Qua nghiên cứu lí luận và dạy học thực tiễn, sử dụng Sơ đồ tư duy trong dạy học giúp học sinh học tập một cách chủ động, tích cực và huy động được tất cả các học sinh tham gia xây dựng b
Trang 1TABLE OF CONTENT
1 Reasons for choosing the study
2 The purpose of the study
3 Scope of the study
4 Method of the study
3.1 The steps made in writing a paragraph or an essay writing
3.2 Some steps of essay writing and the methods to practise them
3.2.1.Describing people
3.2 2.Descibing places/ Buildings
3.2.3.Descibing places/ Buildings
1 Limitations of the study
2 Recommendations for further research
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
VẬN DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY GIẢNG DẠY BÀI “TỔNG KẾT NGỮ PHÁP” NGỮ VĂN 9 NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC
Ở TRƯỜNG THCS NGA TÂN, HUYỆN NGA SƠN
Người thực hiện: Vũ Thị Liên Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường THCS Nga Tân SKKN thuộc môn: Ngữ Văn
THANH HOÁ NĂM 2022
Trang 2Trang
2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm 3 2.1 Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm 3
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 3
2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề 5 2.3.1 Hướng dẫn học sinh phương pháp thiết kế, xây dựng sơ đồ tư
duy
5
2.3.2 Vận dụng sơ đồ tư duy trong quá trình dạy- học 6 2.3.2.1 Sử dụng sơ đồ tư duy để kiểm tra bài cũ 6 2.3.2.2 Sử dụng sơ đồ tư duy để dạy học bài mới 8 2.3.2.3 Sử dụng sơ đồ tư duy để củng cố kiến thức sau cuối tiết học
và hệ thống kiến thức sau mỗi phần
9
2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục,
với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường
16
Tài liệu tham khảo
Danh mục Sáng kiến kinh nghiệm đã được hội đồng sáng kiến
kinh nghiệm ngành Giáo dục và Đào tạo huyện, tỉnh và các cấp
cao hơn xếp loại từ C trở lên
Phụ lục
Trang 31 MỞ ĐẦU
1.1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Ngữ văn là môn học có vai trò rất quan trọng trong đời sống và trong sự phát triển tư duy con người Đây là môn học có ý nghĩa quyết định trong việc giáo dục quan điểm, tư tưởng, tình cảm cho học sinh Nhưng hiện nay, thực trạng đáng lo ngại là một bộ phận học sinh ngại học, giảm hứng thú với môn học làm cho chất lượng bộ môn Ngữ văn chưa cao
Qua nghiên cứu lí luận và dạy học thực tiễn, sử dụng Sơ đồ tư duy trong dạy học giúp học sinh học tập một cách chủ động, tích cực và huy động được tất
cả các học sinh tham gia xây dựng bài một cách hào hứng Với sản phẩm độc
đáo “kiến thức và hội hoạ” là niềm vui sáng tạo hàng ngày của học sinh và cũng
là niềm vui của thầy cô giáo và phụ huynh học sinh khi chứng kiến thành quả lao động của các em Sử dụng Sơ đồ tư duy trong dạy học phát triển được năng lực phẩm chất của học sinh không chỉ về trí tuệ (vẽ, viết gì trên sơ đồ tư duy), hệ thống hoá kiến thức (huy động những điều đã học trước đó để chọn lọc các ý để ghi) mà còn phát triển ở học sinh khả năng hội hoạ (hình thức trình bày, kết hợp hình vẽ, chữ viết, màu sắc), sự vận dụng kiến thức đã học vào cuộc sống
Trước đây, giáo viên chủ yếu sử dụng Sơ đồ tư duy vào việc củng cố kiến thức sau khi học bài mới hoặc hệ thống hoá kiến thức khi dạy các bài ôn tập, chưa chú ý tới việc hướng dẫn học sinh tự xây dựng theo cách hiểu của mình, chưa chú ý đến hình ảnh, màu sắc, đường nét Gần đây, tôi đã áp dụng thành công dạy học với việc thiết kế Sơ đồ tư duy trong quá trình dạy học cả ở phần kiểm tra bài cũ, tiến hành dạy bài mới và củng cố kiến thức sau mỗi bài học, tạo bầu không khí sôi nổi, học sinh tỏ ra hào hứng trong các hoạt động học tập của nhà trường Đây cũng là một trong những nội dung quan trọng của phong trào
thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” mà Bộ Giáo dục và
Đào tạo đang đẩy mạnh triển khai
Hiện nay, một trong những phương pháp giảng dạy rất được chú trọng là dạy học bằng sơ đồ tư duy, một phương pháp được rất nhiều quốc gia trên thế giới áp dụng Thực tế cho thấy, việc vận dụng phương pháp này vào quá trình giảng dạy môn Ngữ văn đã cho thấy nhiều tín hiệu tích cực; bước đầu đã khắc phục tâm lí ngại học Ngữ văn ở học sinh, đồng thời đem đến cho các em cái nhìn mới, tư duy mới, cũng như khơi gợi ở các em tình yêu đối với môn học này Đặc biệt nó rất hiệu quả đối với phần Tiếng Việt nói chung và ngữ pháp Tiếng Việt nói riêng
Việc vận dụng Sơ đồ tư duy trong dạy học sẽ dần hình thành cho học sinh tư duy mạch lạc, hiểu biết vấn đề một cách sâu sắc, có cách nhìn vấn đề một cách hệ thống, khoa học Sử dụng Sơ đồ tư duy kết hợp với các phương pháp dạy học tích cực khác như vấn đáp, gợi mở, thuyết trình, thảo luận nhóm, dạy học theo hợp đồng… góp phần đổi mới phương pháp dạy học, phát huy tốt năng lực
phẩm chất của học sinh Với những ưu việt đó, tôi lựa chọn biện pháp: “Vận
dụng Sơ đồ tư duy vào giảng dạy bài “Tổng kết ngữ pháp” Ngữ văn 9 nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở trường THCS Nga Tân, huyện Nga Sơn”
Trang 4- SKKN giúp học sinh thể hiện những khám phá, tìm tòi, cảm nhận mới mẻ
về một vấn đề, một khía cạnh, ở một hoặc nhiều bài
- SKKN giúp học sinh có ý thức trong việc chuẩn bị ôn tập kiến thức bài học, từ đó có sự chủ động trong việc củng cố kiến thức đã học đồng thời lĩnh hội kiến thức mới
- Rèn kĩ năng và thái độ hợp tác của học sinh khi thực hiện chung mọt nhiệm vụ học tập, phát triển năng lực diễn thuyết trước đám đông
1.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
- Vận dụng “Sơ đồ tư duy” vào dạy học môn Ngữ văn lớp 9
- Bài “Tổng kết ngữ pháp” trong chương trình Ngữ văn 9, tập 2
- Học sinh lớp 9 trường THCS Nga Tân năm học 2021-2022
- Phát triển kĩ năng hệ thống hóa kiến thức, năng lực tư duy trừu tượng, năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh lớp 9 trường THCS Nga Tân
1.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối với đề tài này, tôi đã tiến hành nghiên cứu theo các phương pháp sau:
1.4.1 Phương pháp quan sát
Đây là phương pháp được vận dụng thường xuyên trong quá trình dạy học
1.4.2 Phương pháp trao đổi
- Để biết được tâm tư, tình cảm, các khó khăn của học sinh ở nhà cũng như mức độ tiếp kiến thức, kĩ năng trong giờ học tôi trực tiếp trao đổi với các em
- Trao đổi với đồng nghiệp có nhiều kinh nghiệm trong giảng dạy
- Trao đổi với phụ huynh học sinh, các tổ chức xã hội trên địa bàn xã
1.4.3 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm
Sau khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm, tôi tiến hành thống kê kết quả đạt được so sánh với kết quả của lớp không áp dụng đề tài
1.4.4 Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Thu thập và nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến đề tài (như SGK, SGV, tài liệu bồi dưỡng học sinh giỏi Ngữ văn 9, tài liệu bồi dưỡng phương pháp dạy học tích cực dành cho học sinh THCS, kĩ thuật vận dụng sơ đồ tư duy dạy học Ngữ văn, tâm lí học giáo dục )
Trang 52 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1 Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm
2.1.1 Sơ đồ tư duy là gì?
Theo Tony Buzan, người đầu tiên tìm hiểu và sáng tạo ra sơ đồ tư duy thì:
“Sơ đồ tư duy là một hình thức ghi chép sử dụng màu sắc và hình ảnh để mở rộng và đào sâu các ý tưởng Ở giữa sơ đồ là một ý tưởng hay một hình ảnh trung tâm Ý tưởng hay hình ảnh trung tâm này sẽ được phát triển bằng các nhánh tượng trưng cho các ý chính và đều được nối với các ý trung tâm Với phương thức tiến dần từ trung tâm ra xung quanh, sơ đồ tư duy khiến tư duy con người cũng phải hoạt động tương tự Từ đó các ý tưởng của con người sẽ phát triển”
2.1.2 Cơ sở khoa học
Các nhà khoa học chỉ ra rằng bộ não của con người gồm 2 bán cầu: Não trái
và não phải Não trái thích hợp với các từ ngữ, con số, tư duy và phân tích cho ra sản phẩm Não phải nhạy cảm với các thông tin về màu sắc, nhịp điệu, hình dạng, tưởng tượng… những yếu tố đó sẽ tác động, kích thích não trái Do đó người ta tìm cách kích thích não phải tốt nhất và khi hai bán cầu não có sự tương tác, tác động, kích thích lẫn nhau nó sẽ đem đến cho con người khả năng to lớn Với đặc điểm trên, sơ đồ tư duy kết hợp hoạt động của hai bán cầu não trái
và não phải Điều này giải thích vì sao chúng ta có thể phát huy toàn bộ mọi khả năng tư duy của mình khi sử dụng sơ đồ tư duy Như vậy sơ đồ tư duy là một công cụ hỗ trợ tư duy hiện đại, một kĩ năng sử dụng bộ não rất mới mẻ Đó là một kĩ thuật hình họa, một dạng sơ đồ kết hợp giữa từ ngữ, hình ảnh, đường nét, màu sắc phù hợp, tương thích với cấu trúc, hoạt động của bộ não
2.1.3 Nguyên lí hoạt động
Nguyên tắc hoạt động của sơ đồ tư duy đúng theo nguyên tắc liên tưởng “ý
này gọi ý kia” của bộ não Ở vị trí trung tâm của sơ đồ là một hình ảnh hay một
từ khóa thể hiện một ý tưởng hay một khái niệm chủ đạo Ý trung tâm đó được nối với các hình ảnh hay từ khóa cấp 1 bằng các nhánh chính Từ các nhánh chính đó lại có sự phân nhánh đến các từ khóa cấp 2 để nghiên cứu sâu hơn Cứ thế sự phân nhánh cứ tiếp tục và các khái niệm hay hình ảnh luôn được nối kết với nhau Chính sự liên kết này tạo ra một bức tranh tổng thể mô tả về ý trung tâm một cách đầy đủ, rõ ràng
2.2 Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 2.2.1 Thuận lợi khi thực hiện sáng kiến kinh nghiệm
Bản thân tôi những năm qua đã được ban giám hiệu nhà trường phân công chuyên môn chuyên giảng dạy bộ môn Ngữ văn nên có thuận lợi hơn khi giảng dạy học sinh và áp dụng đề tài này
Học sinh đã được làm quen với cách tiếp cận bài học bằng sơ đồ tư duy nên việc ghi chép, học bài theo phương pháp học này ở môn học Ngữ văn đặc biệt là phần Tiếng Việt các em tiếp thu cách học mới thuận lợi, dễ dàng
Thời đại công nghệ thông tin 4.0, nên việc tìm kiếm thông tin về một bài học trở nên dễ dàng hơn
Trang 62.2.2 Khó khăn khi thực hiện sáng kiến kinh nghiệm
Trong thực tế giảng dạy tôi nhận thấy rất nhiều học sinh học tập một cách thụ động, chỉ đơn thuần là nhớ kiến thức một cách máy móc mà chưa rèn luyện
kĩ năng tư duy, cô lập nội dung kiến thức, chưa có sự liên hệ kiến thức với nhau dẫn đến chưa phát triển được khả năng hệ thống kiến thức, kiến thức còn vụn vặt, hời hợt Nhiều học sinh cho rằng môn văn dài dòng, lê thê, nhàm chán Vì vậy, giáo viên dạy môn văn phải giúp học sinh thay đổi tư duy, lấy lại hứng thú với môn học đặc biệt này
Khảo sát chất lượng đầu năm đối với học sinh lớp 9 năm học 2021-2022, khi chưa áp dụng kĩ thuật dạy học tích cực bằng Sơ đồ tư duy, tôi thu được kết quả như sau:
Lớp
Số
HS
Kết quả khảo sát Giỏi Khá Trung bình Yếu
đã đề cập ở trên ta có thể kể đến những nguyên nhân như:
Một là, trong cơ chế phát triển xã hội ngày nay, người ta đổ xô vào các
ngành học mà sau này dễ chọn trường Đại học, tốt nghiệp xong dễ xin việc làm
và đặc biệt là làm ra nhiều tiền Muốn vậy, phải đầu tư vào các môn học khác chứ không phải là môn văn Với quan điểm thực dụng này đã và đang làm “què quặt” tâm hồn các thế hệ mà xã hội đang phải hứng chịu
Hai là, Nga Tân là xã ven biển thuần nông, kinh tế còn khó khăn Nhiều
gia đình cha mẹ đi làm ăn xa, đi làm công ty nên không có thời gian quản lí hay chăm chút con về việc học Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến việc học hành, quản lí học sinh trong thời gian ở nhà Đặc biệt ý thức vươn lên của một bộ phận học sinh chưa cao, một số em bị lôi cuốn, sao nhãng thậm chí “nghiện” chơi game, chơi facebook bỏ bê việc học tập
Ba là, một số giáo viên dạy văn giảm hứng thú với chính môn dạy của
mình Một số thầy cô gặp khó khăn trong việc tìm cách tiếp cận với bài học, lúng túng trong việc lựa chọn và sử dụng các phương pháp tích cực vào dạy học phát triển năng lực học sinh
Bốn là, nhiều học sinh không có được niềm say mê, hứng thú học văn, đọc
văn như một nhu cầu tự thân Hơn nữa môn Ngữ văn cũng không phải môn học
dễ dàng để mọi học sinh có thể cảm, hiểu, áp dụng được vào trong thực tế Có thể nói đây chính là nguyên nhân trực tiếp lí giải cho thực trạng trên
Xuất phát từ thực trạng trên, là một giáo viên trực tiếp đứng lớp giảng dạy môn Ngữ văn 9, năm học 2021-2022, tôi đã tiến hành hướng dẫn học sinh học
bài theo cách học mới bằng sơ đồ tư duy với nội dung: “Vận dụng Sơ đồ tư duy
vào giảng dạy bài “Tổng kết ngữ pháp” Ngữ văn 9 nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở trường THCS Nga Tân, huyện Nga Sơn”
Trang 72.3 CÁC GIẢI PHÁP ĐÃ SỬ DỤNG ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐÈ
Từ sáng tạo của Tony các nhà giáo dục đã vận dụng “Sơ đồ tư duy” làm
phương pháp học tập Đây là phương pháp dạy học tổ chức và phát triển tư duy giúp người học truyền tải thông tin ra ngoài bộ não một cách dễ dàng, đồng thời
là phương tiện ghi chép sáng tạo và hiệu quả, mở rộng, đào sâu và kết nối ý tưởng, bao quát được các ý tưởng trên phạm vi sâu rộng Vì vậy, tôi đã nghiên
cứu và vận dụng “Sơ đồ tư duy” vào giảng dạy ở môn Ngữ văn 9 nhằm nâng
cao chất lượng dạy học ở trường THCS Nga Tân
2.3.1 Hướng dẫn học sinh phương pháp thiêt kế, xây dựng sơ đồ tư duy
Sử dụng sơ đồ tư duy là sử dụng các hình khối, đường nét, màu sắc để phát triển định hướng và ghi nhớ những khối lượng thông tin có liên quan Do đó khi xây dựng sơ đồ tư duy, cần yêu cầu học sinh thực hiện theo ba bước cơ bản sau:
Bước 1: Vẽ ý tưởng trung tâm
Ý tưởng trung tâm là vấn đề chính mà chúng ta đang quan tâm tới Để biểu diễn ý tưởng trung tâm, có thể vẽ một hình ảnh hoặc viết chữ (ngắn gọn) liên quan tới chủ đề được đề cập Tuy nhiên, thông thường việc sử dụng hình ảnh có hiệu quả hơn, vì nó mang tính biểu tượng và có ưu thế vượt trội trong việc gợi
mở các liên tưởng so với dùng từ ngữ
Minh họa:
Bước 2: Vẽ các nhánh chính
- Các nhánh chính là các ý tưởng lớn được phát triển trên nền tảng ý tưởng, chủ đề trung tâm Nó có thể là những kiến thức mà chúng ta đã được học và cần ghi nhớ, hoặc có thể là các dạng bài tập và phương pháp làm bài tương ứng của dạng bài đó mà ta xét có liên quan tới chủ đề chính Các nhánh chính có thể được vẽ theo nhiều cách khác nhau tùy thuộc ý tưởng của mỗi cá nhân hay của nhóm sao cho chúng mang tính gợi mở cao và hiệu quả nhất trong việc ghi nhớ Nói cách khác, việc vẽ các nhánh chính nên được để học sinh thoải mái sáng tạo một cách tự nhiên
- Trên các nhánh chính này là các từ khóa ngắn gọn và mang tính chất gợi
ý Khuyến khích các em vẽ thêm hình ảnh có tính minh họa
Minh họa:
Ý TƯỞNG TRUNG TÂM
Ý TƯỞNG TRUNG TÂM
Trang 8Bước 3: Vẽ các nhánh thứ cấp
- Đây là các nhánh được vẽ từ nhánh chính Nó bổ sung, mở rộng ý cho nhánh chính Chúng ta có thể vẽ thêm nhiều nhánh thứ cấp tùy thuộc vào nội dung vấn đề, tuy nhiên cần quan tâm tới không gian mà chúng ta được cung cấp
- Tương tự như nhánh chính, các chữ trên nhánh thứ cấp cũng là các từ khóa mang tính gợi nhớ, và có thể bổ sung hình ảnh để thêm phần sinh động Như vậy nguyên lí quan trọng trong dạy học bằng sơ đồ tư duy là nó dựa
trên sự liên tưởng “ý này gợi mở ý kia” tạo ra không gian vô tận trong học tập
và sáng tạo của học sinh
Minh họa:
Có nhiều cách khác nhau để vẽ sơ đồ tư duy Ngoài các nhánh trên sự phân nhánh cứ tiếp tục và các yếu tố/nội dung luôn được kết nối với nhau Sự liên kết này sẽ tạo ra một bức tranh tổng thể mô tả về chủ đề lớn một cách đầy đủ và rõ ràng
2.3.2 Vận dụng sơ đồ tư duy trong quá trình dạy-học
2.3.2.1 Sử dụng sơ đồ tư duy để kiểm tra bài cũ
Giáo viên đưa ra một từ khóa liên quan đến nội dung kiến thức của bài cũ, sau đó yêu cầu học sinh vẽ sơ đồ tư duy bằng cách đặt ra các câu hỏi và gợi ý để các em tìm ra các nội dung liên quan; từ đó các em có thể vẽ các nhánh con và hoàn thiện sơ đồ tư duy Thông qua sơ đồ tư duy này, học sinh sẽ nhớ lại các nội dung đã học, đồng thời khắc sâu kiến thức
Ví dụ: Khi dạy đến bài “Tổng kết ngữ pháp” Ngữ văn 9, thay vì đặt câu hỏi
để học sinh trả lời hoặc yêu cầu các em làm bài tập nào đó để kiểm tra bài cũ,
giáo viên có thể đưa ra từ khóa “TỪ LOẠI” Sau đó yêu cầu học sinh vẽ sơ đồ
tư duy lên bảng (giáo viên đưa ra những câu hỏi khác gợi ý để học sinh có thể vẽ tiếp các nhánh con và bổ sung dần các ý nhỏ (nhánh con cấp 2, cấp 3 ) Sau khi học sinh vẽ xong, học sinh thuyết trình trước lớp Các em khác theo dõi, nhận xét, bổ sung Cuối cùng, giáo viên sẽ nhận xét và cho điểm
Hình ảnh minh họa:
Trang 10Sau khi học sinh trình bày xong, giáo viên sẽ cung cấp một sơ đồ tư duy mẫu minh họa để học sinh so sánh, đối chiếu, bổ sung nếu cần
Sơ đồ tư duy: Từ loại, cụm từ 2.3.2.2 Sử dụng sơ đồ tư duy để dạy học bài mới
Đối với việc dạy bài mới, để sử dụng sơ đồ tư duy hiệu quả, yêu cầu giáo viên cần thực hiện việc chuẩn bị từ trước một cách kĩ lưỡng Từ nội dung bài học, giáo viên “mô hình hóa” dưới dạng một sơ đồ tư duy rồi vẽ trên máy (nếu dạy bằng giáo án điện tử) hoặc trên bảng, giấy (nếu dạy giáo án thường) Khi lên lớp, giáo viên sử dụng sơ đồ tư duy đó để hướng dẫn học sinh khai thác từng nội dung của bài học Mỗi nội dung được khai thác đúng sẽ biểu đạt tương ứng với một nhánh của sơ đồ tư duy Cứ tiếp tục thực hiện như thế cho đến khi nội dung bài học được hoàn thành Và như vậy sơ đồ tư duy về bài mới cũng đã hoàn thiện
*Một số lưu ý khi giáo viên sử dụng sơ đồ tư duy vào việc hỗ trợ dạy học kiến thức mới:
- Giáo viên chỉ đóng vai trò là người gợi ý, dẫn dắt để học sinh chủ động khai thác, tìm hiểu kiến thức Do đó, tính tích cực và sáng tạo của các em sẽ được phát huy tối đa, lớp học sẽ trở nên sôi nổi, sinh động hơn, các em sẽ thích thú, hào hứng với tiết học Ngữ văn hơn
- Giáo viên có thể dùng những phương tiện sẵn có của lớp: bảng đen, bảng phụ, phấn màu, bút màu, giấy A4, hoặc A0 hoặc có thể dùng máy để vẽ
- Giáo viên có thể vẽ trước một bản đồ tư duy chỉ có các nhánh, sau đó giảng tới đâu thì hướng dẫn cho học sinh điền thông tin tới đó
Thông qua sơ đồ tư duy hoàn thiện học sinh sẽ nắm được toàn bộ kiến thức bài học một cách dễ dàng
Trang 11Ví dụ: Với bài “Tổng kết ngữ pháp” Ngữ văn 9, sau phần tìm hiểu chung
về từ loại, cụm từ giáo viên sẽ mô hình sơ đồ tư duy trên bảng Để có thể hoàn thiện được mô hình sơ đồ tư duy của bài học, giáo viên sử dụng hệ thống câu hỏi định hướng để khai thác kiến thức Tiếp tục hoàn thành các nhánh của sơ đồ tư duy bằng hệ thống câu hỏi có tính gợi mở để dần hoàn thiện bài
Hình ảnh minh họa:
Sau khi giáo viên tiến hành cho học sinh tổng kết xong nội dung kiến thức
và luyện tập phần từ loại, cụm từ Giáo viên tiếp tục bài với các phần còn lại là: Thành phần câu, các kiểu câu cũng bằng sơ đồ từ duy Trong quá trình tiến hành bài học giáo viên cùng lúc sử dụng kết hợp các phương pháp dạy học tích cực khác nhau Đó là: phương pháp dạy học bằng hợp đồng, sơ đồ tư duy, hoạt động nhóm, thuyết trình
2.3.2.3 Sử dụng Sơ đồ tư duy để củng cố kiến thức sau mỗi tiết học và
hệ thống kiến thức sau mỗi phần
Sau mỗi bài học, giáo viên hướng dẫn, gợi ý để học sinh tự hệ thống kiến thức trọng tâm, kiến thức cần nhớ của bài học bằng cách vẽ sơ đồ tư duy Mỗi bài học được vẽ kiến thức trên một trang giấy rồi tập hợp lại thành quyển, tập Việc làm này sẽ giúp các em dễ ôn tập, xem lại kiến thức khi cần một cách nhanh chóng, dễ dàng Điều đặc biệt khi thực hiện phương pháp giảng dạy bằng
sơ đồ tư duy này là giáo viên và học sinh có thể áp dụng nó ở rất nhiều các bài học gồm cả ba phân môn Văn, Tiếng Việt, Tập làm văn của bộ môn Ngữ văn
Ví dụ: Giáo viên nên tổ chức cho học vẽ sơ đồ tư duy sau mỗi bài học để
các em có một tập sơ đồ tư duy về nội dung các phần, các bài học Đến bài
“Tổng kết ngữ pháp”, học sinh có thể dễ dàng tổng hợp kiến thức về ngữ pháp Tiếng Việt đã được học từ chương trình Ngữ văn lớp 6 để đưa vào tập sơ đồ tư duy đã có sẵn Sau khi có một học sinh hoặc một nhóm học sinh vẽ xong sơ đồ
tư duy, giáo viên sẽ cho một học sinh khác hoặc một nhóm học sinh khác nhận
Trang 12xét, bổ sung Có thể cho học sinh vẽ thêm các đường, nhánh khác và ghi thêm các chú thích rồi thảo luận chung trước lớp để hoàn thiện, nâng cao kĩ năng vẽ
sơ đồ tư duy cho các em
Sơ đồ minh họa:
Bảng hệ thống sơ đồ tư duy bài: Tổng kết ngữ pháp
Trang 13Học sinh có thể sử dụng kĩ thuật dạy học tích cực bằng sơ đồ tư duy để hỗ trợ việc học ở rất nhiều bài học: Tìm hiểu trước bài mới, củng cố, ôn tập kiến thức bằng việc vẽ lên trên giấy, bìa, vở ghi, vở bài tập, trên máy vi tính hoặc
áp dụng để tư duy một vấn đề Qua đó phát triển khả năng tư duy logic, củng cố, khắc sâu kiến thức, kĩ năng ghi chép một cách hiệu quả
Ngoài việc vẽ sơ đồ tư duy lên giấy, bảng, vở ghi, vở bài tập học sinh có thể trực tiếp làm việc trên máy tính khi thực hiện vẽ sơ đồ tư duy qua phần mềm iMind Map qua đó phát triển khả năng ứng dụng công nghệ thông tin trong học tập ở học sinh
KẾ HOẠCH BÀI DẠY MINH HỌA:
Ngày soạn: 28/02/2022 Ngày dạy: 05/3/2022
Tiết 122: Bài 29: TỔNG KẾT NGỮ PHÁP
I MỤC TIÊU
1 Kiến thức
- Hệ thống hóa kiến thức về các từ loại và cụm từ
- Giúp học sịnh thống kiến thức đã học từ lớp 6 đến lớp 9 về từ loại thông qua các hiện tượng cụ thể theo kiểu bài tập thực hành
2 Kĩ năng
- Rèn kĩ năng tổng hợp kiến thức về từ loại
- Nhận biết và sử dụng thành thạo các từ loại đã học
3 Thái độ
- Giáo dục ý thức sử dụng và vận dụng vào bài viết khi tạo lập văn bản
- Học sinh có ý thức nói và viết chuẩn Tiếng Việt, giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt
- Chuẩn bị bài, đọc và trả lời các câu hỏi bài tập của SGK
III TIẾN TRÌNH TỔ CHỨC DẠY HỌC
1 Ổn định tổ chức
2 Kiểm tra bài cũ của học sinh
- GV kiểm tra sự chuẩn bị bài của học sinh
3 Bài mới
GV giới thiệu bài
? Kể tên những từ loại đã học
? Những từ loại nào là từ loại cơ bản? Vì sao?
- GV yêu cầu HS trình bày nội dung câu hỏi bằng sơ đồ tư duy
- Sau khi học sinh trình bày bài xong, GV cung cấp sơ đồ đối sánh
Trang 14- Để hiểu rõ hơn về những từ loại, cụm từ đã học chúng ta cùng nhau ôn tập bài
“ Tổng kết ngữ pháp”
Hoạt động của GV và HS Nội dung cần đạt
Hoạt động 1: Ôn tập về các từ loại
? Trong những từ loại ấy đâu là
những từ loại cơ bản của hệ thống
từ vựng Tiếng Việt
- Sau khi HS ôn tập lí thuyết GV
cho các em củng cố kiến thức bằng
bài tập 1 phần I trang 130, SGK
- GV gọi HS đọc đề bài và yêu cầu
các em hoàn thành bài bằng câu trả
Trang 15bài trong 2 phút, hết thời gian đại
diện lên bảng điền thông tin)
- GV chuẩn bị bảng phụ, yêu cầu HS
lên bảng điền thông tin
b lý tưởng: Danh từ - được dùng như một tính từ
c băn khoăn: Tính từ - được dùng như một danh từ
*Lưu ý: Trong một số trường hợp từ
loại có khả năng biến đổi từ từ loại này sang từ loại khác tùy thuộc vào ngữ cảnh
mà từ đi kèm
II Các từ loại khác
Gồm 9 từ loại: Số từ, đại từ, lượng từ, chỉ từ, phụ từ, quan hệ từ, trợ từ, thán từ, tình thái từ
Bài 1 Bảng tổng kết các từ loại khác
(Phụ lục của kế hoạch bài dạy)
Trang 16- Khi 3 từ loại trên có khả năng kết
hợp với những từ phía trước và kết
hợp phía sau nó sẽ tạo thành các
cụm từ
* Hoạt động nhóm: (Thời gian 3
phút, sau đó đại diện các nhóm sẽ
? Nêu yêu cầu của bài tập 1
? Nêu yêu cầu của bài tập 2
- HS thu nhận thông tin
Bài 2 Từ chuyên dùng ở cuối câu tạo
câu nghi vấn: à, ư, hử, hả chúng thuộc tính thái từ
B Cụm từ
I Lí thuyết
Cụm danh từ, cụm động từ, cụm tính từ
* Sơ đồ tư duy cụm động từ
(Phụ lục của kế hoạch bài dạy)
* Sơ đồ tư duy cụm tính từ
(Phụ lục của kế hoạch bài dạy)
b ngày dấu hiệu “những”
c tiếng dấu hiệu có thể thêm
“những”
Bài 2 Xác định cụm động từ
a đến, chạy, ôm dấu hiệu “đã”, “sẽ”
b lên dấu hiệu “vừa”
Trang 17
*PHỤ LỤC KẾ HOẠCH BÀI DẠY
Bài 4 Bảng tổng kết về khả năng kết hợp của danh từ, động từ, tính từ
tượng, khái niệm)
những, các, một Danh từ này, kia, ấy,
đó, nọ Chỉ sự vật, trạng thái của
Bài 1 Bảng tổng kết các từ loại khác (Phần A.II Các từ loại khác)
Số từ Đại từ Lượng từ Chỉ từ Phó từ Quan hệ từ Trợ từ Tình
- đã đang
- ở
- của nhưng -như
chỉ,
cả, ngay
hả trời ơi
Trang 18*Sơ đồ tư duy cụm động từ (Phần B.I Lí thuyết)
*Sơ đồ tư duy cụm tính từ (Phần B.I Lí thuyết)
2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với bản thân, với đồng nghiệp
Sử dụng kĩ thuật dạy học bằng Sơ đồ tư duy giúp học sinh học được phương pháp học tích cực Việc rèn luyện phương pháp học tập cho học sinh không chỉ là biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là mục tiêu dạy học Thực tế cho thấy một số học sinh học tập chăm chỉ nhưng kết quả học tập không cao Các em này thường học bài nào biết bài đấy, học phần sau quên phần trước, học thuộc lòng sau đó lại quên ngay Các em không biết liên kết kiến thức với nhau, không biết vận dụng kiến thức phần đó vào các phần sau Phần lớn số học sinh này khi đọc sách hoặc nghe giảng trên lớp không biết cách tự ghi chép
để lưu thông tin, lưu kiến thức trọng tâm vào trí nhớ của mình
Sử dụng kĩ thuật dạy học bằng Sơ đồ tư duy giúp học sinh sẽ hiểu sâu, nhớ lâu và in đậm cái do chính mình suy nghĩ, tự viết, vẽ theo ngôn ngữ của mình
Vì vậy việc sử dụng kĩ thuật dạy học mới giúp cho học sinh không thấy sự sáo