Sách giáo khoa Ngữ văn 6 – Bộ Kết nối tri thức với cuộc sống thiết kế tiết dạy Thực hành Tiếng Việt với mục tiêu là: giúp các em học sinh có cơ hội vận dụng kiến thức về ngôn ngữ để nhận
Trang 1
1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
04
7 2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 05
8 3 Các giải pháp giải quyết vấn đề
3.1 Giải pháp 1: Sử dụng phương pháp học nhóm
3.1.1 Quy trình tổ chức dạy học theo nhóm
06
3.1.2 Các nguyên tắc tổ chức hoạt động nhóm 10 3.2 Giải pháp 2: Sử dụng phiếu học tập
3.2.1 Quy trình sử dụng phiếu học tập
3.2.2 Thực nghiệm sư phạm
12
1 Kết luận
17
I PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trong bài "Đổi mới căn bản, toàn diện để hoàn thiện một nền giáo dục và
đào tạo Việt Nam nhân bản" (Tạp chí Cộng sản, số 885-7/2016), Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) Phùng Xuân Nhạ nhấn mạnh: "Ngày nay, khi tri
Trang 2thức đã trở thành yếu tố hàng đầu để phát triển kinh tế tri thức thì các nước trên thế giới đều ý thức được rằng giáo dục là đòn bẩy quan trọng để đổi mới mô hình tăng trưởng và phát triển xã hội bền vững" Nhận thức sâu sắc về điều
đó, việc đổi mới tư duy giáo dục trong thời đại tri thức nhằm đáp ứng sự thay đổi của cuộc sống là một tất yếu, bởi vì "khi hệ thống tri thức có những thay đổi thì sớm hoặc muộn, nhanh hoặc chậm, năng lực tư duy và hoạt động của con người cũng phải thay đổi Đời sống hiện thực biến đổi luôn đặt ra những vấn đề mới, buộc con người phải suy nghĩ, tìm kiếm những lời giải đáp và những phương tiện để giải quyết vấn đề Những tri thức mới ra đời bổ sung và bồi đắp cho hệ thống tri thức đã có, làm thay đổi cách nhìn nhận, thay đổi từng phần thế giới quan, dẫn đến thay đổi cả phương thức hoạt động của con người và cộng đồng Điều đó cũng có nghĩa rằng, những tri thức mới đã làm thay đổi tư duy của con người" (Lương Đình Hải - Triết học trong kỷ nguyên toàn cầu - NXB Khoa học xã hội, 2009) Theo đó, việc đổi mới phương pháp dạy học nhằm đáp ứng bối cảnh của thời đại, nhu cầu phát triển đất nước, nhu cầu phát triển nguồn nhân lực, mục tiêu giáo dục phổ thông, yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực, phù hợp với nội dung giáo dục từng cấp, lớp được xem như một điều kiện có tính tiên quyết Chính vì vậy, năm học 2021 - 2022 là năm đầu tiên
ngành giáo dục nước ta triển khai dạy chương trình giáo dục phổ thông mới lớp
6 với 3 bộ sách giáo khoa khác nhau Sách giáo khoa Ngữ văn 6 – Bộ Kết nối tri thức với cuộc sống thiết kế tiết dạy Thực hành Tiếng Việt với mục tiêu là: giúp các em học sinh có cơ hội vận dụng kiến thức về ngôn ngữ để nhận biết và phân tích các đơn vị, hiện tượng tiếng Việt trong văn bản đọc Ở phần Thực hành Tiếng Việt, ở những bài có kiến thức tiếng Việt mới được nêu trong “Tri thức ngữ văn”, có mục “nhận biết” được đặt trong khung bên phải, giúp HS củng cố kiến thức và trả lời câu hỏi hay bài tập tốt hơn Như vậy, chúng ta có thể thấy, so với Sách giáo khoa năm 2000 thì sách giáo khoa mới đã có sự thay đổi rất khác biệt về mục tiêu bài học Tiếng Việt cũng như phương pháp tổ chức tiết học nhằm đáp ứng mục tiêu chung của chương trình GDPT 2018 là phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo của người học Học sinh sẽ được đặt vào trung tâm
Trang 3của hoạt động học Và phương pháp dạy học truyền thống trước đây liệu có còn đáp ứng được yêu cầu của chương trình GDPT mới? Khi mà học sinh học tập tích cực, các em tự khám phá và lĩnh hội tri thức thì buộc phương pháp dạy học cũng phải là phương pháp dạy học tích cực Chúng ta phải làm thế nào để thay đổi cách học thụ động mà bấy lâu nay đã tồn tại trong bao thế hệ thầy và trò của người Việt Nam Thay đổi thói quen dạy học, thay đổi phương pháp dạy học truyền thống không phải dễ dàng nhưng chúng ta hoàn toàn có thể làm được
Hoạt động nhóm và sử dụng phiếu bài tập là yêu cầu tối cần thiết trong đổi mới phương pháp giáo dục trong nhà trường hiện nay Với mỗi giáo viên có những cách thức tổ chức khác nhau, theo từng mục đích, yêu cầu và lượng kiến thức cần truyền đạt trong mỗi bài giảng khác nhau Tuy nhiên để hoạt động nhóm và sử dụng phiếu học tập có hiệu quả chúng ta cần thống nhất một số phương pháp chung sao cho dễ thực hiện, đáp ứng được trong mọi điều kiện, hoàn cảnh nhằm đem lại hiệu quả cao nhất cho mọi tiết dạy trên lớp của chúng
ta Đồng thời tất cả mọi giáo viên đều có thể áp dụng thực hiện được một cách
dễ dàng
Xuất phát từ những lý do mang tính thực tiễn đó cùng với kinh nghiệm đứng lớp nhiều năm của bản thân, đặc biệt là người trực tiếp giảng dạy Ngữ văn
lớp 6 ở năm học này, tôi đã lựa chọn biện pháp “ Sử dụng phương pháp học nhóm và phiếu học tập trong dạy thực hành Tiếng việt – Ngữ văn 6 ( SGK Kết nối tri thức với cuộc sống) theo hướng phát triển năng lực và phẩm chất học sinh”
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài để chia sẻ với đồng nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả đổi mới trong dạy học theo hướng phát huy tính tích cực và sáng tạo của học sinh Khi lựa chọn đề tài này, tôi hướng đến mục đích nghiên cứu là: chỉ ra và phát huy hiệu quả cao hơn nữa hiệu quả của phương pháp dạy học theo nhóm và
sử dụng phiếu học tập trong giảng dạy Thực hành Tiếng Việt – Ngữ văn lớp 6
Từ đó góp phần nâng cao chất lượng môn học đồng thời phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong học tập
Trang 43 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài này nghiên cứu về vấn đề: làm thế nào để tiết dạy “ Thực hành tiếng việt đạt hiệu quả tốt nhất
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài được thực hiện ở lớp 6, Trường THCS Tế Thắng- Nông Cống-Thanh Hoá
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 PP nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết;
4.2 PP điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin
4.3 PP thống kê, xử lý số liệu
II PHẦN NỘI DUNG
1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
Xuất phát từ mục tiêu chung của môn Ngữ văn mà Bộ đã ban hành định
hướng rất rõ , đó là: “môn Ngữ văn giúp học sinh phát triển năng lực ngôn ngữ
và năng lực văn học: rèn luyện các kĩ năng đọc, viết, nói và nghe; Có hệ thống kiến thức phổ thông nền tảng về tiếng Việt và văn học, phát triển tư duy hình tượng và tư duy logic, góp phần hình thành học vấn căn bản của một người có văn hoá; biết tạo lập các văn bản thông dụng; biết tiếp nhận, đánh giá các văn bản văn học nói riêng, các sản phẩm giao tiếp và các giá trị thẩm mĩ nói chung trong cuộc sống” Sách giáo khoa Ngữ văn 6- bộ Kết nối tri thức có nội dung bám sát, tuân thủ một cách tuyệt đối các yêu cầu của chương trình GDPT mới
2018 Chương trình GDPT 2018, chương trình tổng thể, đặc biệt là chương trình Ngữ văn 2018 đặt ra những yêu cầu hết sức rõ ràng về các năng lực cần phát triển của học sinh cấp THCS, THPT đặc biệt là các em học sinh lớp 6 Trong đó
có 4 kỹ năng mà chương trình yêu cầu đó là Đọc, Viết, Nói, Nghe Chương trình GDPT mới hướng tới phát triển năng lực, phẩm chất cho học sinh Nếu như trước đây, sách giáo khoa trình bày mỗi đơn vị kiến thức Tiếng Việt thì phải trải qua phần ví dụ minh họa, sau đó mới hình thành khái niệm cho học trò rồi mới đến phần thực hành (luyện tập) thì chương trình giáo dục phổ thông 2018 đã
Trang 5bỏ đi hẳn phần lí thuyết để đi vào thực hành ngay Có nhiều ý kiến cho rằng chương trình mới rất nặng vì yêu cầu các em thực hành luôn trong tiết học từ những ngữ liệu lấy từ văn bản kết nối với tiết ấy trước đó Nhưng, nếu hiểu rõ mục tiêu của toàn chủ đề thì người giáo viên sẽ biết tổ chức một tiết dạy thực hành tiếng việt sao cho sinh động Ví dụ: khi giảng dạy bài 3, Hồi kí và kí, phần thực hành Tiếng Việt về từ đa nghĩa, từ mượn và từ đồng âm, giáo viên sẽ bắt đầu bài học bằng những câu đố vui để dẫn dắt học sinh đến với bài học Tiếp đó, giáo viên thiết kế trò chơi "Khám phá Tiếng Việt" với những câu hỏi ám sát bài học, gần gũi nhằm giúp học sinh ôn lại các định nghĩa tiếng Việt và những lưu ý cần thiết trước khi vào phần thực hành Sau đó, qua hệ thống phiếu bài tập, thầy,
cô hướng dẫn gợi mở học sinh luyện tập qua các bài tập ở sách giáo khoa Cuối cùng, phần vận dụng và mở rộng kiến thức được thiết kế với những câu hỏi ở phần "Em có biết", cùng kho từ mượn tiếng Pháp, câu ca dân gian có sử dụng từ đồng âm
2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
Chương trình tiếng việt trong sách giáo khoa 2006 được xây dựng theo hai phần: phần đầu là Lý thuyết, sau đó mới đến luyện tập Như vậy, giáo viên
từ ví dụ đã hướng dẫn học sinh nhận diện kiến thức của tiết bài rồi để học sinh Luyện tập Cách bố trí từng phần như vậy đã trở thành quen thuộc mang tính ổn định Nhưng chương trình Tiếng Việt của sách giáo khoa bộ kết nối 2018 lại khác: một sự thay đổi hoàn toàn đúng với cái tên của nó đó là Thực hành tiếng việt Học sinh sẽ thực hành luôn khi vào tiết bài, ngữ liệu được kết nối với văn bản trước đó Đứng trước sự thay đổi này người giáo viên cũng cần thay đổi phương pháp truyền thụ kiến thức, làm thế nào các em có thể tiếp cận kiến thức
và thao tác nhanh
Đầu năm tôi tiến hành khảo sát chất lượng về các năng lực được phát huy trong giờ học ngữ văn ở lớp 6
Lớp Tổng số
học sinh
Phát huy tốt các năng lực
Phát huy các năng lực nhưng còn hạn chế
Chưa phát huy hết năng lực
Trang 6SL % SL % SL %
Thực trạng trên cho thấy việc phát triển năng lực người học chưa được quan tâm đúng mức, đòi hỏi cần thay đổi và khắc phục
3 Các giải pháp giải quyết vấn đề.
3.1 Giải pháp 1: Sử dụng phương pháp học nhóm
3.1.1 Qui trình tổ chức dạy học theo nhóm
Giáo viên cần nắm được 5 bước cơ bản sau:
Bước 1 Chia nhóm - GV nên chia từ đầu năm học
Bước 2 Giao nhiệm vụ - định hướng
hoạt động nhóm
- GV giao nhiệm vụ rõ ràng
Bước 3 Bao quát - kiểm tra quá trình
hoạt động nhóm của học sinh
-GV bao quát cả lớp và từng đối tượng HS Chú ý nhiều HS yếu, kém, thiếu tự tin
Bước 4 Các nhóm báo cáo kết quả -HS chia sẻ trong nhóm -> trước lớp
Bước 5 Nhận xét, đánh giá - Kết luận
vấn đề
-Các nhóm nhận xét, bổ sung ->GV chốt kiến thức
Cụ thể hóa các bước thực hiện:
Bước 1: Chia nhóm
Trong tiết học, nếu có nhiều nội dung, ta nên thay đổi hình thức nhóm, tạo
ra cái mới, không khí học tập vui vẻ hơn Giáo viên nên chú ý đặc điểm của học sinh (trình độ, thái độ, tính cách, giới tính…) để cơ cấu nhóm cho phù hợp Các hình thức xếp nhóm cụ thể :
* Nhóm cặp (2 học sinh): Thường dùng khi cần học sinh trao đổi, thảo luận những vấn đề cụ thể, đơn giản, thời gian ngắn
Ví dụ: Tiết thực hành Tiếng Việt “Từ đơn từ phức” ở bài tập số 2 (sgk trang 20), GV có thể yêu cầu HS thảo luận nhóm cặp làm bài tập
Đề bài: Trong “Bài học đường đời đầu tiên” có những từ láy mô phỏng
âm thanh như: véo von, hừ hừ Hãy tìm thêm những từ láy khác thuộc loại này ở trong văn bản.
HS thảo luận từ 3-5 phút và trình bày kết quả thảo luận trước lớp
Trang 7* Nhóm bàn (4 - 6 học sinh): Dùng khi học sinh trao đổi ý kiến hoặc thực hành một công việc cụ thể đòi hỏi nỗ lực chung của cả nhóm khi tiến hành thảo luận
Ví dụ: Tiết Thực hành tiếng Việt “Biện pháp tu từ”, GV có thể tổ chức HS thảo luận nhóm bàn và làm bài tập số 3 – trang 47 (Đây là bài tập có mức độ cả nhận biết và vận dụng khá cao)
Đề bài: Xác định và nêu tác dụng của biện pháp tu từ điệp ngữ trong đoạn thơ sau:
“Nhưng con biết trò chơi khác hay hơn Con là sóng và mẹ sẽ là bến bờ kỳ lạ Con lăn, lăn mãi rồi sẽ cười vang vỡ tan vào lòng mẹ.
Và không ai trên thế gian này biết mẹ con ta ở chốn nào”
* Nhóm tổ (8 – 12 học sinh): Dùng khi thảo luận với nội dung có nhiều vấn đề, nhiều quan điểm trong khả năng giải quyết của học sinh, các vấn đề cần so sánh hay đi sâu hơn vào một nội dung đã thảo luận ở nhóm nhỏ nhưng khó thực hiện chung cho cả lớp
Ví dụ: Bài 3 – Yêu thương và sẻ chia, GV có thể chia nhóm tổ như sau:
Tiết thực hành Tiếng Việt “Cụm danh từ” ở bài tập số 3 (Sgk/Tr.66): So sánh
những câu văn sau đây và rút ra nhận xét về tác dụng của việc dùng cụm danh từ làm thành phần chính của câu GV có thể tổ chức thảo luận theo tổ
- Tổ 1 và tổ 2: làm phần (a)
-Tổ 3 và tổ 4: làm phần (b)
- Nhóm lớn: Dùng để nghiên cứu, phân tích, trao đổi về một số vấn đề phức tạp đòi hỏi có sự cộng tác cao
Ví dụ: Bài 3 – Yêu thương và sẻ chia, Tiết thực hành Tiếng Việt ở phần Viết ngắn – Bài tập 5 (sgk/tr.67)GV có thể chia lớp thành 2 nhóm lớn để hoàn thành bài tập GV ấn định thời gian HS các nhóm và nộp sản phẩm
Đề bài: Hãy tưởng tượng và viết đoạn văn (khoảng 5-7 câu) về cảnh cô
bé bán diêm gặp lại người bà của mình, trong đoạn văn có sử dụng ít nhất một cụm danh từ làm thành phần chủ ngữ của câu.
Việc chia nhóm nên thực hiện ngay từ đầu năm học, học sinh sẽ biết được mình ở nhóm nào
Kinh nghiệm thực tiễn cho thấy, xếp từ 4 đến 6 học sinh vào một nhóm là hợp lí, có hiệu quả nhất và nhanh nhất vì khi giáo viên yêu cầu thảo luận nhóm thì từng cặp bàn (loại bàn 2 chỗ ngồi tương ứng với một nhóm 4 học sinh) quay
Trang 8lại với nhau là xong, ít tốn thời gian di chuyển và không gây mất trật tự Mặt khác, nhóm có ít học sinh thì càng có ít học sinh chơi nên mỗi học sinh đều phải hoạt động, không có học sinh đứng ngoài lề và có ít học sinh thì sự thống nhất ý kiến càng nhanh
Số lượng nhóm ít nhất phải gấp đôi số lượng câu hỏi thảo luận Nghĩa là một câu hỏi thì phải có ít nhất hai nhóm cùng thảo luận câu hỏi đó thì mới thực hiện được khâu quan trọng tiếp theo là nhận xét đánh giá lẫn nhau giữa các nhóm Nhóm này có ý kiến thảo luận khác nhóm bạn, hoặc tìm ra đáp án hợp lí hơn nhóm bạn thì hoạt động thảo luận mới sôi nổi
Bước 2: Giao nhiệm vụ - định hướng hoạt động nhóm
Giáo viên phát phiếu học tập hoặc nêu yêu cầu cho các nhóm, ấn định thời gian làm việc, các nhóm nhận nhiệm vụ, tập trung giải quyết vấn đề Để kích thích các nhóm hoạt động sôi nổi, giáo viên có thể qui ước: nhóm nào có kết quả thảo luận tốt nhất sẽ chiến thắng và nhận được phần thưởng đặc biệt (phần thưởng có thể là một tràng vỗ tay biểu dương của cả lớp, tích điểm thi đua cho nhóm…)
Bước 3: Bao quát - kiểm tra quá trình hoạt động nhóm của học sinh
Trong khi học sinh làm việc, giáo viên nên đến từng nhóm hỗ trợ, động viên, nhắc nhở để các nhóm làm việc đều tay, đảm bảo thời gian Mục đích để đôn đốc thái độ hợp tác tích cực của các thành viên, cần tránh tình trạng dựa dẫm, chỉ một cá nhân làm việc Mặt khác, thông qua quá trình kiểm tra để gợi
mở cho học sinh, hướng vấn đề thảo luận đi vào trọng tâm
Trong thời gian các nhóm thảo luận, giáo viên tuyệt đối không được làm việc riêng mà phải thường xuyên đi kiểm tra hoạt động của từng nhóm để nắm được em nào hoạt động, em nào không hoạt động và lắng nghe các em trao đổi
có đúng hướng không để hướng dẫn kịp thời, còn nếu phát hiện có thành viên trong nhóm không tham gia hoạt động, giáo viên có thể yêu cầu em đó tham gia phát biểu
Nếu thấy nhóm nào gặp khó khăn, giáo viên không giải đáp thắc mắc ngay mà chỉ nên giúp học sinh hướng tư duy hoặc cung cấp các nguồn dữ liệu,
tư liệu cần thiết cho việc làm sáng tỏ vấn đề
Bước 4: Các nhóm báo cáo kết quả
Hết thời gian thảo luận, giáo viên có thể yêu cầu bất kì em nào trong nhóm trình bày kết quả thảo luận Tùy nội dung câu hỏi, tùy điều kiện cơ sở vật
Trang 9chất từng trường, học sinh có thể trình bày bằng nhiều cách khác nhau như dùng máy chiếu, bảng phụ, giấy khổ to… Khi học sinh các nhóm lên trình bày, giáo viên lưu ý không nên đưa ra câu hỏi chất vấn hoặc nhận xét đúng, sai ngay lập tức sẽ làm cho học sinh lúng túng, giáo viên nên để cho cả lớp cùng nhận xét
Nếu bài dài, để tiết kiệm thời gian, mỗi câu hỏi thảo luận giáo viên chỉ yêu cầu một vài nhóm trình bày (nếu các nhóm cùng thảo luận một câu hỏi), các nhóm không được yêu cầu trình bày kết quả thì có nhiệm vụ nhận xét, bổ sung phần trình bày của nhóm bạn nhằm đảm bảo tất cả có cơ hội đóng góp ý kiến trong tiết học, qua đó giáo viên cũng đánh giá được kết quả làm việc của các nhóm Khi học sinh các nhóm khác nhận xét, bổ sung, giáo viên phải lắng nghe cẩn thận và ghi tóm tắt lên bảng những điểm cơ bản của mỗi ý kiến phát biểu để phát hiện những mâu thuẫn giữa các ý kiến, nếu có ý kiến khác nhau thì kịp thời nêu vấn đề cho học sinh giải quyết
Bước 5: Nhận xét, đánh giá - Kết luận vấn đề
Khi các nhóm không còn ý kiến bổ sung, giáo viên nên dành đủ một khoảng thời gian để nhận xét các ý kiến của học sinh và thực hiện một quá trình phản hồi đầy đủ và hoàn chỉnh các thông tin mà học sinh cần ghi nhớ, giáo viên nên chuẩn bị sẵn trong bảng nhóm hoặc ghi bảng, sau đó đặt câu hỏi kiểm tra một số em, xem các em đã nắm được vấn đề hay chưa Cuối cùng, giáo viên cũng nên khuyến khích, động viên học sinh tiếp tục tham gia phát biểu trong những lần sau bằng cách tỏ thái độ hài lòng, thích thú, khen ngợi kịp thời những câu trả lời của học sinh, hoặc cho điểm những học sinh xuất sắc
Tôi tiến hành nhận xét ngay sau khi hoạt động hợp tác kết thúc hoặc vào cuối mỗi tiết học Mục đích của nhận xét hoạt động nhóm là để học sinh có ý thức thực hiện những yêu cầu về kĩ năng hợp tác Nội dung nhận xét sẽ tập trung vào việc thực hiện những nhiệm vụ về hợp tác diễn ra như thế nào? Học sinh nào đã thực hiện tốt, những gì có thể thay đổi để hoạt động hợp tác ngày càng được tốt hơn? Dần dần tôi hướng dẫn học sinh tự nhận xét nhóm mình, các nhóm khác nhận xét nhóm bạn, tôi đóng vai trò tập hợp, khái quát, bổ sung những nhận xét của từng nhóm Việc nhận xét quá trình làm việc của nhóm cũng không nên qua loa, đại khái Càng đưa ra nhận định cụ thể càng giúp học sinh tích lũy nhiều kinh nghiệm cho những hoạt động lần sau
Những tiêu chí nhận xét cần thiết phải có:
-Tinh thần, thái độ làm việc của các thành viên trong quá trình thảo luận
Trang 10- Kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao
- Kĩ năng trình bày kết quả hoặc giải thích chất vấn trước lớp
- Sự luân phiên trong nhóm (Cần khen ngợi những học sinh biết lắng nghe và đưa ra những câu hỏi thắc mắc phù hợp.) Để học sinh hiểu, biết được vai trò và trách nhiệm của mình, tôi làm mẫu cho các em học tập Qua việc làm mẫu học sinh hiểu được cách thức thảo luận và biết được vai trò của mình trong nhóm (Việc làm này thường diễn ra ở giai đoạn đầu năm học)
Sau đó, giáo viên hướng dẫn học sinh ghi chép lại kiến thức trọng tâm cần ghi nhớ của bài học vào vở
3.1.2 Các nguyên tắc tổ chức hoạt động nhóm
Để hướng dẫn học sinh học hợp tác nhóm đạt hiệu quả tôi luôn chú ý đảm bảo thực hiện đúng những nguyên tắc sau:
Nguyên tắc số 1: Tạo môi trường hợp tác trong nhóm
Học hợp tác nhóm đòi hỏi sự trao đổi qua lại tích cực giữa các học sinh trong nhóm Điều đó được thực hiện khi các thành viên của nhóm nhìn thấy nhau trong trao đổi Sự tương tác “mặt đối mặt” có tác động tích cực đối với học sinh như tăng cường động cơ học tập làm nảy sinh những hứng thú mới, kích thích sự giao tiếp, chia sẻ tư tưởng và đáp án để giải quyết vấn đề, tăng cường các kĩ năng bày tỏ thái độ, biểu đạt, phản hồi bằng các hình thức như lời nói, ánh mắt, cử chỉ, khích lệ mọi thành viên tham gia, phát triển mối quan hệ gắn bó, quan tâm đến nhau Đặc biệt, tôi luôn quan tâm, theo dõi và hướng dẫn học sinh cách góp ý bạn sao cho dễ nghe, dễ tiếp thu, tranh luận có lí nhưng không gay gắt, nóng nảy, khi nói nhìn thẳng vào bạn, mạnh dạn, tự tin; động viên khích lệ bạn khi bạn có tiến bộ, giúp đỡ bạn khi bạn gặp khó khăn trong diễn đạt hay trình bày
Nguyên tắc số 2: Sự phối hợp tích cực giữa các thành viên trong nhóm
Trong hoạt động hợp tác nhóm, học sinh phải nhận thấy được trách nhiệm giải quyết nhiệm vụ chung của mình Vì vậy các thành viên của nhóm phải gắn kết với nhau theo cách nghĩ mỗi cá nhân cũng như toàn nhóm chỉ có thể thành công nếu cố gắng hết sức mình Nếu một bạn nào trong nhóm không hoàn thành thì chắc chắn nhiệm vụ của cả nhóm sẽ không hoàn thành Vì vậy, ngay từ đầu tôi xác định rõ cho các em hiểu được trách nhiệm của mình trong nhóm học tập là: thực hiện nhiệm vụ được giao - đảm bảo các thành viên trong nhóm mình đều hoàn thành nhiệm vụ được giao (bạn nào xong trước thì cùng hỗ