Ngày nay nhu cầu thẩm mỹ trong doanh nghiệp cần phải được nâng cao, nó vừa giúp doanh nghiệp có một “bộ mặt” đẹp vừa tạo ra một không gian chuyên nghiệp kích thích khả năng lao động của
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
-o0o -BÁO CÁO BÀI TẬP NHÓM
TỔ CHỨC LAO ĐỘNG
Đề tài:
PHÂN TÍCH ĐIỀU KIỆN LAO ĐỘNG YẾU TỐ THẨM MỸ CÔNG NGHIỆP
Giảng viên hướng dẫn: Ths Nguyễn Quang Chương
Nhóm sinh viên thực hiện:
Họ và tên Mã số sinh viên Lớp, Khóa
Đặng Đức Dân 20192325 Lớp Quản lý công nghiệp 01 - K64 Trần Lê Thắng 20192399 Lớp Quản lý công nghiệp 01 - K64 Bùi Thị Trang 20192405 Lớp Quản lý công nghiệp 02 - K64 Nguyễn Thị Linh 20192363 Lớp Quản lý công nghiệp 02 - K64 Nguyễn Tiến Dũng 20192331 Lớp Quản lý công nghiệp 01 - K64
Hà Nội, 2022
Trang 2MỤC LỤC
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay, đất nước ta đang trên đà phát triển và đang có những sự thay đổi, chuyển biến trong cả lĩnh vực sản xuất, văn hóa, xã hội cùng với những tăng trưởng mạnh về kinh tế, sự ổn định về xã hội Vì thế trong doanh nghiệp, ngoài những nhu cầu cơ bản của con người thì còn cần có sự thỏa mãn về các nhu cầu như: Nhu cầu
xã hội; Nhu cầu về thẩm mỹ; Nhu cầu về nhận thức; Nhu cầu được thể hiện mình trong môi trường làm việc Những nhu cầu này đã và đang dần được quan tâm hơn trong môi trường làm việc của các xí nghiệp công nghiệp, các đơn vị hành chính và
cả trong môi trường sư phạm Ngày nay nhu cầu thẩm mỹ trong doanh nghiệp cần phải được nâng cao, nó vừa giúp doanh nghiệp có một “bộ mặt” đẹp vừa tạo ra một không gian chuyên nghiệp kích thích khả năng lao động của người lao động khi họ cảm thấy có niềm vui, sự thỏa mãn và tự hào đối với doanh nghiệp của mình , từ đó hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp được nâng cao
Việc ứng dụng các môn nghệ thuật như kiến trúc, kiến trúc phong cảnh, trang trí màu sắc, âm nhạc và ánh sáng để tổ chức môi trường lao động trong các doanh nghiệp là một phần quan trọng giúp cải thiện chất lượng môi trường làm việc của người lao động Chính vì thế việc tìm hiểu yếu tố thẩm mĩ trong lao động là vô cùng cần thiết để tạo môi trường làm việc khoa học, giúp thỏa mãn nhu cầu về điều kiện lao động, tạo động lực làm việc tích cực cho người lao động Qua đó còn giúp lực lượng sản xuất có chất lượng hơn và góp phần nâng cao năng suất lao động Với tất
cả những lý do đó, nhóm chúng em đã quyết định lựa chọn đề tài: “Phân tích điều kiện lao động – Yếu tố thẩm mỹ công nghiệp”
Để hoàn thành đề tài lần này, chúng em xin gửi lời cảm ơn tới giảng viên bộ môn “Quản trị chiến lược” - Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội - thầy Nguyễn Quang Chương đã truyền đạt những kiến thức của học phần, hướng dẫn và tạo điều kiện giúp đỡ chúng em trong quá trình chúng em thực hiện và hoàn thành bài báo cáo này
Trong quá trình thực hiện đề tài còn có những hạn chế về thời gian và trình
độ của các thành viên trong nhóm nên bài báo cáo của chúng em không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong thầy và các bạn góp ý để bài báo cáo của chúng em được hoàn thiện hơn
Cuối cùng, chúng em xin kính chúc thầy dồi dào sức khỏe, luôn thành công trong công tác giảng dạy và trong công việc của mình
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu đề tài
3 Phương pháp nghiên cứu
4 Cấu trúc đề tài
5 Đóng góp của đề tài
Trang 5PHẦN 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1.1 Các khái niệm liên quan tới đề tài
1.1.1 Lao động
Lao động là hoạt động có mục đích của con người, nhằm thỏa mãn những nhu cầu về đời sống của chính bản thân, là điều kiện tất yếu để tồn tại và phát triển của
xã hội loài người Mọi sản phẩm của xã hội từ khoa học, nghệ thuật, chính trị tới những thứ nhỏ nhất như cơm ăn, áo mặc,… đều là do lao động của con người tạo ra 1.1.2 Tổ chức lao động
Tổ chức lao động là tổ chức quá trình hoạt động của người lao động, là một hệ thống các hình thức, phương pháp cụ thể để kết hợp con người với các yếu tố vật chất – kỹ thuật nhằm đạt được kết quả của quá trình lao động Tổ chức lao động ở trình độ cao trên nền tảng của những thành tựu khoa học, những kinh nghiệm tiên tiến đã được áp dụng một cách hệ thống vào sản xuất để nhằm sử dụng một cách có hiệu quả các nguồn vật chất và lao động, không ngừng nâng cao năng suất lao động đồng thời bảo vệ và phát triển người lao động một cách toàn diện
1.1.3 Nơi làm việc
Nơi làm việc là một phần diện tích và không gian sản xuất, mà trong đó được trang bị đầy đủ các phương tiện vật chất kỹ thuật cần thiết để đảm bảo cho một người lao động hay một nhóm người lao động hoàn thành những nhiệm vụ sản xuất – kinh doanh nhất định
Nơi làm việc vừa là khâu đầu tiên của quá trình sản xuất, vừa là nơi thể hiện các kết quả cuối cùng của mọi hoạt động tổ chức sản xuất và tổ chức lao động trong doanh nghiệp Tại nơi làm việc, con người vận dụng các khả năng thể lực và trí lực,
sử dụng các công cụ lao động để tác động lên các đối tượng lao động và làm chochugns thay đổi về chất và biến thành sản phẩm đáp ứng mục tiêu của tổ chức; đây còn là nơi rèn luyện, giáo dục và đào tạo mỗi người lao động, đồng thời cũng là nơi thể hiện rõ nhất tài năng, sự sáng tạo và tinh thần hăng say của người lao động trong doanh nghiệp Vì thế, để thúc đẩy khả năng tăng năng suất lao động và đạt hiệu quả sản xuất cao, cần phải tổ chức và phục vụ tốt nơi làm việc
1.1.4 Tổ chức và phục vụ nơi làm việc
Tổ chức nơi làm việc là một hệ thoogns các biện pháp nhằm thiết kế nơi làm việc với các trang bị cần thiết, tiến hành trang bị cho nơi làm việc theo thiết kế và sắp xếp, bố trí chúng theo cách hợp lý và khoa học để tạo điều kiện cho người lao động thực hiện một cách có hiệu quả nhiệm vụ sản xuất kinh doanh đã được phân công
Phục vụ nơi làm việc là cung cấp một cách đầy đủ, đồng bộ và kịp thời các phương tiện vật chất kỹ thuật và các đối tượng cần thiết để quá trình sản xuất diễn
ra liên tục và đạt hiệu quả cao
Trang 6Hoàn thiện tổ chức và phục vụ nơi làm việc đòi hỏi cần cập nhật những thành tựu mới của các khoa học – kỹ thuật có liên quan đến quá trình sản xuất – kinh doanh và con người để đưa vào áp dụng trong thực tiễn của tổ chức, doanh nghiệp Điều đó góp phần quan trọng vào việc nâng cao năng suất lao động, bảo vệ sức khỏe và phát triển toàn diện người lao động
1.2 Yếu tố thẩm mỹ công nghiệp trong lao động
1.2.1 Thẩm mỹ và thẩm mỹ công nghiệp
Thẩm mỹ
Thẩm mỹ là sự phản ánh hiện thực vào ý thức con người trong quan hệ với nhu cầu thưởng thức và sáng tạo cái đẹp Trong các hình thức hoạt động thưởng thức và sáng tạo cái đẹp thì nghệ thuật là hình thức biểu hiện cao nhất của ý thức thẩm mỹ Trong giao tiếp các yếu tố thẩm mỹ được biểu lộ qua giao tiếp Nhờ giao tiếp con người có thể củng cố và tăng cường thông tin được truyền đi mặt khác con người có được sự thỏa mãn thẩm mỹ bởi bản thân qua trình giao tiếp Trong sản xuất, thẩm mỹ được biểu lộ như một nguyên tắc nhất thiết phải tính đến khi xây dựng những giá trị vật chất từ diện mạo, màu sắc, hình dáng, chất liệu của vật phẩm, thậm chí cả mối tương quan giữa các bộ phận của vật phẩm được sản xuất Xét một cách toàn diện, có thể nói các yếu tố thẩm mỹ không thể tách rời được quá trình hoạt động của con người, nó vừa là kết quả của hoạt động thực tiễn nhận thức, phương thức nhận thức, phương tiện phản ánh thế giới vừa tác động trở lại nâng cao cuộc sống con người
Thẩm mỹ công nghiệp
Thẩm mỹ công nghiệp là hoạt động sáng tạo nhằm mục đích thiết lập một mối trường đồ vật hài hòa thỏa mãn đầy đủ nhất về các nhu cầu vật chất và tinh thần của con người Mục đích đó đạt được bằng cách xác lập các chất lượng hình thức của đồ vật được tạo bởi nền sản xuất công nghiệp Thẩm mỹ công nghiệp là vạch phổ giao thoa giữa cái đẹp của lĩnh vực văn hóa vật thể và cái đẹp của kỹ thuật ứng dụng Nắm vững được thẩm mỹ công nghiệp giúp tạo dựng được thế giới vật thể thứ hai hài hòa trong tính chất nhân văn và tính chất thực dụng của các phương tiện sống Với bản chất đó cũng như các bộ môn thuộc lĩnh vực thẩm mỹ khác, môn thẩm mỹ công nghiệp trước hết đề cập đến việc nghiên cứu về cấp độ của cái đẹp đáp ứng nhu cầu về văn hóa tinh thần trong đời sống con người của các sản phẩm Mặt nữa, nó cũng xem xét đến các góc độ có liên quan tới một số lĩnh vực khoa học
xã hội khoa học tự nhiên và khoa học kỹ thuật khác của các sản phẩm ấy Thẩm mỹ công nghiệp có giá trị giáo dục cải tạo xã hội một cách thẩm thấu và thẩm mỹ công nghiệp có giá trị giáo dục cải tạo xã hội một cách thẩm thấu và thẩm mỹ công nghiệp là một trong những chỉ tiêu để đánh giá chất lượng của sản phẩm
1.2.2 Yếu tố thẩm mỹ trong lao động
Trang 7Yếu tố thẩm mỹ trong lao động được hiểu là những giá trị tác động tới tâm lỹ người lao động, hiệu quả sản xuất và an toàn lao động… Trong lao động không chỉ
có một mà có thể có nhiều yếu tố thẩm mỹ cùng tham gia Việc đưa các yếu tố thẩm
mỹ vào lao động sản xuất là một biện pháp có hiệu quả lớn nhằm hạ thấp sự mệt mỏi và nâng cao năng suất lao động
Nhóm các yếu tố về thẩm mỹ học công nghiệp quan trọng bao gồm: Kiểu dáng, kết cấu của dụng cụ, thiết bị; màu sắc; ấm nhạc; cảnh quan, môi trường;…
1.2.3 Thực trạng sử dụng yếu tố thẩm mỹ công nghiệp trong lao động
Trang 8PHẦN 2: PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ THẨM MỸ CÔNG NGHIỆP TỚI LAO ĐỘNG
2.1 Yếu tố kiểu dáng, kiến trúc
2.2 Yếu tố màu sắc
Màu sắc ảnh hưởng đến năng suất lao động
Các nghiên cứu gần đây nhất đã cho thấy màu sắc và tâm lý có mối liên quan mật thiết với nhau Bởi màu sắc không chỉ tác động đến tâm trạng mà còn ảnh hưởng đến hiệu suất làm việc Thế nên, muốn tạo ra môi trường làm việc hiệu quả doanh nghiệp phải biết cách chọn lựa màu sắc văn phòng phù hợp
- Ảnh hưởng tâm lý: Tùy vào những trải nghiệm của bản thân, màu sắc sẽ ảnh hưởng cảm xúc theo cách riêng Chẳng hạn như bạn có thể kết nối màu vàng với cảm xúc “vui vẻ”, “lạc quan” và “tươi mới”
- Ảnh hưởng biểu tượng: “Bầu trời màu xanh” là một ví dụ cho tình huống này Mỗi màu sáng liên quan đến một vật cụ thể
- Ảnh hưởng văn hóa: Một vài màu sắc có những ý nghĩa văn hóa khác nhau Chẳng hạn, màu trắng là sự trong sáng ở văn hóa phương Tây, còn ở phương Đông thì đây là màu chết chóc
Mỗi màu sắc có có ý nghĩa tích cực và tiêu cực tùy vào cường độ ánh sáng và hoàn cảnh cụ thể Do đó, cần cân nhắc lựa chọn màu sắc cho phù hợp để đạt được mục đích mong muốn một cách dễ dàng hơn Chúng ta có thể lấy ví dụ về một số màu sắc thông dụng trong cuộc sống và ý nghĩa của chúng khi áp dụng vào môi trường lao động
- Sử dụng màu xanh để tăng khả năng tập trung
Màu xanh lá nhạt và màu xanh nước biển là hai màu gần gũi với thiên nhiên giúp nâng cao khả năng tập trung Hai màu này cũng mang lại một cảm giác dễ chịu Nếu muốn nhân viên cảm thấy dễ chịu và làm việc với hiệu quả cao hơn thì màu xanh lá và màu xanh nước biển là lựa chọn khôn ngoan để trang trí văn phòng
Màu xanh lá đặc biệt tốt cho những người thường xuyên làm việc với thời gian dài hơn bình thường Màu xanh lá nhạt không gây cảm giác mỏi mắt, ngoài ra còn giúp nhân viên giữ được sự bình tĩnh và tập trung cao độ
Trang 9Màu xanh dương là màu giúp tăng hiệu suất lao động tốt nhất Chính vì thế lựa chọn màu xanh dương để sơn cả văn phòng và là màu chính của bàn ghế, đồ nội thất hay là màu nền cho các khối màu sắc khác tại văn phòng
- Sử dụng màu đỏ giúp gây chú ý
Màu đỏ – biểu trưng cho tính năng động, đặc biệt hữu dụng cho các báo động Màu đỏ có khả năng truyền cảm hứng mạnh, làm tăng nhịp tim và lượng máu tuần hoàn đối với mỗi người Nếu có thứ gì ở văn phòng mà bạn muốn tăng tính cảnh báo/ nhắc nhở với nhân viên hãy chọn màu đỏ Màu đỏ được sử dụng để tăng các hoạt động mang tính vật lý nhiều hơn hoạt động trí óc Để giúp nhân viên chú ý cao độ hay kích thích sự sôi nổi ở họ, màu đỏ được lựa chọn để trang trí nhằm thu hút sự chú ý của nhân viên
Trang 10- Sử dụng màu vàng kích thích sáng tạo
Trong khi đó màu vàng dịu được các nhà tâm lý xem là màu của sự lạc quan, tràn đầy năng lượng, tươi mới Màu vàng được cho là kích thích sự đổi mới Văn phòng trang trí với màu vàng là nơi làm việc gợi cảm hứng nhất đối với nhà thiết
kế, nhà văn, hay các bộ phận sáng tạo Màu vàng kích thích sự sáng tạo, ở không gian làm việc của các designer hay nhóm làm việc sáng tạo cần sử dụng trang trí màu vàng để kích thích trí tưởng tượng của họ
Trang 11Không chỉ màu sơn tường của văn phòng với một màu sắc duy nhất, để đạt hiệu quả tác động tốt đến tinh thần nhân viên bạn có thể phối hợp nhiều màu sắc từ vật dụng trang trí, tủ để đồ và các block làm việc nhỏ hơn cho từng nhóm nhân viên
để đạt hiệu quả tốt nhất Ngoài những gam màu tạo cảm giác tích cực, các doanh nghiệp cần các màu gây ức chế, buồn bã như xám, be
Trang 12Đặc biệt, nam giới có cảm giác tồi tệ khi làm việc ở văn phòng có màu tím hay cam.
Để thiết kế không gian làm việc hiệu quả cần sự phối hợp màu sắc, bối cảnh sao cho phù hợp Một số điểm thú vị về màu sắc có thể kể tới:
- Màu sắc có tính bão hòa cao có tác dụng kích thích cao hơn
- Màu nhấn có thể tạo ra sự cân bằng trong không gian làm việc
- Sự xuất hiện của quá nhiều màu sắc có thể khiến ta mất cân bằng
- Thay vì chọn một cầu vồng màu, chỉ nên chọn một vài màu nhấn
- Đỏ là màu nhấn tốt cho không gian đàm phán, vàng là màu sắc tốt cho sự tập trung và định hướng
Ngoài ra bề mặt màu sơn cũng có tác động đến hiệu quả lao động như màu sơn có độ bóng làm tăng năng lượng, hay để phân định không gian làm việc với không gian nhà ở, chọn màu sắc cho khu vực làm việc khác hẳn với phần còn lại của ngôi nhà
Tóm lại, tùy thuộc vào tính chất công việc, không gian làm việc, gu thẩm mỹ
mà các doanh nghiệp cần chọn lựa những gam màu phù hợp nhất để có thể đem lại cho nhân viên sự thoải mái, từ đó đạt năng suất cao nhất
2.3 Yếu tố âm nhạc
Âm nhạc trong sản xuất được xem là một phương tiện thẩm mỹ
- Có tác dụng kích thích sự hưng phấn trong hoạt động thần kinh
- Nâng cao khả năng làm việc và tăng năng suất lao động
Môi trường làm việc có âm thanh như tiếng nhạc hoặc tiếng trò chuyện văng vẳng tốt hơn là sự im lặng trong việc kích thích khả năng sáng tạo trong công việc Không đủ tiếng ồn, trí não có xu hướng “tê liệt”; quá ồn thì sự xao lãng cũng tăng theo; mức độ vừa phải cỡ như âm nhạc thì tốt cho khả năng sáng tạo, theo trưởng
Trang 13nhóm nghiên cứu, Giáo sư Ravi Mehta “Tiếng ồn ở mức độ vừa phải giúp nâng cao khả năng giải quyết vấn đề một cách sáng tạo”
Vai trò của âm nhạc trong lao động
Âm thanh có nhịp điệu sẽ điều chỉnh sự co bóp của tim, hệ thần kinh và cơ bắp sẽ hoạt động theo nhịp tim, nên dễ thực hiện và có hiệu quả hơn
Bằng công trình nghiên cứu của mình, hai nhà sinh học người Nga, I.M.Đô ghen và I.R.Tackhanốp đã chứng minh rằng âm nhạc có ảnh hưởng đến hệ hô hấp,
hệ tuần hoàn và đến những khía cạnh khác trong cơ thể người Nghe những bản nhạc yêu thích giúp cải thiện hiệu suất công việc lên tới 10% Các nhà khoa học cho rằng âm nhạc có tác động tới vỏ não, giúp tăng cường trí nhớ và khă năng tập trung Ảnh hưởng đến tâm trạng, tình cảm: Âm nhạc là “ dược chất thần kì” giúp con người giảm mệt mỏi, sảng khoái, hứng khởi
- Từ xa xưa, khi lao động con người thường hợp sức nhau lại để cùng nhau xây dựng nhà cửa, bảo vệ bộ tộc và phát triển đời sống Để giúp nhau đạt hiệu quả trong đời sống lao động vui chơi giải trí, những câu hò, điệu lí (Hò giã gạo, Lí đất giồng - phổ biến những kinh nghiệm sản xuất, Hò đẵn gỗ của
Đỗ Nhuận), bài hát giúp con người bớt mệt mỏi, hăng hái, tích cực hơn trong công việc
- Ngày nay, trong các nhà máy, xí nghiệp, nếu biết sử dụng âm nhạc một cách khoa học thì năng suất lao động sẽ được nâng cao.Không chỉ có thế, âm nhạc còn tác động đến cảm xúc và tư tưởng của con người
- Việc sử dụng âm nhạc trong lao động sản xuất có tác dụng tốt tới trạng thái tâm lý của người lao động, dẫn đến hạ thấp sự mệt mỏi và nâng cao sức làm việc của họ Năng suất lao động tăng từ 7 -10% khi sử dụng nhạc chức năng,
số lượng các phế phẩm giảm từ 5 - 7%
Những nguyên tăc cân chú ý khi sử dụng âm nhạc trong lao động sản xuất:
- Thời gian sử dụng nhạc trong ngày lao động sản xuất cụ thể như sau: Theo công trình nghiên cứu của các nhà tâm lý học Mỹ được trình bày trong cuốn
“Nghệ thuật và sản xuất” của v.v Svili thì thời gian tối ưu có sử dụng nhạc trong ngày là 1giờ Sử dụng nhạc 1 giờ trong ngày có tác dụng tăng năng suất lao động lên 12% Theo công trình nghiên cứu của các nhà tâm lý học Liên Xô xác định thời gian sử dụng nhạc có hiệu quả nhất là 2 giờ 30 phút Căn cứ vào các công trình nghiên cứu của Mỹ và Liên Xô có thể đưa ra số thời gian sử dụng nhạc trong một ngày làm việc từ 1 giờ đến 2 giờ 30 phút
- Nguyên tắc các lần mở nhạc là nhỏ giọt trong ngày lao động sẽ đem lại những kết quả tốt nhất
- Nhịp độ và âm độ của nhạc sử dụng trong lao động tuỳ thuộc tính chất của các động tác lao động, theo trình độ hiểu biết âm nhạc của người lao động, thị hiếu của họ và thời gian của ca sản xuất
- Âm độ và nhịp độ (nhanh hay chậm) của nhạc phải điều chỉnh tuỳ theo mức