sử, nó chủ xuất hiện khi có nền sản xuất hàng hóa, đồng thời sản phẩm lao động mang hình thái hàng hóa khi nó là đối tượng được mua bán trên thị trường Các Mác định nghĩa hàng hóa trước hết là phải có khả năng thỏa mãn nhu cầu của con người nhờ vào các tính chất của nó Đề trở thành hàng hóa một vật cần phải có:
- Tính hữu dụng đối với người dùng
- Giá trị (kinh tế), nghĩa là được chi phí bởi lao động
- Sự hạn chế để đạt được nó, nghĩa là độ khan hiếm
b) Các thuộc tính cơ bản của giá trị hàng hóa
Trong mỗi hình thái kinh tế xã hội khác nhau, sản xuất hàng hóa sẽ có bản chất khác nhau nhưng trong bản thân mỗi loại hàng hóa đều sẽ chứa hai thuộc tính cơ bản là giá trị và giá trị sử dụng
Giá trị sử dụng của hàng hóa
“Giá trị sử dụng của hàng hóa là công dụng của vật phẩm, có thể thoả mãn nhu cầu nào đó của con người.” Nhu cầu đó có thể là nhu cầu vật chất hoặc nhu cầu tinh thần; có thể là nhu cầu tiêu dùng cá nhân, có thể là nhu cầu cho sản xuất
Trang 4Bất cứ hàng hóa nào cũng có một hay một số công dụng nhất định Chính công dụng (tính có ích) đó làm cho hàng hóa có giá trị sử dụng Ví dụ: Giá trị sử dụng của cơm là để ăn, của áo là để mặc, của máy móc, thiết bị là để sản xuất, Giá trị sử dụng của hàng hóa do những thuộc tính tự nhiên (lý, hóa) của vật thể hàng hóa quyết định, do đó, giá trị sử dụng là một phạm trù vĩnh viễn
Giá trị sử dụng của hàng hóa là giá trị sử dụng cho xã hội, do người khác chứ không phải cho người trực tiếp sản xuất ra nó Giá trị sử dụng đến tay người tiêu dùng thông qua trao đổi, mua bán Điều đó đòi hỏi người sản xuất hàng hóa phải luôn quan tâm đến nhu cầu của xã hội, làm cho sản phẩm của mình đáp ứng được nhu cầu của xã hội thì hàng hóa của hộ mới bán được Trong nền sản xuất hàng hóa giá trị sử dụng là vật mang giá trị trao đổi, người ta không trao đổi những vật phẩm không có giá trị sử dụng
Giá trị của hàng hóa
Muốn hiểu được giá trị hàng hóa phải đi từ giá trị trao đổi Giá trị trao đổi là quan
hệ tỷ lệ về sản lượng mà giá trị sử dụng này trao đổi với giá trị sử dụng khác
Ví dụ: 1m vải = 10kg thóc Vải và thóc là hai hàng hóa có giá trị sử dụng khác nhau
về chất, tại sao chúng lại có thể trao đổi được với nhau và theo một tỷ lệ nhất định nào đó?
Khi hai hàng hóa trao đổi được với nhau thì giữa chúng phải có một cơ sở chung Cái chung đó không phải là giá trị sử dụng, vì giá trị sử dụng của vải là để mặc, giá trị sử dụng của thóc là để ăn Cái chung đó là: cả vải và thóc đều là sản phẩm của lao động, đều có lao động kết tinh trong đó Lao động hao phí tạo ra hàng hóa chính là cơ sở chung của việc trao đổi và nó tạo thành giá trị của hàng hóa
Vậy, giá trị là lao động xã hội của người sản xuất hàng hóa kết tính trong từng sản phẩm Giá trị biểu hiện mối quan hệ giữa những người sản xuất hàng hóa, khi nào còn sản xuất và trao đổi hàng hóa thì những người sản xuất còn quan tâm tới giá trị
Trang 5Vì vậy, giá trị là một phạm trù lịch sử gắn liền với nghề sản xuất hàng hóa Sản phẩm nào có lao động hao phí để sản xuất ra chúng càng nhiều thì giá trị càng cao
Mối quan hệ giữa giá trị và giá trị sử dụng
Vậy, giá trị là lao động xã hội của người sản xuất hàng hóa kết tính trong từng sản phẩm Giá trị trao đổi mà chúng ta đề cập ở trên chỉ là hình thức biểu hiện bên ngoài của giá trị, còn giá trị là nội dung, là cơ sở của giá trị thay đổi Giá trị biểu hiện mối quan hệ giữa những người sản xuất hàng hóa, khi nào còn sản xuất và trao đổi hàng hóa thì những người sản xuất còn quan tâm tới giá trị Vì vậy, giá trị là một phạm trù lịch sử gắn liền với nghề sản xuất hàng hóa Sản phẩm nào có lao động hao phí để sản xuất ra chúng càng nhiều thì giá trị càng cao
Hàng hóa là sự thống nhất của hai thuộc tính giá trị sử dụng và giá trị, nhưng là sự thống nhất của hai mặt đối lập Đối với người sản xuất hàng hóa, họ quan tâm đến giá trị sử dụng để đạt được mục đích giá trị Ngược lại, với người mua, cái mà họ quan tâm là giá trị sử dụng, nhưng muốn có giá trị sử dụng thì phải trả giá trị cho người sản xuất ra nó Như vậy, trước khi thực hiện giá trị sử dụng của hàng hóa phải thực hiện giá trị của nó Nếu không thực hiện được giá trị, sẽ không thực hiện được giá trị sử dụng
2 Lượng giá trị của hàng hóa
Chất giá trị hàng hóa là lao động trừu tượng của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa Vậy lượng giá trị hàng hóa là do lao động hao phí để sản xuất ra hàng hóa đó quyết định
a) Thước đo lượng giá trị hàng hóa
Trong thực tế, có nhiều người cùng sản xuất một hàng hóa nhưng điều kiện sản xuất, trình độ tay nghề khác nhau, làm cho thời gian lao động hao phí để sản xuất ra hàng hóa là khác nhau Nhưng lượng giá trị của hàng hóa không do mức hao phí
Trang 6lao động cá biệt hay thời gian lao động cá biệt quy định mà bởi thời gian lao động
xã hội cần thiết
Thời gian lao động xã hội cần thiết là thời gian cần thiết để sản xuất ra một hàng hóa trong điều kiện bình thường của xã hội, tức là với một trình độ kỹ thuật trung bình, trình độ khéo léo trung bình và cường độ lao động trung bình so với hoàn cảnh xã hội nhất định Vậy, thực chất, thời gian lao động xã hội cần thiết là mức hao phí lao động xã hội trung bình để sản xuất ra hàng hóa Thời gian lao động xã hội cần thiết có thể thay đổi Do đó, lượng giá trị của hàng hóa cũng thay đổi b) Các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hóa
Lượng giá trị trong một đơn vị hàng hóa được đo lường bởi thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất hàng hóa đó, cho nên, về nguyên tắc, những nhân tố nào ảnh hưởng tới lượng thời gian hao phí xã hội cần thiết để sản xuất ra một đơn vị hàng hóa tất sẽ ảnh hưởng tới lượng giá trị của đơn vị hàng hóa Có ba nhân tố cơ bản sau ảnh hưởng tới lượng giá trị của hàng hoá
Thứ nhất, năng suất lao động
Năng suất lao động tăng lên có nghĩa là cũng trong một thời gian lao động, nhưng khối lượng hàng hóa sản xuất ra tăng lên làm cho thời gian lao động cần thiết để sản xuất ra một đơn vị hàng hóa giảm xuống Do đó, khi năng suất lao động tăng lên thì giá trị của một đơn vị hàng hóa sẽ giảm xuống và ngược lại Mặt khác, năng suất lao động lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như điều kiện tự nhiên, trình độ trung bình của người công nhân, mức độ phát triển của khoa học kỹ thuật, trình độ quản lý, quy mô sản xuất, nên để tăng năng suất lao động phải hoàn thiện các yếu
tố trên
Mục tiêu tăng lợi nhuận của các doanh nghiệp chỉ có thể đạt được bằng cách tăng doanh thu thông qua mở rộng thị trường, tăng số lượng sản phẩm tiêu thụ và hạ giá thành sản phẩm Cải tiến năng suất giúp cho doanh nghiệp đạt được mục tiêu nêu trên Có thể nói, cải tiến năng suất là yếu tố gắn liền với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp
Trang 7 Thứ hai, cường độ lao động.
Cường độ lao động là mức độ khẩn trương, tích cực của hoạt động lao động trong sản xuất.
Cường độ lao động phản ánh mức độ hao phí lao động trong một đơn vị thời gian
Nó cho thấy mức độ khẩn trương, nặng nhọc hay căng thẳng của lao động Cường
độ lao động tăng lên thì số lượng (hoặc khối lượng) hàng hoá sản xuất ra tăng lên
và sức lao động hao phí cũng tăng lên tương ứng Do đó, giá trị của một đơn vị hàng hoá là không đổi vì thực chất tăng cường độ lao động chính là việc kéo dài thời gian lao động Cường độ lao động phụ thuộc vào trình độ tổ chức quản lý, quy
mô và hiệu suất của tư liệu sản xuất và đặc biệt là thể chất và tinh thần của người lao động Chính vì vậy mà tăng cường độ lao động không có ý nghĩa tích cực với
sự phát triển kinh tế bằng việc tăng năng suất lao động
Thứ ba, mức độ phức tạp của lao động.
Theo đó, căn cứ vào mức độ phức tạp của lao động, ta có thể chia lao động thành hai loại là lao động giản đơn và lao động phức tạp
Khi trình độ của người lao động tăng cao cũng có nghĩa lao động phức tạp kết tinh trong hàng hóa tăng lên, làm cho sản phẩm làm ra ngày càng có chất lượng, mẫu
mã phù hợp, đáp ứng thị hiếu của người tiêu dùng Đây là một trong những điều kiện để tăng năng lực cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam ở thị trường trong nước và trên thế giới
II Thực trạng về năng lực cạnh tranh của kinh tế Việt Nam
1 Thực trạng
Ngày 29-12, Tổng cục Thống kê (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) đã công bố báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý IV và cả năm 2021 GDP quý I tăng 4,72%; quý II tăng 6,73%; quý III giảm 6,02% và quý IV tăng 5,22% Đến quý I năm 2022 tổng sản phẩm trong nước (GDP) ước tính tăng 5,03% so với cùng kỳ năm trước
Trang 8Theo số liệu Tổng cục Thống kê công bố, Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 12-2021 giảm 0,18% so với tháng trước Quý IV/2021, CPI giảm 0,38% so với quý trước và tăng 1,89% so với cùng kỳ năm 2020 Bình quân năm 2021 CPI tăng 1,84% so với bình quân năm 2020, mức tăng bình quân năm thấp nhất kể từ năm 2016 Lạm phát
cơ bản bình quân năm 2021 tăng 0,81% so với bình quân năm 2020
Năng suất lao động của toàn nền kinh tế theo giá hiện hành năm 2021 ước tính đạt 171,3 triệu đồng/lao động (tương đương 7.398 USD/lao động, tăng 538 USD so với năm 2020) Theo giá so sánh, năng suất lao động năm 2021 tăng 4,7% do trình độ của người lao động được cải thiện
Trong tháng 12-2021, hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hóa tiếp tục là điểm sáng của nền kinh tế với tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa ước tính đạt 66,5 tỉ USD Tính chung cả năm 2021, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 668,5 tỉ USD, tăng 22,6% so với năm trước, trong đó xuất khẩu tăng 19%; nhập khẩu tăng 26,5%
Ước tính năm 2021, vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội theo giá hiện hành đạt 2.891,9 nghìn tỷ đồng, tăng 3,2% so với năm trước, bao gồm: Vốn khu vực Nhà nước đạt 713,6 nghìn tỷ đồng, chiếm 24,7% tổng vốn và giảm 2,9% so với năm trước; khu vực ngoài Nhà nước đạt 1.720,2 nghìn tỷ đồng, bằng 59,5% và tăng 7,2%; khu vực
có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 458,1 nghìn tỷ đồng, bằng 15,8% và giảm 1,1%
Lao động 15 tuổi trở lên có việc làm trong quý IV/2021 ước tính là 49,1 triệu người Tính chung năm nay, lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc là 49 triệu người Cũng theo Tổng Cục Thống kê, tính chung năm 2021, tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi là 3,22% (quý I là 2,42%; quý II là 2,62%; quý III là 3,98%; quý IV là 3,56%) Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi ước tính là 3,10% (quý I/2021 là 2,20%; quý II là 2,60%; quý III là 4,46%; quý IV là 3,37%), trong
đó tỷ lệ thiếu việc làm khu vực thành thị là 3,33%; tỷ lệ thiếu việc làm khu vực nông thôn là 2,96%
Trang 9Khoa học công nghệ ứng dụng thể hiện qua trình độ công nghệ có những bước tiến r• nét Chỉ số đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng tăng từ 33,6% bình quân giai đoạn 2011-2015 lên 45,2% giai đoạn 2016 – 2020 (vượt mục tiêu 35%); KHCN ngày càng đóng góp nhiều vào giá trị gia tăng của sản phẩm hàng hóa Tỷ trọng giá trị xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao trong tổng giá trị xuất khẩu hàng hóa tăng từ 19% năm 2010 lên khoảng 50% năm 2020
Trải qua 10 năm, Chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu (GCI) của Việt Nam cải thiện được 13 bậc, từ thứ hạng 68/121 năm 2007 đã lên 55/137 năm 2017 và chuyển từ nhóm nửa dưới của bảng xếp hạng cạnh tranh toàn cầu lên nhóm nửa trên Năm
2019, Chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu 4.0 (GCI 4.0) của Việt Nam đã được nâng hạng, tăng 10 bậc so với năm 2018 và xếp thứ 67/141 nền kinh tế Đánh giá chi tiết của WEF về 12 trụ cột cho thấy, có 8/12 trụ cột của Việt Nam tăng điểm và tăng nhiều bậc
2 Đánh giá thực trạng
a) Những kết quả đạt được
Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2021 tăng 2,58%, tuy là mức tăng thấp nhất của các năm trong giai đoạn 2011-2021, nhưng trong bối cảnh dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, ảnh hưởng tiêu cực tới mọi lĩnh vực kinh tế – xã hội thì đây là thành công lớn của Việt Nam với mức tăng trưởng năm 2021 thuộc nhóm cao nhất thế giới Điều này cho thấy tính đúng đắn trong chỉ đạo, điều hành khôi phục kinh tế, phòng chống dịch bệnh và sự quyết tâm, đồng lòng của toàn bộ hệ thống chính trị, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; sự nỗ lực, cố gắng của doanh nghiệp, người dân
và toàn cộng đồng để thực hiện có hiệu quả mục tiêu “vừa phòng chống dịch bệnh, vừa phát triển kinh tế – xã hội” Trong quý I/2022, nền kinh tế đã có sự tăng trưởng GDP vượt bậc, ước tính tăng 5,03% so với cùng kì năm trước
Theo nhận định của Tổng cục Thống kê, kinh tế - xã hội nước ta 3 tháng đầu năm
2022 diễn ra trong bối cảnh kinh tế thế giới vẫn duy trì đà hồi phục, các hoạt động sản xuất được đẩy mạnh, chuỗi cung ứng toàn cầu bắt đầu được khơi thông
Trang 10Đáng chú ý, khu vực dịch vụ trong quý I năm 2022 tăng trưởng khởi sắc khi nhiều hoạt động dịch vụ sôi động trở lại Đóng góp của một số ngành dịch vụ thị trường
có tỷ trọng lớn vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của quý I năm nay như sau: Hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm; ngành vận tải, kho bãi; ngành bán buôn và bán lẻ
Về xuất, nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ, năm 2021 ghi nhận nỗ lực mạnh mẽ của Việt Nam trong bối cảnh nền kinh tế trong nước cũng như thế giới chịu tác động tiêu cực của dịch Covid-19 và sự đứt gãy thương mại toàn cầu Năm 2021 thành tích xuất siêu tiếp tục được giữ vững Cho đến hết quý III năm 2021, cán cân thương mại hàng hóa vẫn nhập siêu 2,55 tỷ USD, nhưng với nỗ lực không ngừng trong quý IV, đến hết năm 2021 cán cân thương mại hàng hóa đã đạt xuất siêu 4,08
tỷ USD Mặc dù mức xuất siêu năm 2021 chỉ bằng 20% so với mức xuất siêu năm
2020, nhưng trong bối cảnh khó khăn do dịch Covid-19, xuất, nhập khẩu vẫn là điểm sáng và là tiền đề quan trọng để nền kinh tế vững bước vào năm 2022
GCI 4.0 năm 2019 xếp hạng Việt Nam ở vị trí 67/141 quốc gia trên thế giới, và đứng ở vị trí 7/9 quốc gia ASEAN (tương tự như 2018, Việt Nam vẫn chỉ đứng trên Lào và Campuchia) Điều đáng ghi nhận là Việt Nam là quốc gia có điểm số và thứ hạng tăng nhiều nhất trên bảng xếp hạng GCI 4.0 2019 Sự thăng hạng này cho thấy năng lực cạnh tranh toàn cầu 4.0 của Việt Nam đã được đánh giá là cải thiện vượt trội so với những lần đánh giá trước đó
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là dòng vốn đặc biệt quan trọng cho tăng trưởng
và hội nhập kinh tế quốc tế, góp phần bổ sung vốn, công nghệ, năng lực quản lý, khả năng kinh doanh, khả năng tổ chức và tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu Trong năm 2021, mặc dù dịch Covid -19 đang diễn biến phức tạp nhưng vốn FDI vào Việt Nam đạt 31,15 tỷ USD, tăng 9,2% so với năm 2020 Điều này cho thấy các nhà đầu tư nước ngoài đang đặt niềm tin rất lớn vào môi trường đầu tư Việt Nam Vốn đầu tư đăng ký mới và điều chỉnh đều tăng so với năm 2020, đặc biệt vốn điều chỉnh tăng mạnh tới 40,5%