Thấy được tầm quan trọng của việc dạy và học môn Ngữ văn nói chung và Ngữ văn lớp 9 nói riêng đồng thời phát huy cao hơn nữa hiệu quả trong giảng dạy theo tinh thần đổi mới, tăng cường t
Trang 1MỤC LỤC
1.5 Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm 2
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm 3 2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 4 2.3 Các sáng kiến kinh nghiệm hoặc các giải pháp đã sử dụng để giải
quyết vấn đề
5
2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục,
với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường
14
Tài liệu tham khảo
Danh mục sáng kiến
18 19
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1.CNTT
2 KTĐG
1 Công nghệ thông tin
2 Kiểm tra đánh giá
1 Mở đầu
1.1 Lí do chọn đề tài
Chúng ta đang sống trong bối cảnh cuộc cách mạng 4.0 phát triển mau lẹ và
có tác động mạnh mẽ đế mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có giáo dục Nền giáo dục 4.0 với nhiều đổi mới rõ rệt: mục tiêu học tập hướng tới giúp mỗi người phát triển tối đa các trí thông minh tiềm ẩn của mình; Giáo viên là đóng vai trò là người kết nối giữa học sinh với kho tri thức vô tận của nhân loại; Người học
Trang 2giữ vị trí trung tâm; Tự học là yêu cầu bắt buộc; Độ tuổi học tập kéo dài suốt đời; Lớp học ở mọi nơi, mọi lúc
Môn Ngữ văn trước hết là một môn học thuộc nhóm khoa học xã hội, có ý nghĩa quan trọng trong việc giáo dục quan điểm, tư tưởng, tình cảm cho học sinh Môn Ngữ văn còn là một môn học thuộc nhóm công cụ, yêu cầu giảm lý thuyết tăng cường tính thực hành gắn với đời sống Thấy được tầm quan trọng của việc dạy và học môn Ngữ văn nói chung và Ngữ văn lớp 9 nói riêng đồng thời phát huy cao hơn nữa hiệu quả trong giảng dạy theo tinh thần đổi mới, tăng cường tính tích cực, chủ động, sáng tạo và khả năng vận dụng kiến thức, kỹ năng của học sinh; tập trung dạy cách học, cách nghĩ, tạo cơ sở để học sinh tự tiếp cận và tiếp thu tri thức,
kỹ năng, phát triển năng lực bản thân Từ đó mà việc nắm kiến thức của các em sẽ sâu sắc, hệ thống và lâu bền hơn
Một trong những hoạt động học tập cần thiết và rất quan trọng để phát huy tính tích cực, chủ động lĩnh hội kiến thức của học sinh, góp phần nâng cao hiệu quả dạy học chính là hoạt động chuẩn bị bài mới trước khi đến lớp Với mong muốn sẽ khắc phục những khó khăn đồng thời rèn thói quen, ý thức tự giác cho học sinh trong việc chuẩn bị bài mới môn Ngữ văn, từ đó, góp phần nâng cao chất lượng,
hiệu quả dạy học môn học này, tôi xin đề xuất giải pháp: “Ứng dụng công cụ Google Forms trong việc thiết kế phiếu học tập hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài mới môn Ngữ văn lớp 9”.
1.2 Mục đích nghiên cứu
Nhằm đổi mới phương pháp dạy học đồng thời tìm ra giải pháp hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài mới môn Ngữ văn lớp 9góp phần nâng cao chất lượng trong dạy
và học ở trường THCS Thọ Dân, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa trong việc dạy học trực tiếp, đặc biệt trong thời gian học sinh không đến trường do dịch bệnh Covid-19 bùng phát, tôi đã tìm hiểu và sử dụng nhiều công cụ, ứng dụng, phần mềm để dạy học trực tuyến và duy trì tốt tương tác với học sinh như: Zoom, Google meet, Shub classroom, Quizzi, Nearpod, Google forms,… Mỗi một giải pháp hay một ứng dụng có những ưu điểm nhất định và tương thích với việc dạy học trực tiếp và trực tuyến Nhưng bản thân tôi nhận thấy, ứng dụng Google forms thể hiện được ưu thế hơn cả và phù hợp với môn Ngữ văn bởi những đặc điểm sau:
Một số đặc điểm của Google Forms:
Google Forms (còn gọi là Google biểu mẫu) là một trong những công cụ đa năng Công cụ này là một trình quản lí các biểu mẫu thu thập thông tin hoạt động trên nền web Google Forms của Google cùng với Docs, Sheets và Slides là một phần của bộ công cụ ứng dụng trực tuyến giúp chúng ta có thể hoàn thành công việc của mình trong trình duyệt một cách miễn phí Google Forms hoạt động trên Google Drive và truy cập tại địa chỉ : https://drive.google.com
Trang 3- Là một công cụ hoàn toàn miễn phí: chúng ta có thể sở hữu và sử dụng công
cụ này chỉ bằng việc có một tài khoản google, truy cập drive và lựa chọn mục New
=> Google form và sử dụng không giới hạn
- Có nhiều hình thức để thể hiện nội dung trong 1 form: Có thể là dạng văn bản, hình ảnh, video, chèn đường link trang web,…
- Đa dạng hình thức câu hỏi, bải tập: Trắc nghiệm dạng một đáp đúng, nhiều đáp đúng, dạng lưới,… Tự luận dạng câu trả lời ngắn, dạng câu trả lời dài (văn bản), chèn file,… Thậm chí với một phiếu nhiều nội dung, chúng ta có thể tác nội dung để người thực hiện hình dung được dễ dàng hơn
- Giao diện sinh động: chúng ta có thể tạo form với chủ đề hình ảnh, màu sắc bắt mắt, tăng sự thú vị cho người thực hiện
- Chia sẻ phiếu một cách rất dễ dàng, thuận tiện: chỉ cần gửi link đến địa chỉ mail hoặc sao chép link và gửi đến bất cứ ứng dụng, trang mạng xã hội nào
- Không giới hạn số người thực hiện và nộp phiếu
- Việc phiếu bị lỗi là rất tối thiểu
- Công cụ tự động thống kê kết quả, câu trả lời
- Lưu trữ phiếu lâu dài, không bị giới hạn,
- Chúng ta không cần luôn phải trong trạng thái online, chỉ cần 1 lệnh, phiếu
sẽ tự động online, tiếp nhận và xử lý kết quả Chỉ khi chúng ta thay đổi sang trạng thái “dừng chấp nhận trả lời” thì khi đó phiếu mới offline
1.3 Đối tượng nghiên cứu
- Học sinh lớp khối 9 - Trường THCS Thọ Dân, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa
- Một giải pháp giúp học sinh chuẩn bị bài mới môn Ngữ văn lớp 9
1.4 Phương pháp nghiên cứu
- Đọc, nghiên cứu tài liệu, phân tích, tổng hợp để hình thành đơn vị kiến thức
- Phương pháp kiểm tra, đánh giá
- Phương pháp so sánh đối chiếu kết quả
1.5 Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm
Giải pháp ứng dụng công cụ Google Forms trong việc thiết kế phiếu học tập hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài mới mà tôi triển khai ở môn Ngữ văn 9 tại trường THCS Thọ Dâncó những điểm mới sau:
Google Forms là một công cụ có nhiều tính năng nổi trội, chúng ta biết cách khai thác và ứng dụng linh hoạt công cụ này vào trong dạy học bộ môn Ngữ văn, đặc biệt là phần chuẩn bị bài mới sẽ tạo được hứng thú, niềm say mê môn học, phát huy tính tích cực, chủ động lĩnh hội kiến thức của học sinh, góp phần nâng cao hiệu quả dạy học chính là hoạt động chuẩn bị bài mới trước khi đến lớp Từ đó tạo được tâm thế cho giáo viên luôn chủ động, tích cực trong các hoạt động dạy và học Cụ thể , một số tính năng nổi bật của Google Forms như sau:
- Tính năng tạo biểu mẫu khảo sát: Google Forms cho phép người dùng tạo
một biểu mẫu khảo sát với nội dung nhập tùy chọn như: đoạn văn bản đơn thuần,
Trang 4nhiều tùy chọn, chọn có hoặc không, chọn một trong danh sách mẫu dạng mở rộng,
… Người sử dụng có thể thiết kế các dạng câu hỏi khác nhau: câu hỏi yêu cầu trả lời dài, trả lời ngắn gọn, câu hỏi trắc nghiệm hai hay nhiều lựa chọn Cụ thể:
+ Question Type: Kiểu câu hỏi mà bạn muốn hỏi, khi click vào sẽ có 7 lựa chọn:
• Text: Câu trả lời là một vài câu
• Paragraph text: Câu trả lời dài hơn, có thể là một đoạn, một bài văn
• Multiple choice: Câu trả lời kiểu lựa chọn, khi click vào câu nào thì sẽ chọn câu trả lời đó (chỉ được chọn 1 câu trả lời)
• Checkboxes: Tương tự như Multiple choice nhưng người dùng có thể chọn nhiều câu trả lời
• Choose from a list: Cho phép người dùng chọn một mục từ một danh sách
mà người thiết kế đã cài đặt
• Scale: Thanh chia mức độ dùng để chia mức độ cho một sự việc, số cực đại hoặc cực tiểu ứng với những mức mà chúng ta đã đề ra
• Grid: tương tự như Scale nhưng có nhiều dòng và cột để lựa chọn, tính năng này dùng cho khảo sát nhiều mục
+ Required question: Check vào ô này nếu chúng ta muốn người dùng nhất định phải điền trả lời, không được bỏ trống
- Tính năng chia sẻ không giới hạn: Với Google Forms người dùng có thể chia
sẻ biểu mẫu của mình qua email, mạng xã hội, những vào blog hay website tùy ý
- Tính năng thu thập và xử lí thông tin: thông tin thu thập được khi tiến hành
khảo sát sẽ dễ dàng được xuất ta dưới dạng file Excel, biểu đồ và đồ thị
- Tính năng tương tác: Là một chi tiết rất quan trọng đối với mỗi trang web
hay blog để tạo ra sự tương tác giữa người quản trị với người dùng Google Forms cho phép chúng ta tiến hành một cuộc khảo sát hoặc nhanh chóng tạo một bảng phân công cho nhóm bằng một biểu mẫu trực tuyến đơn giản
2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
Thực hiện theo Nghị quyết 29 hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện Giáo dục và Đào tạo với quan điểm chỉ đạo mục tiêu cụ thể đối với giáo dục phổ thông: “Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời” Theo đó, Nghị quyết này cũng đề ra nhiệm vụ, giải pháp cụ thể đối với cấp THCS như sau: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức,
kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học”
Trang 5Mục đích của việc đổi mới phương pháp dạy học ở trường phổ thông là thay đổi từ lối dạy học truyền thụ kiến thức một chiều sang dạy học theo phương pháp dạy học tích cực nhằm giúp học sinh phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, rèn luyện thói quen và khả năng tự học, tinh thần hợp tác và kĩ năng vận dụng kiến thức vào những tình huống khác nhau trong học tập và trong thực tiễn; tạo niềm vui, niềm tin và hứng thú trong học tập; khiến việc “học” của các em là quá trình kiến tạo, tìm tòi, khám phá, phát hiện, khai tác và xử lý thông tin, luyện tập, vận dụng… Từ đó mà việc nắm kiến thức của các em sẽ sâu sắc, hệ thống và lâu bền hơn
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
Việc chuẩn bị bài mới trước khi đến lớp đối với các môn học nói chung, đối với môn Ngữ văn nói riêng sẽ giúp học sinh nắm được sơ bộ kiến thức bài học, từ
đó hình hình các kĩ năng học tập, xử lí các thông tin, bồi dưỡng phẩm chất đạo đức, thánh độ học tập tích cực
Từ nhiều năm nay, trong giảng dạy môn Ngữ văn bản thân tôi cùng đồng nghiệp vẫn quen sử dụng phương pháp dạy học truyền thống Dạy học vẫn nặng về truyền thụ kiến thức lý thuyết và truyền thụ tri thức một chiều Số giáo viên chủ động, sáng tạo trong việc đổi mới các phương pháp dạy học cũng như sử dụng các
kĩ thuật dạy học tích cực nhằm phát huy phẩm chất, năng lực của học sinh còn chưa nhiều Việc ứng dụng CNTT, sử dụng các phương tiện dạy học chưa được thực hiện rộng rãi và có hiệu quả
Qua theo dõi tình hình thực tế và kết quả của cuộc khảo sát học sinh trên ứng dụng Google Forms vào thời điểm đầu năm học 2021-2022 cho thấy việc chuẩn bị bài ở nhà của học sinh khối 9 còn có thực trạng sau:
- Hiện tượng học sinh lười đọc SGK, ít chịu tự học, tự nghiên cứu, tìm tòi nội dung bài học, thường soạn bài đối phó bằng cách chép từ sách tham khảo, từ các trang mạng hoặc thậm chí mượn vở của bạn để chép bài soạn
- Hiện tượng học sinh lười tư duy, chỉ trả lời các câu hỏi tìm hiểu bài cho có lệ, qua loa, cho có bài soạn
- Hiện tượng học sinh chưa có phương pháp soạn bài đúng, chưa nắm được yêu cầu bắt buộc với việc chuẩn bị bài là đọc kĩ bài mới trả lời câu hỏi nên không hiểu câu hỏi, không biết cách trả lời
- Hiện tượng học sinh ngại tư duy những câu hỏi khó, ngại trả lời những câu hỏi dài, không chủ động tham khảo, tìm kiếm thông tin mặc dù có đủ những điều kiện học tập hiện đại, thuận lợi, không chủ động trao đổi với giáo viên để giải đáp những khó khăn
- Hình thức soạn bài truyền thống khiến cho học sinh không hứng thú vì hình thức trình bày đơn thuần là dạng tự luận, hơn nữa, hạn chế khả năng tương tác giữa giáo viên và học sinh
- Một số em vì hoàn cảnh, điều kiện riêng nên có ít thời gian chuẩn bị bài, học bài ở nhà
Trang 6Điều này dẫn đến hệ quả là việc học sinh xung phong xây dựng bài trong tiết học còn ít; chất lượng sản phẩm làm việc nhóm thấp; học sinh chưa có nếp tự học,
tự nghiên cứu, chưa có tư duy độc lập khám phá, khai thác những kiến thức bài học Kết quả học tập bộ môn Ngữ văn ở thời điểm này cũng chưa cao Kết quả bài bài khảo sát đầu năm học 2021 – 2022 của lớp như sau:
Khối 9
TSHS = 67 HS
Qua cuộc khảo sát, tôi còn nhận thấy 100% học sinh có phương tiện thông minh có kết nối internet và khả năng sử dụng phần mềm, ứng dụng trên website là khá thành thạo Trước thực trạng này, tôi đã tự đặt câu hỏi cho mình rằng: Làm thế nào để tôi có thể giúp các em: chuẩn bị bài mới một cách hiệu quả, tiết kiệm thời gian và có hứng thú hơn? Làm thế nào để cho những học sinh đang sở hữu những thiết bị thông minh, có kết nối internet và có khả năng sử dụng các ứng dụng, phần mềm này có thể vận dụng tất cả những điều kiện thuận lợi này cho việc học tập? Làm thế nào để các học sinh của tôi chủ động hơn trong việc học, tự tư duy, kiếm tìm kiến thức và có cơ hội thể hiện, trải nghiệm những khả năng ấy? Làm thế nào
để đổi mới phương pháp dạy học, phát huy được phẩm chất, năng lực của học sinh?
Do đó, tôi đã thực hiện giải pháp ứng dụng công cụ Google Forms trong việc thiết
kế phiếu học tập hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài mới trong môn Ngữ văn lớp 9 tại trường THCS Thọ Dân
2.3 Các sáng kiến kinh nghiệm hoặc các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
Với những tính năng hữu ích của ứng dụng Google Forms rất cần thiết để triển khai trong thời gian dạy học trực tiếp hay dạy học trực tuyến trong thời điểm dịch bệnh Covid-19 bùng phát nhằm nâng cao hiệu quả, chất lượng dạy học bộ môn, trong đó thực tiễn nhất là hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài mới môn Ngữ văn lớp 9
* Cấu trúc phiếu học tập hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài mới phân môn Văn học
a Cấu trúc bài học của phân môn Văn học trong chương trình Ngữ văn 9
Cấu trúc bài học của phân môn Văn học trong chương trình Ngữ văn 9 gồm: văn bản, chú thích, câu hỏi Đọc – hiểu văn bản, Ghi nhớ và Luyện tập, Đọc thêm (nếu có) Để chuẩn bị bài mới ở phân môn này, học sinh cần đọc văn bản để có được những cảm nhận và hiểu biết ban đầu về văn bản, tìm hiểu chú thích để nắm được những thông tin khái quát về tác giả và văn bản, hiểu được nghĩa của một số từ/ngữ khó, rồi tiếp đến là tự trả lời các câu hỏi phần Đọc – hiểu văn bản cho sẵn trong SGK Từ các thao tác tìm hiểu bài trên, học sinh khắc sâu kiến thức bài học bằng việc đọc - hiểu phần Ghi nhớ
Trang 7b Cấu trúc phiếu học tập hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài mới phân môn Văn học
Phần 1: Đọc văn bản
- Học sinh lắng nghe giáo viên đọc mẫu một đoạn bằng cách kích vào đường link cho sẵn
- Giáo viên đặt câu lệnh cho học sinh đọc văn bản
Phần 2: Tìm hiểu chú thích và những thông tin khái quát về tác giả - tác phẩm
- Giáo viên yêu cầu học sinh đọc phần chú thích trong SGK
- Giáo viên cung cấp thêm kiến thức mở rộng về tác giả và văn bản bằng cách chèn link tham khảo hoặc hình ảnh, bài viết,…
Trang 8- Giáo viên yêu cầu học sinh trả lời các câu hỏi tìm hiểu khái quát về tác giả và văn bản Ưu tiên hình thức trắc nghiệm đối với nội dung kiến thức này: dạng trắc nghiệm một đáp án đúng, dạng trắc nghiệm nhiều đáp án đúng.
Phần 3: Tìm hiểu chi tiết về văn bản
- Giáo viên bám sát các câu hỏi phần đọc – hiểu văn bản trong SGK để thiết kế các câu hỏi, bài tập cho học sinh Giáo viên lựa chọn hình thức câu hỏi, bài tập trong công cụ google forms linh hoạt, phù hợp, hiệu quả để tăng sự hứng thú học tập cho học sinh
Trang 9- Giáo viên chèn thêm hình ảnh, đường link tham khảo, phần gợi ý hoặc thay đổi cách diễn đạt đối với những câu/ý hỏi khó để đảm bảo 100% học sinh có thể tự
tư duy và trả lời được
- Giáo viên thể hiện rõ bố cục của văn bản bằng việc tạo tiêu mục với từng phần khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu chi tiết để phiếu học tập trở nên logic, sáng
Trang 10rõ hơn, giúp học sinh nhìn nhận và nắm vững được bố cục văn bản cũng như tiến trình tìm hiểu văn bản
Phần 4: Sơ đồ tư duy, trò chơi về đích - Bài tập hệ thống kiến thức cơ bản
- Học sinh khắc sâu những kiến thức cơ bản của bài học thông qua hệ thống sơ
đồ tư duy và câu hỏi trắc nghiệm trên ứng dụng Google Forms