PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO QUẢNG XƯƠNGTRƯỜNG THCS QUẢNG THÁI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN ĐỂ KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP LỊCH SỬ VIỆT NAM GIAI ĐO
Trang 1PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO QUẢNG XƯƠNG
TRƯỜNG THCS QUẢNG THÁI
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN ĐỂ KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP LỊCH SỬ VIỆT
NAM GIAI ĐOẠN (1954 – 1975) LỚP 9
Người thực hiện: Trần Thị Kim Chi Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường THCS Quảng Thái.
SKKN thuộc lĩnh vực môn: Lịch sử.
QUẢNG XƯƠNG NĂM 2022
Trang 2Mục lục Trang
Trang 31 Mở đầu
2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1 Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm 2 – 3 2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiêm. 3-4 2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề 4-13 2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường. 13- 14
3 Kết luận, kiến nghị
1 Mở đầu
Trang 41.1 Lí do chọn đề tài
Trước những yêu cầu đổi mới toàn diện của đất nước, Đại hội Đảng lần thứ XII (năm 2016) nhấn mạnh sự cần thiết phải đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực Giáo dục và đào tạo không chỉ là quốc sách hàng đầu, là “chìa khóa” mở ra con đường đưa đất nước tiến lên phía trước
mà còn là “mệnh lệnh” của cuộc sống, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân
Xuất phát từ đó mà đổi mới phương pháp dạy học trở thành hoạt động thường xuyên trong các nhà trường, ở các cấp học và bậc học Một trong những nội dung đổi mới phương pháp dạy học được nhiều người quan tâm là việc đổi mới căn bản hình thức và phương pháp thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo, sao cho bảo đảm trung thực, khách quan
Trong dạy học nói chung và dạy học lịch sử nói riêng ở trường phổ thông, việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh đã có những thay đổi Và đặc biệt, trong những năm học gần đây, khi Sở Giáo dục và Đào tạo chính thức công bố phương án thi vào lớp 10 đối với học sinh THCS, ngoài ba môn bắt buộc là Toán, Văn, Anh, các bạn học sinh sẽ phải thi môn thứ 4 là một trong sáu môn ( Lịch sử, Địa lí, Giáo dục công dân, Vật lý, Hóa học, Sinh học) trong đó
có hình thức thi trắc nghiệm khách quan Điều đó đã đặt ra vấn đề cấp thiết cho giáo viên trực tiếp giảng dạy các môn Lịch sử ở các trường THCS là cần phải đổi mới phương pháp để nâng cao chất lượng dạy học bộ môn Với nhiệm vụ được giao là giáo viên trực tiếp giảng dạy Lịch sử cấp THCS, tôi mạnh dạn chọn
đề tài “Sử dụng phương pháp trắc nghiệm khách quan để kiểm tra, đánh giá
kết quả học tập lịch sử Việt Nam (1954 - 1975) lớp 9 – THCS” cho sáng kiến
kinh nghiệm của mình
1.2 Mục đích nghiên cứu.
Từ thực tiễn công tác giảng dạy, bản thân tôi thực hiện đề tài này với các mục đích sau đây:
- Giúp các em học sinh làm quen và thành thạo các dạng câu hỏi trắc nghiệm khách quan
- Học sinh sẽ lựa chọn phương án trả lời bằng tư duy, hiểu biết bản chất của
sự kiện lịch sử, chứ không phải là lựa chọn, hoặc là khoanh đáp án theo cảm tính, đoán mò
- Các em sẽ dần quen và hứng thú, thành thạo với hình thức kiểm tra đánh giá bằng phương pháp trắc nghiệm khách quan Từ đó tạo tiền đề để các
em vững vàng bước vào các kì thi quan trọng phía trước như thi vào 10 môn thứ 4, hoặc xa hơn nữa là thi tốt nghiệp phổ thông trung học
- Bản thân tôi sẽ có thời gian tìm tòi nghiên cứu, biên soạn bộ câu hỏi trắc nghiệm khách quan chất lượng, chu đáo phục vụ cho việc kiểm tra đánh giá
- Góp phần trực tiếp nâng cao chất lượng giảng dạy, cũng như kết quả kiểm tra đánh giá bộ môn lịch sử
1.3 Đối tượng nghiên cứu.
- Đối tượng nghiên cứu là quá trình sử dụng phương pháp trắc nghiệm khách quan để kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh trong dạy học lịch
Trang 5sử nói chung, dạy học lịch sử Việt Nam từ năm 1954 đến năm 1975, lớp 9 THCS nói riêng
- Học sinh lớp 9A1 và 9A2 trường THCS Quảng Thái năm học 2021-2022 1.4 Phương pháp nghiên cứu.
- Phương pháp đọc tài liệu có liên quan đến đề tài: Lý luận dạy học lịch sử; Phương pháp giảng dạy lịch sử trong nhà trường phổ thông; một số tài liệu
về đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá ở trường THCS; tài liệu bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên THCS, sách giáo khoa, sách giáo viên Lịch sử lớp
9, các chuyên đề về đổi mới kiểm tra đánh giá
- Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế Thực hiện bằng cách khảo sát khả năng của học sinh về vấn đề nghiên cứu trước và sau khi áp dụng kinh nghiệm
- Phương pháp thu thập thông tin Thông qua nguồn tư liệu lịch sử đa dạng, phong phú, tôi lựa chọn những nguồn tư liệu đáng tin cậy, phù hợp với nội dung nghiên cứu
- Phương pháp thống kê, xử lý thông tin sau khi thu thập: Sắp xếp, chọn lọc những nguồn thông tin cho phù hợp với tiến trình nghiên cứu đề tài
2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
Trong kiểm tra, đánh giá hiện nay, chúng ta thường xuyên nghe nói đến thuật ngữ trắc nghiệm Nghĩa chữ Hán, “trắc” có nghĩa là “đo lường”, “nghiệm” là
“suy xét”, “chứng thực” Trắc nghiệm xuất hiện từ thế kỉ XIX, nhằm đánh giá trí thông minh của con người
Theo nghĩa rộng, trắc nghiệm là một hoạt động được thực hiện để đo lường năng lực của các đối tượng nào đó nhằm mục đích xác định
Trong giáo dục, trắc nghiệm được tiến hành thường xuyên ở các kì thi, kiểm tra để đánh giá kết quả học tập đối với một phần của môn học, toàn bộ môn học, đối với cả một cấp học, hoặc để tuyển chọn một số người có năng lực nhất vào một khóa học
Trắc nghiệm viết thường được chia thành hai nhóm: Trắc nghiệm tự luận và trắc nghiệm khách quan
Trắc nghiệm tự luận (Tự luận)
Trắc nghiệm tự luận là phương pháp đánh giá kết quả học tập bằng việc sử dụng công cụ đo lường là các câu hỏi, HS trả lời dưới dạng bài viết bằng ngôn ngữ của mình trong một khoảng thời gian định trước Phương pháp này hữu ích khi kiểm tra tư duy nhận thức ở mức độ cao Song việc chấm điểm mất thời gian, điểm số có độ tin cậy thấp
Trắc nghiệm khách quan (TNKQ)
Trắc nghiệm khách quan là phương pháp kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS bằng hệ thống câu hỏi TNKQ Gọi là khách quan vì cách cho điểm (đánh giá) hoàn toàn không phụ thuộc vào người chấm
So sánh trắc nghiệm khách quan và tự luận trong kiểm tra, đánh giá
TNKQ khảo sát được số lượng lớn thí sinh với kết quả nhanh và điểm số đáng tin cậy, công bằng, chính xác, vô tư đồng thời ngăn ngừa được việc HS
“học tủ” Song với phương pháp kiểm tra đánh giá bằng TNKQ, HS có thể đoán
Trang 6mò đáp án, mà không thấy rõ diễn biến tư duy của học sinh như trắc nghiệm tự luận Trong phạm vi của đề tài này, tôi xin phép được đề cập đến phương pháp trắc nghiệm khách quan
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
a Thuận lợi.
* Đối với bản thân
- Bản thân tôi được đào tạo chính quy, được phân công nhiệm vụ theo đúng chuyên môn
- Tôi nhận thấy trong công tác giảng dạy luôn có tinh thần trách nhiệm, nhiệt huyết trong công việc, có kinh nghiệm
* Học sinh
- Học sinh trường THCS Quảng Thái nhìn chung ngoan ngoãn, có sự cố gắng vượt khó vươn lên trong học tập
* Nhà trường:
- Ban giám hiệu nhà trường luôn quan tâm, đồng hành, hỗ trợ giáo viên trong công tác giảng dạy Các phòng học đều được trang bị đầy đủ các thiết bị hiện đại phục vụ cho việc ứng dụng các phương pháp đổi mới trong dạy học
- Tổ bộ môn luôn quan tâm, sát sao và cùng nhau trao đổi nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy
b Khó khăn:
- Địa phương nơi tôi trực tiếp giảng dạy là một xã bãi ngang ven biển, nhiều học sinh có hoàn cảnh khó khăn đặc biệt, một bộ phận không nhỏ phụ huynh đi làm
ăn xa, không có điều kiện chăm lo đến việc học tập của con em mình
- Một số ít học sinh chưa chăm học, chưa có ý thức tự giác trong học tập Vì vậy, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng bộ môn
Trong thực tế dạy học ở trường THCS Quảng Thái những năm qua, bản thân
tôi cũng như các đồng nghiệp thường chỉ sử dụng phương pháp trắc nghiệm khách quan trong bài kiểm tra định kì với tỉ lệ 30% tổng số câu hỏi trong bài, tương ứng với 3 điểm trên thang điểm 10 Và câu hỏi trắc nghiệm khách quan thường nằm trong mức độ nhận biết, khá dễ Tuy nhiên, nhiều em học sinh vẫn làm sai, thậm chí nhiều em khoanh hoặc đánh dấu theo kiểu đoán mò, mà không
lý giải được vì sao mình chọn đáp án đó
Từ thực tiễn trên, tôi nhận thấy cần thiết phải có những giải pháp sử dụng kiểm tra bằng hình thức trắc nghiệm khách quan để nâng cao chất lượng dạy học
bộ môn Lịch sử
Trước khi áp dụng các giải pháp trong đề tài này, tôi đã có bài khảo sát học sinh bằng việc sử dụng phương pháp trắc nghiệm khách quan trong bài kiểm tra
15 phút, ở 2 lớp tôi trực tiếp giảng dạy là 9A1 và 9A2 Và kết quả thu được như sau:
Bảng số 1:
Lớp Sĩ số
Giỏi (9.0-10đ)
Khá (7 - 8)
Trung bình (5-<7)
Yếu (3,5<5)
Kém (0-<3,5đ)
Trang 7SL % SL % SL % SL % SL % 9A1 36 5 13.9 17 47.2 10 27.8 3 8.3 1 2.8
9A2 38 4 10.5 15 39.5 12 31.6 5 13.2 2 5.2
Tổn
g
74 9 12.2 32 43.3 22 29.7 8 10.8 3 4.0
Ngoài ra, tôi còn khảo sát mức độ tích cực, chủ động của học sinh khi được kiểm tra miệng đầu giờ, hoặc cuối giờ bằng hình thức trắc nghiệm khách quan
Bảng số 2:
Lớp Tổng số
Rất tích cực Tích cực Bình thường
Không tích cực
9A1 36 8 22.2 9 25 11 30.6 8 22.2
9A2 38 6 15.8 7 18.4 16 42.1 9 23.7
Tổng 74 14 18.9 16 21.6 27 36.5 17 23
2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.
2.3.1 Trước hết tôi xác định các tiêu chuẩn xây dựng câu hỏi trắc nghiệm khách quan trong kiểm tra – đánh giá.
Một câu hỏi trắc nghiệm khách quan trong kiểm tra đánh giá cần phải có cả
độ giá trị và độ tin cậy
Độ giá trị là nói đến tính hiệu quả của một bài trắc nghiệm trong việc đạt được những mục đích xác định gắn liền với bảng đặc trưng – là công cụ hữu ích giúp cho người soạn trắc nghiệm viết câu hỏi cho phù hợp với mục tiêu giảng dạy, đảm bảo chuẩn kiến thức kỹ năng, phù hợp với đối tượng học sinh, và cần thiết phải có sự phân hoá
Độ tin cậy là khái niệm cho biết bài trắc nghiệm đo điều cần đo đáng tin cậy đến đâu và ổn định đến mức độ nào Bài trắc nghiệm có độ tin cậy cao, thấp hay trung bình chính là căn cứ để đánh giá tiêu chuẩn của bài trắc nghiệm
2.3.2 Thứ hai, tôi xác định các nguyên tắc thiết kế quy trình xây dựng, quy trình
sử dụng câu trắc nghiệm khách quan để kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn lịch sử.
* Nguyên tắc xây dựng câu trắc nghiệm khách quan.
- Nguyên tắc lập câu dẫn
Câu dẫn là phần chính của câu hỏi đưa ra các vấn đề cần giải quyết, vì vậy phải xác định rõ các nhiệm vụ và đưa ra đầy đủ các thông tin cần thiết để học sinh hiểu ý đồ của câu hỏi Thông thường, người ta dùng một câu hỏi hay một câu nhận định không đầy đủ hoặc chưa hoàn chỉnh để lập câu dẫn Nội dung của câu dẫn phải nằm trong nội dung và các mục tiêu cần đánh giá
- Nguyên tắc lập các phương án chọn
Các phương án chọn là các phương án đưa ra để giải quyết nhiệm vụ đặt ra ở câu dẫn Thông thường, chỉ có một câu là đúng và chính xác nhất trong các
Trang 8phương án chọn, những câu còn lại là câu nhiễu Câu nhiễu có vẻ đúng với những người không hiểu hoặc hiểu không đúng
- Phân tích câu trắc nghiệm
Phân tích câu trắc nghiệm nhằm mục đích giữ lại những câu trắc nghiệm đạt yêu cầu, sửa chữa hoàn thiện những câu có thể sửa chữa, loại bỏ những câu trắc nghiệm chưa đạt yêu cầu
Khi phân tích câu trắc nghiệm, cần lưu ý độ khó của câu trắc nghiệm và
độ phân biệt của câu trắc nghiệm để đánh giá được năng lực của HS
* Nguyên tắc chung: Đảm bảo tính hệ thống, tính thực tiễn, tính hiệu quả
2.3.3 Thứ ba, xác định quy trình xây dựng câu trắc nghiệm khách quan trong kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn Lịch sử
Xây dựng câu hỏi trắc nghiệm trong kiểm tra, đánh giá kết quả học tập lịch sử của học sinh gồm 4 bước chính:
- Xác định các mục tiêu đánh giá
- Viết câu trắc nghiệm
- Các đồng nghiệp góp ý
- Hoàn thiện câu trắc nghiệm
* Bước 1: Xác định các mục tiêu đánh giá
Trước hết là xác định các mục tiêu về lĩnh hội các tri thức, bao gồm hai mức
độ là nhận biết và thông hiểu Nhận biết – đòi hỏi học sinh ghi nhớ, tái hiện được các sự kiện, các khái niệm, các thuật ngữ, các đặc trưng cũng như các quy luật ….của môn lịch sử Thông hiểu – đòi hỏi học sinh phải biết được cả ý nghĩa của sự kiện, học sinh thấy được các mối liên hệ bên trong và bên ngoài của sự vật hiện tượng
Sau đó, xác định mục tiêu vận dụng tri thức vào giải quyết các câu hỏi trắc nghiệm, qua đó giúp học sinh hiểu đúng bản chất và các phương pháp tư duy độc lập sáng tạo – phân tích, tổng hợp, so sánh, lập luận, giải thích
* Bước 2: Viết câu hỏi trắc nghiệm
Khi viết câu hỏi trắc nghiệm khách quan cần diễn đạt ngắn gọn kiến thức
muốn đo lường dưới dạng câu hỏi mở Vì vậy, trong quá trình giảng dạy trên lớp tôi kết hợp đưa các câu hỏi mở này vào với mục đích là thu thập các cách trả lời khác nhau, cách hiểu đúng hoặc là sai của học sinh Từ đó, dựa vào các tri thức
về môn học và thực tiễn nhận thức của học sinh và những nguyên tắc xây dựng câu hỏi trắc nghiệm khách quan để viết câu hỏi
* Bước 3: Xin ý kiến đóng góp cho câu trắc nghiệm
Các câu trắc nghiệm sau khi đã soạn xong, ở trường tôi sẽ được duyệt thông qua các đồng chí nhóm trưởng bộ môn, tổ phó và tổ trưởng, các đồng chí sẽ đọc, góp ý, chỉnh sửa và hoàn thiện câu trắc nghiệm khách quan
* Bước 4: Hoàn thiện câu trắc nghiệm
Cần tiến hành hoàn thiện câu trắc nghiệm đã soạn thảo, loại bỏ các câu chưa đạt yêu cầu thông qua việc thử nghiệm câu trắc nghiệm với học sinh lớp mình giảng dạy (các câu hỏi trong bài trắc nghiệm được sắp xếp theo logic của vấn đề
và theo thứ tự từ dễ đến khó; Bài trắc nghiệm được tiến hành sau khi học sinh đã học xong phần nội dung tương ứng và được ôn tập; Với các bài chẵn lẻ) Sau đó, thu toàn bộ số bài trắc nghiệm để thống kê, phân tích
Trang 92.3.4 Thứ tư, tôi sử dụng các hình thức câu hỏi trắc nghiệm khách quan sau đây trong kiểm tra lịch sử
TNKQ có nhiều loại khác nhau được sử dụng cho phù hợp với mục đích và đối tượng sử dụng
* D ạng 1 : Câu hỏi yêu cầu học sinh lựa chọn câu trả lời đúng hoặc câu trả lời đúng nhất
Đây là loại trắc nghiệm thông dụng nhất Loại này thường có hai phần: phần câu dẫn và phần lựa chọn Phần câu dẫn là một câu hỏi hay bỏ lửng (câu chưa hoàn tất) tạo cơ sở cho sự lựa chọn Trong 4 phương án gây nhiễu A, B, C, D chỉ
có một phương án đúng hoặc một phương án đúng nhất, còn các phương án khác được đưa vào với tác dụng gây nhiễu Do vậy, khi các câu lựa chọn được chuẩn
bị tốt thì với những HS không có kiến thức chắc chắn về vấn đề đó sẽ không thể nhận biết được trong tất cả các phương án đã chọn đâu là phương án đúng, đâu
là phương án nhiễu
Ví dụ 1: Nét nổi bật nhất về tình hình chính trị ở Việt Nam sau khi Hiệp định
Giơnevơ về Đông Dương được kí kết là
A Hà Nội được giải phóng hoàn toàn
B Pháp rút quân khỏi miền Bắc
C Đất nước tạm thời bị chia cắt làm hai miền
D Tổ chức hiệp thương tổng tuyển cử
Ví dụ 2: Trong cuộc chiến tranh xâm lược của Mĩ ở Việt Nam (1954-1975), lực
lượng nào chỉ xuất hiện trong hai chiến lược “Chiến tranh cục bộ” và “Việt Nam hóa chiến tranh”?
A Quân Mĩ, chư hầu của Mĩ B Quân Mĩ và quân Pháp.
C Quân đội Sài Gòn D Quân Bắc Phi.
Với dạng câu hỏi này, có thể xây dựng để tìm hiểu nội dung của cả bài, độ tin cậy cao Khi xây dựng dạng câu này cần chú ý các phương án nhiễu tránh quá khác biệt so với phương án đúng để giảm nhiều cơ may đoán trúng của HS
* Dạng 2: Câu hỏi yêu cầu HS phải hoàn thành câu (điền vào chỗ trống )
Trong câu đề dẫn của câu hỏi sẽ thiếu một số cụm từ, 4 phương án gây nhiễu (A, B, C, D) sẽ cho sẵn để chọn một phương án đúng
Ví dụ: Cho thông tin sau: “Tháng 01/1959, Hội nghị lần thứ 15 BCH Trung ương đảng đã quyết định để nhân dân miền Nam sử dụng (1)…đánh đổ chính
quyền Mĩ - Diệm Hội nghị nhấn mạnh: Ngoài con đường dùng bạo lực cách mạng, nhân dân miền Nam không có con đường nào khác Phương hướng cơ
bản của cách mạng miền Nam là (2)……giành chính quyền về tay nhân dân
bằng con đường đấu tranh (3)…là chủ yếu, kết hợp với đấu tranh(4)…… đánh
đổ ách thống trị của Mĩ - Diệm”
(SGK Lịch sử Lớp 9, trang 133)
Thứ tự đúng cho các chỗ trống trong đoạn thông tin trên là:
A (1) bạo lực cách mạng; (2) khởi nghĩa; (3) vũ trang; (4) chính trị
B (1) bạo lực cách mạng; (2) khởi nghĩa; (3) chính trị; (4) vũ trang.
C (1) bạo lực cách mạng; (2) vũ trang; (3) khởi nghĩa; (4) chính trị
D (1) bạo lực cách mạng; (2) chính trị; (3) khởi nghĩa; (4) vũ trang
Trang 10Dạng câu hỏi này học sinh không chỉ nhớ mà còn phải hiểu để lý giải một cách logic nội dung vấn đề đặt ra Khi soạn dạng câu hỏi này tôi thường lưu ý: phần điền vào chỗ trống phải ngắn gọn, tương ứng với phần nêu ra, xong phải
đủ ý, rõ ràng, cung cấp đủ thông tin để chọn từ trả lời, chỉ có một lựa chọn là đúng
* Dạng 3: Câu hỏi yêu cầu HS lựa chọn đúng phương án nhận xét, tranh biện về sự kiện, hiện tượng lịch sử (các quan điểm, chính kiến hoặc ý kiến nhận xét, đánh giá về lịch sử
Ở dạng câu hỏi này, đề thi sẽ đưa ra sẵn các quan điểm, chính kiến hoặc ý kiến nhận xét về sự kiện, hiện tượng lịch sử phức tạp, yêu cầu học sinh phải lựa chọn phương án đúng Không thông hiểu vấn đề, học sinh sẽ chọn sai
Ví dụ: Nhận định nào dưới đây phản ánh đúng hình thái của cách mạng miền
Nam trong thời kì 1954 -1975?
A Từ khởi nghĩa từng phần tiến lên tổng khởi nghĩa
B Khởi nghĩa từng phần tiến thẳng lên chiến tranh giải phóng
C Đấu tranh chính trị tiến thẳng lên chiến tranh giải phóng
D Đấu tranh chính trị, tiến lên khởi nghĩa và chiến tranh giải phóng
* Dạng 4: Câu hỏi yêu cầu học sinh đọc hiểu một đoạn tư liệu
Ví dụ: Cho đoạn trích: “Chiến lược chiến tranh được tiến hành bằng quân đội
Sài Gòn là chủ yếu, có sự phối hợp về hỏa lực, không quân, hậu cần Mĩ, vẫn do
cố vấn Mĩ chỉ huy” Đoạn trích trên cho chúng ta biết thông tin về loại hình chiến tranh thực dân kiểu mới nào do Mĩ thực hiện ở miền Nam (1954-1975)?
A Chiến tranh đặc biệt B Chiến tranh cục bộ
C Việt Nam hóa chiến tranh D Chiến tranh đặc biệt tăng cường
* Dạng 5: Câu hỏi yêu cầu học sinh lựa chọn ý phủ định trong 4 phương án (A,
B, C, D) đã cho.
Câu hỏi được kiểm tra, đánh giá ở các mức độ khác nhau, yêu cầu các em không hiểu sai về các sự kiện, hiện tượng lịch sử Các cụm từ thường được sử dụng trong dạng câu hỏi này là không đúng, ngoại trừ, không phải, không chính xác…
Ví dụ: Ý nào sau đây không phải là nhiệm vụ của cách mạng miền Bắc (1954
-1965)?
A Hàn gắn vét thương chiến tranh B Khôi phục kinh tế
C Đưa miền Bắc tiến lên CNXH D Đấu tranh chống Mĩ - Diệm
* Dạng 6: Câu hỏi yêu cầu học sinh làm việc với đồ dùng trực quan
Với dạng câu hỏi này đòi hỏi HS phải đọc được nội dung các tranh ảnh lịch
sử trong chương trình sách giáo khoa lịch sử 9
Ví dụ: Bức tranh dưới đây phản ánh sự kiện lịch sử nào?