SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ PHÒNG GD&ĐT CẨM THỦY SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM SỬ DỤNG MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP, KĨ THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC ĐỂ PHÁT HUY TÍNH CHỦ ĐỘNG, SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH TRONG
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
PHÒNG GD&ĐT CẨM THỦY
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
SỬ DỤNG MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP, KĨ THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC
ĐỂ PHÁT HUY TÍNH CHỦ ĐỘNG, SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH
TRONG BÀI HỌC CÂU PHỦ ĐỊNH- NGỮ VĂN LỚP 8
Người thực hiện: Nguyễn Thị Hà
Trang 22.2.Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 6
2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề 6
Trang 3Tài liệu tham khảo
Danh mục các đề tài SKKN đã được Hội đồng SKKN Ngành GD
cấp PGD&ĐT, cấp SGD&ĐT và các cấp cao hơn đánh giá đạt từ
loại C trở lên
1 MỞ ĐẦU 1.1 Lí do chọn đề tài
Bác Hồ kính yêu đã từng nói:
Vì lợi ích mười năm trồng cây
Vì lợi ích trăm năm trồng người
Sự nghiệp trồng người là sự nghiệp dài lâu, sự nghiệp của trăm năm Lợi ích của việc trồng người là đào tạo ra thế hệ con người trong tương lai toàn đức, toàn
tài để dựng xây, kiến thiết nước nhà Với mong muốn đào tạo một thế hệ con ngườiViệt Nam có đủ tri thức, năng lực, phẩm chất, Đảng và Nhà nước đã đề ra mục tiêu
của giáo dục là phát triển toàn diện cả về phẩm chất và năng lực, hài hòa trí, đức,
thể, mĩ và phát huy tốt nhất tiềm năng của mỗi học sinh Để đạt được mục tiêu đó,trong quá trình dạy học, người dạy luôn lấy học sinh là trung tâm, là chủ thể củaquá trình dạy học để tổ chức, hướng dẫn người học phát huy tính chủ động, tíchcực, sáng tạo; giúp các em có thể tự bộc lộ, tự phát huy hết khả năng của bản thânmình để đi đến chiếm lĩnh chân trời tri thức đồng thời qua đó hình thành và pháttriển những phẩm chất tốt đẹp của người học Muốn làm được điều đó, người thầycần hội tụ đủ tri thức, kĩ năng, phẩm chất, không ngừng trau dồi rèn luyện, tự học,
tự sáng tạo… mới làm tốt vai trò tổ chức, hướng dẫn của mình Người dạy cầnkhông ngừng đổi mới phương pháp, đổi mới cách dạy cho phù hợp với nội dung bàihọc Đặc biệt cần chú trọng việc sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tíchcực để phát huy tính chủ động, sáng tạo của học sinh trong quá trình dạy học
Hiện nay, việc dạy học các môn học nói chung và môn ngữ Văn nói riêngtrong nhà trường phổ thông còn gặp rất nhiều khó khăn Trước hết phải kể đếnnhững tác động khách quan bên ngoài cũng ảnh hưởng không nhỏ đến quá trìnhdạy học của giáo viên và học sinh Khó khăn đến từ phía người học: các em chưachịu khó trong việc tìm hiểu vấn đề, nhiều học sinh tư duy còn chậm, thụ độngtrong tìm hiểu kiến thức; chưa đầu tư thời gian vào việc học, nhu cầu xã hội, nhữngham muốn cá nhân, các tác động tiêu cực của xã hội hiện đại làm nhạt phai lí
Trang 4tưởng, mục đích của việc học…Từ phía người dạy, đứng trước chủ thể người họcvới nhiều vấn đề như vậy cũng còn khá lúng túng trong việc tìm ra hướng đi, cáchgiải quyết cho phù hợp Chính vì thế dạy và học bộ môn còn đang đặt ra rất nhiềuvấn đề cần giải quyết…
Trong quá trình giảng dạy, đứng trước những khó khăn trên, tôi luôn trăn trở,tìm tòi cách để làm sao cho học sinh có sự tích cực, chủ động và sáng tạo trong việchọc Đồng thời có một số sáng kiến cùng đề tài đã nghiên cứu và áp dụng cho thấynhững hiệu quả nhất định đó là sự chuyển biến tích cực trong việc học cũng nhưhình thành năng lực, phát triển nhân cách và một số kĩ năng sống của người học Vì
thế, bản thân tôi đã đi sâu nghiên cứu đề tài: Sử dụng một số phương pháp, kĩ
thuật dạy học tích cực để phát huy tính chủ động, sáng tạo của học sinh trong bài học Câu phủ định- Chương trình ngữ Văn 8 nhằm giúp người học chủ động,
sáng tạo trong việc tìm hiểu kiến thức bài học nói riêng và môn ngữ Văn nói chung.Trong đề tài, tôi đi vào nghiên cứu một số phương pháp, kĩ thuật dạy học như:phương pháp học nhóm, kĩ thuật hỏi và trả lời, kĩ thuật sơ đồ tư duy, trình bày 1phút, kĩ thuật đóng vai…Hi vọng sau nghiên cứu, đề tài của tôi có thể được nhiềubạn bè ứng dụng nhằm nâng cao chất lượng dạy và học cũng như phát huy đượctính chủ động, tích cực, sáng tạo của người học trong dạy học phân môn Tiếng Việtnói riêng và môn học ngữ Văn nói chung
Bên cạnh mục tiêu đào tạo ra thế hệ con người Việt Nam toàn diện.Trongquá trình dạy học, người dạy cũng cần chú trọng việc nâng cao chất lượng dạy vàhọc Việc phát huy tính tích cực, chủ động trong học tập của học sinh giúp kết quảhọc tập của các em ngày càng tiến bộ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục bộmôn ngữ Văn nói riêng và chất lượng giáo dục của nhà trường nói chung Để pháthuy tính tích cực, chủ động của học sinh trong việc tìm tòi, chiếm lĩnh kiến thứcnhằm trau dồi kiến thức, năng lực và phát triển nhân cách, trong quá trình giảngdạy, giáo viên luôn xác định rõ vai trò cố vấn, hướng dẫn học sinh bằng các hìnhthức dạy học khác nhau Trong đó, việc giáo viên sử dụng các phương pháp, kĩ
Trang 5thuật dạy học tích cực một cách phù hợp, linh hoạt để giúp học sinh chủ động, sángtạo trong lĩnh hội kiến thức là vô cùng quan trọng
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung đi sâu nghiên cứu đối tượng: sử dụng một số phương pháp,
kĩ thuật dạy học tích cực để phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh
trong bài học Câu phủ định- Chương trình ngữ Văn 8
Việc áp dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực một cách phù hợp,linh hoạt và hiệu quả nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong bàihọc Câu phủ định nói riêng và trong môn ngữ Văn nói chung
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu:Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết; phương pháp điều tra khảo sátthực tế, thu thập thông tin; phương pháp thống kê, xử lý số liệu
Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết: bản thân đã tìm tòi,nghiên cứu các tài liệu về các văn bản chỉ đạo đổi mới giáo dục trong đó có đổi mới
về phương pháp giáo dục, các bài viết về các phương pháp, kĩ thuật dạy học tíchcực bằng nhiều nguồn như sách, báo, sách tham khảo, internet, để xây dựng cơ sở
lí thuyết hợp lí và chắc chắn cho đề tài
Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin: Thực tế trong quátrình giảng dạy, bản thân trực tiếp điều tra, khảo sát việc áp dụng các phương pháp,
kĩ thuật dạy học tích cực ở lớp 8C trong các giờ học bộ môn và đánh giá hiệu quảcủa việc áp dụng các hình thức dạy học ở các tiết dạy cụ thể trên lớp để phục vụcho việc nghiên cứu đề tài
Phương pháp thống kê, xử lý số liệu: Từ những thông tin thu thập được khiđiều tra khảo sát thực tế, tôi thống kê, xử lí những thông tin này để đưa vào đề tàinghiên cứu
2 NỘI DUNG 2.1.Cơ sở lí luận
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, khi đưa ra các nhóm giải pháp để giải quyếtvấn đề, tôi đều dựa trên cơ sở lí luận vững chắc Cơ sở lí luận đó là các văn bản chỉđạo của các cấp, các bài viết của tạp chí giáo dục về đổi mới giáo dục, đổi mớiphương pháp dạy học phù hợp với yêu cầu đổi mới của giáo dục hiện nay Hướngdẫn cách sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực Cụ thể là:
Cơ sở lí luận đầu tiên mà đề tài bám sát là căn cứ vào các văn bản chỉ đạo củacác cấp, các bài viết của tạp chí giáo dục về đổi mới giáo dục, đổi mới phươngpháp dạy học:
Mục tiêu lớn của giáo dục theo tinh thần chỉ đạo của Đảng thể hiện trongNghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổimới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiệnđại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập
là: phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng
Trang 6nhân tài Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất của người học Nghị quyết cũng đưa ra mục tiêu giáo dục con người Việt nam toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân Trong đó, mục tiêu đặt ra đối với giáo dục phổ thông là tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân …Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kĩ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời
Nghị quyết số 88/2014/QH13 của Quốc hội với chủ trương:…tạo chuyển biến căn bản toàn diện về chất lượng và hiệu quả giáo dục phổ thông; kết hợp dạy chữ, dạy người và định hướng nghề nghiệp; góp phần chuyển nền giáo dục nặng về truyền thụ kiến thức sang nền giáo dục phát triển tòan diện cả về phẩm chất và năng lực, hài hòa trí, đức, thể, mĩ và phát huy tốt nhất tiềm năng của mỗi học sinh… Thực hiên theo tinh thần nghị quyết, chương trình giáo dục phổ thông mới được xây dựng theo hướng tiếp cận năng lực người học.
…Tiếp tục đổi mới phương pháp giáo dục theo hướng phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, bồi dưỡng phương pháp tự học, hứng thú học tập, kĩ năng hợp tác, làm việc nhóm và khả năng tư duy độc lập…….Việc đổi mới phương pháp dạy học nhằm đáp ứng bối cảnh của thời đại, nhu cầu phát triển của đất nước, nhu cầu phát triển nguồn nhân lực, mục tiêu giáo dục phổ thông, yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực, phù hợp với nội dung giáo dục từng cấp, lớp được xem như một điều kiện có tính tiên quyết (Tạp chí giáo dục, số 378-3/2016) Qua đây ta thấy một trong những đổi mới
có vô cùng quan trọng của giáo dục là đổi mới phương pháp dạy học
Năm học 2016-2017, Bộ giáo dục và Đào tạo đã có văn bản hướng dẫn việcthực hiện nhiệm vụ đối với giáo dục Trung học với 4 nhiệm vụ trọng tâm Trong đó
có nhiệm vụ hướng dẫn về sử dụng thường xuyên và hiệu quả các phương pháp,
hình thức, kĩ thuật dạy học tích cực Cụ thể là: Thực hiện thường xuyên, hiệu quả các phương pháp, hình thức, kĩ thuật dạy học tích cực; đổi mới nội dung, phương thức đánh giá học sinh và phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và rèn luyện phương pháp tự học, tăng cường kĩ năng thực hành, vận dụng kiến thức, kĩ năng giải quyết các vấn đề thực tiễn, đa dạng các hình thức học tập, chú trọng các hoạt động trải nghiệm sáng tạo, nghiên cứu khoa học của học sinh; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học.
Một trong những định hướng quan trọng của việc phát triển nền giáo dụctheo định hướng phát triển năng lực là phát huy tính năng động, tư duy độc lập vàsáng tạo của người học Trong đó để người học phát huy được sự năng động, sángtạo, tư duy độc lập thì trong quá trình dạy học, người dạy cần tổ chức hướng dẫn,học sinh học tập thông qua các hình thức, phương pháp và các kĩ thuật dạy học tíchcực một cách phù hợp để người học tự mình làm chủ, tìm tòi khám phá kiến thức
Trang 7của môn học đồng thời phát huy được những năng lực vốn có, khả năng sáng tạocủa mình…
Cơ sở lí luận tiếp theo mà đề tài căn cứ là các bài viết, sách lưu hành nội bộviết về các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực Trong mỗi bài viết đều nêu ưunhược điểm, cách tiến hành và áp dụng phương pháp, kĩ thuật ở phần nào của bàihọc để phát huy được tác dụng của phương pháp, kĩ thuật trong việc kích thích tưduy, sự tích cực, chủ động và sáng tạo của người học Bản thân trong phạm vinghiên cứu của đề tài đi sâu vào nghiên cứu phương pháp dạy học nhóm, kĩ thuậtnhóm, kĩ thuật đóng vai, kĩ thuật hỏi và trả lời, kĩ thuật lược đồ tư duy để phát huy
tính chủ động, sáng tạo của học sinh trong bài học Câu phủ định Các bài viết này
chính là cơ sở để tôi nghiên cứu và áp dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tíchcực vào giảng dạy nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học
2.2.2 Kết quả của thực trạng:
Từ thực trạng trên, tôi đã tiến hành kiểm tra, khảo sát về mức độ tích cực, chủđộng, sáng tạo trong học tập của học sinh lớp 8C đầu năm học để phân loại đốitượng học sinh trong quá trình dạy học Kết quả thu được như sau:
Bảng 1: Bảng khảo sát mức độ tích cực, chủ động, sáng tạo trong học tập của
học sinh lớp 8C trước khi áp dụng đề tài
số
Mức độ
Ghi chú
Tự giác hoạt động
Có hoạt động nhưng cần nhắc nhở
Hoạt động yếu
Từ bảng khảo sát trên, ta thấy số lượng học sinh có hoạt động nhưng cần nhắcnhở và hoạt động yếu còn cao, chiếm gần 70% trên tổng số học sinh cả lớp Lí do
Trang 8học sinh hoạt động yếu và hoạt động còn cần nhắc nhở nhiều là do các em chưa cótinh thần tự giác, chủ động và tích cực trong việc học mặc dù các nhiệm vụ học tập
đã được giao cụ thể cho từng nhóm học sinh, từng đối tượng học sinh Qua đó, tathấy số lượng học sinh chưa tích cực, chủ động trong các hoạt động học tập theo sựhướng dẫn của các thầy cô giáo còn nhiều Đây là số liệu mà người dạy cần phảisuy nghĩ và trăn trở làm sao để thôi thúc được động lực học của các em, làm sao đểcác em có thể tự giác, tích cực, chủ động và sáng tạo trong việc học Để khắc phụcđiều này, bản thân trong phạm vi đề tài đã đưa ra các nhóm giải pháp sau đây
2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.
Để phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong việc học của học sinhtrong dạy học bộ môn, trong phạm vi đề tài, tôi đã áp dụng một số phương pháp, kĩ
thuật dạy học tích cực vào bài học: Câu phủ định – chương trình ngữ Văn 8 Trong
đề tài tôi áp dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực như sau:
2.3.1 Phương pháp dạy học nhóm
Có thể nói dạy học nhóm là phương pháp dạy học tích cực có nhiều ưu điểmnhư: phát huy tính tích cực, tự lực và tính trách nhiệm của học sinh; hỗ trợ tư duy,tình cảm và hành động độc lập, sáng tạo của người học; phương pháp này giúp họcsinh phát triển kĩ năng cộng tác làm việc như tinh thần đồng đội, sự quan tâm đếnngười khác và giúp học sinh phát triển năng lực giao tiếp… Để phát huy được tínhchủ động, tích cực trong các giờ học phân môn Tiếng Việt, phương pháp dạy họcnhóm được tôi lựa chọn sử dụng đầu tiên Với phương pháp này học sinh được chiathành các nhóm nhỏ, trong khoảng một thời gian nhất định, mỗi nhóm tự hoànthành các nhiệm vụ học tập trên cơ sở phân công và hợp tác làm việc Đặc biệt họcsinh phải tự lực giải quyết nhiệm vụ học tập nên đòi hỏi người học phải tham giatích cực, có trách nhiệm với nhiệm vụ và kết quả của mình
2.3.1.1 Sử dụng phương pháp học nhóm giúp học sinh tìm hiểu đặc điểm hình thức và chức năng của câu phủ định.
Để học sinh chủ động tìm ra được đặc điểm hình thức và biết được chức năngcủa câu phủ định ở mục I Khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu phần ví dụ, tôi yêu cầucác em thảo luận nhóm Để thực hiện được hoạt động này đạt hiệu quả tối ưu, phíagiáo viên tôi chuẩn bị bài giảng papoy, giấy A0, bút dạ, nam châm,…Phía học sinh,các em soạn và trả lời theo các câu hỏi trong sách giáo khoa
Giai đoạn 1: Làm việc toàn lớp: Nhập đề và giao nhiệm vụ:
Thành lập nhóm: ở đây tôi sử dụng kĩ thuật chia nhóm theo nhóm hỗn hợp,học sinh trong một nhóm có trình độ khác nhau, có em học tốt, có em học chưa tốtvới mục đích để các em giúp đỡ nhau trong quá trình hoạt động Tôi chia lớp thành
Trang 9a, Nam đi Huế.
b, Nam không đi Huế
c, Nam chưa đi Huế
d, Nam chẳng đi Huế
Câu hỏi 1: Trong ví dụ 1, các câu b, c, d có đặc điểm hình thức gì khác
so với câu a?
Câu hỏi 2: Những câu này có gì khác với câu a về chức năng?
- Nhóm 3, nhóm 4: Thảo luận ví dụ 2 và trả lời các câu hỏi:
Ví dụ 2:
Thầy sờ vòi bảo:
- Tưởng con voi nó thế nào, hóa ra nó sun sun như con đỉa
Thầy sờ ngà bảo:
- Không phải, nó chần chẫn như cái đòn càn
Thầy sờ tai bảo:
- Đâu có! Nó bè bè như cái quạt thóc
(Thầy bói xem voi)
Câu hỏi 1: Trong ví dụ 2, câu nào là câu phủ định? Những câu này có gì khác với các câu phủ định trong ví dụ 1?
Câu hỏi 2: Mấy ông thầy bói xem voi dùng những câu phủ định đó để làm gì?
Giai đoạn 2: Làm việc nhóm Học sinh các nhóm tiến hành trao đổi, thảoluận và hoàn thành kết quả vào giấy A0 trong thời gian 4 phút
Trang 10Học sinh thảo luận nhóm
Trong suốt quá trình thảo luận, giáo viên quan sát, hướng dẫn học sinh, giúp
đỡ những nhóm còn yếu trong hoạt động tìm hiểu kiến thức
Giai đoạn 3: Làm việc lớp: Trình bày kết quả, đánh giá
Trang 11Các nhóm treo kết quả của nhóm lên bảng lớp Lần lượt đại diên 4 nhóm lêntrình bày kết quả Sau đó các nhóm nhận xét, đánh giá kết quả của từng nhóm Cuốicùng giáo viên kết luận và chốt lại kiến thức cần ghi nhớ khắc sâu ở đây:
Ví dụ 1: Câu a không có các từ: không, chưa, chẳng Câu này dùng để thông
báo, khẳng định có sự việc Nam đi Huế diễn ra
Câu b, c, d có các từ: không, chưa, chẳng Đây là các từ phủ định Câu có sử
dụng các từ phủ định ta gọi là câu phủ định Như vậy các câu b, c, d là các câu phủđịnh Các câu khác với câu a là các câu b, c, d dùng để thông báo, xác nhận không
có sự việc “Nam đi Huế” diễn ra
Ví dụ 2: Học sinh xác định:
- Không phải, nó chần chẫn như cái đòn càn.
- Đâu có!
Đây là hai câu có các từ phủ định: không phải, đâu có nên đây là hai câu
phủ định Các thầy bói dùng câu phủ định để phản bác ý kiến của nhau Thầy sờ
ngà dùng câu phủ định: Không phải, nó chần chẫn như cái đòn càn để phản bác ý kiến của thầy sờ vòi Thầy sờ tai dùng câu phủ định: Đâu có! để phản bác ý kiến
của thầy sờ vòi và thầy sờ ngà
Nếu ở ví dụ 1 các câu phủ định Nam không đi Huế, Nam chưa đi Huế, Nam chẳng đi Huế dùng để thông báo, xác nhận không có sự việc “Nam đi Huế” diễn ra-
Phủ định miêu tả thì hai câu phủ định ở ví dụ 2 lại được dùng để phản bác, bác bỏ ýkiến của người đối thoại - Phủ định bác bỏ
Từ đó giáo viên hướng dẫn bằng hệ thống câu hỏi để rút ra kiến thức cần ghinhớ về đặc điểm hình thức và chức năng của câu phủ định như sau:
* Đặc điểm hình thức: Câu phủ định là câu có chứa những từ ngữ phủ định
như: không, chẳng, chả, chưa, không phải (là), chẳng phải (là), đâu có phải (là,)
2.3.1.2 Sử dụng phương pháp học nhóm giúp học sinh thực hành luyện tập.
Phần luyện tập của mỗi bài Tiếng Việt là phần học sinh vận dụng kiến thức.Việc vận dụng kiến thức vào làm các bài tập thực hành giúp học sinh vừa củng cốkiến thức vừa biết vận dụng kiến thức đã học vào giải quyết các yêu cầu cụ thể màbài tập đề ra Ở phần luyện tập của bài Câu phủ định, tôi tiếp tục sử dụng phươngpháp học nhóm để giúp học sinh có thể vận dụng kiến thức đã lĩnh hội được vàolàm bài tập thực hành
Ở đây sử dụng kĩ thuật chia nhóm hỗn hơp nhưng số lượng ít hơn (Mỗi nhóm
3 học sinh) và sử dụng hình thức hoạt động là phiếu học tập
Trang 12Với phương pháp nhóm sử dụng ở phần này, tôi hướng dẫn học sinh làm bàitập 2, bài tập 3 và bài tập 4 trên phiếu học tập.
- Tất cả các nhóm đều cùng thảo luận một bài tập trong thời gian nhất định,tùy theo mức độ khó dễ của bài tập Thời gian thảo luận bài tập 2: 4 phút, bài tập 3:
Bài tập 2 (Sách giáo khoa ngữ Văn 8, tập 2, tr 53, 54)
Đọc các đoạn trích sau và trả lời câu hỏi:
a, Câu chuyện có lẽ chỉ là một câu chuyện hoang đường, song không phải là không có ý nghĩa
(Hoài Thanh, Ý nghĩa văn chương)
b, Tháng tám, hồng ngọc đỏ, hồng hạc vàng, không ai không từng ăn trong Tết Trung thu, ăn nó như cả mùa thu vào lòng vào dạ
(Băng Sơn, Quả thơm)
c, Từng qua thời thơ ấu ở Hà Nội, ai chẳng có một lần nghển cổ nhìn lên tán
lá cao vút mà ngắm nghía một cách ước ao chùm sâu non xanh hay thích thú chia nhau nhấm nháp món sấu dầm bán trước cổng trường
(Tạ Việt Anh, Cây sấu Hà Nội)
? Những câu trên có ý nghĩa phủ định không? Vì sao?
? Đặt những câu không có từ ngữ phủ định mà có ý nghĩa tương đương vớinhững câu trên So sánh những câu mới đặt với những câu trên đây và cho biết cóphải ý nghĩa của chúng hoàn toàn không giống nhau không?
Với bài tập này, giáo viên hướng dẫn học sinh tìm ra kết quả như sau:
* Tất cả 3 câu a,b,c đều là câu phủ định vì về mặt hình thức các câu đều có từ
phủ định: không phải, không, chẳng Các câu phủ định này có điểm đặc biệt là:
+ Ở câu a có từ phủ định kết hợp với từ phủ định khác: không phải là không + Ở câu b Từ phủ định kết hợp với từ phủ định khác: Không ai không
+ Ở câu c Từ phủ định kết hợp với từ nghi vấn: ai chẳng.
Ta gọi đây là phủ định của phủ định hay phủ định hai lần Những câu phủ định hai lần thì ý nghĩa cả câu là khẳng định.
Từ đó ta rút ra chú ý: Những câu phủ định 2 lần (Phủ định của phủ định) đều mang hình thức của câu phủ định nhưng mang nghĩa khẳng định.
* Những câu không có từ phủ định mà ý nghĩa tương đương với những câu trên là:
Trang 13a Thay cụm từ song không phải là không có bằng cụm từ song có
Câu chuyện có lẽ chỉ là một câu chuyện hoang đường song có ý nghĩa.
b Thay cụm từ không ai không bằng cụm từ ai cũng
Tháng tám, hồng ngọc đỏ, hồng hạc vàng, ai cũng từng ăn trong tết Trung
thu, ăn nó như ăn cả mùa thu vào lòng dạ mình.
c Thay cụm từ ai chẳng bằng cụm từ ai cũng
Từng qua thời thơ ấu ở Hà Nội, ai cũng có một lần nghển cổ nhìn lên tán lá
cao vút mà ngắm nghía một cách ước ao chùm sâu non xanh hay thích thú chia nhau nhấm nháp món sấu dầm bán trước cổng trường
Bài tập 3 (Sách giáo khoa ngữ Văn 8, tập 2, trang 54)
Xét câu sau và trả lời câu hỏi
Choắt không dậy được nữa, nằm thoi thóp.
(Tô Hoài, Dế Mèn phiêu lưu kí)
- Nếu thay không bằng chưa thì câu viết lại là: Choắt chưa dậy được, nằm thoi thóp.
- Từ không: phủ định hoàn toàn, không thể xảy ra được (phủ định tuyệt đối)
- Từ chưa: phủ định tức thời, tương lai có thể xảy ra (phủ định tương đối) Câu văn của Tô Hoài thích hợp với mạch của câu chuyện hơn (Vì sau khi bị chị Cốc mổ, Choắt đã nằm thoi thóp không bao giờ dậy nữa và chết)
Sau khi rút ra được kết quả bài tập 3, giáo viên hướng dẫn học sinh rút ra chú
ý sử dụng câu phủ định là: Trong quá trình sử dụng, cần chú ý sử dụng từ phủ định phù hợp với nội dung, hoàn cảnh.
Bài tập 4 (Sách giáo khoa ngữ Văn 8, tập 2, tr 54)
Các câu sau đây có phải câu phủ định không? Những câu này dùng để làmgì? Đặt những câu có ý nghĩa tương đương
a, Đẹp gì mà đẹp!
b, Làm gì có chuyện đó!
c, Bài thơ này mà hay à?
d, Cụ tưởng tôi sung sướng hơn chắc? (Nam Cao, Lão Hạc)
Về mặt hình thức các câu trên không phải là câu phủ định, vì xét về mặt hìnhthức các câu này không sử dụng các từ phủ định
Về mặt nội dung thì đây là những câu có ý nghĩa phủ định
a, Đẹp gì mà đẹp! Không đẹp.
b, Làm gì có chuyện đó! Không có chuyện đó.
c, Bài thơ này mà hay à? Bài thơ này không hay
d, Cụ tưởng tôi sung sướng hơn chắc? Tôi không sung sướng hơn cụ Với bài tập này giáo viên hướng dẫn học sinh rút ra chú ý: Có những câu không có hình thức là câu phủ định nhưng nội dung thể hiện ý nghĩa phủ định.
Sau khi hướng dẫn học sinh kết luận nội dung bài tập 2, bài tập 3, bài tập 4,giáo viên yêu cầu học sinh nhắc lại các kiến thức cần chú ý về câu phủ định đểtrong quá trình giao tiếp các em sử dụng câu phủ định đúng mục đích và phù hợp.Các chú ý đó là: