Qua quá trình trăn trở, tôi nhận thấy ngoài việc tích cực đổi mới phương pháp dạy học, tăng cường ứng dụng CNTT trong mỗi tiết học thì vận dụng các trò chơi trong các tiết Thực hành Tiến
Trang 11.1 Lí do chọn đề tài
Trong “Bài nói chuyện tại Đại hội lần thứ III của Hội Nhà báo Việt Nam”, ngày 8-9-1962, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Tiếng nói là thứ của cải vô cùng lâu đời và vô cùng quý báu của dân tộc Chúng ta phải giữ gìn nó, quý trọng nó,
làm cho nó phổ biến ngày càng rộng khắp" Câu nói của Bác khẳng định vai trò
của tiếng nói - tài sản quý báu của dân tộc Lời Bác dạy có ý nghĩa vô cùng sâu sắc, có tác dụng định hướng trong việc sử dụng ngôn ngữ sao cho đúng, chuẩn xác và phải có ý thức bảo vệ sự trong sáng của tiếng Việt, làm cho nó lan tỏa, góp phần quan trọng đối với sự phát triển của nền văn hóa nước nhà trong xu thế hội nhập và phát triển
Hiểu được tầm quan trọng của tiếng mẹ đẻ, chính vì thế, trong suốt quá trình xây dựng và phát triển nền giáo dục nước nhà, Bộ Giáo dục và Đạo tạo đã rất chú trọng tới việc dạy tiếng Việt trong chương trình các cấp Đối với chương trình giáo dục THCS, ngoài phân môn Văn học, Tập làm văn, thì đã có riêng
thời lượng để dạy phân môn Tiếng Việt với mục đích giúp học sinh (HS) nắm
vững câu từ để biết cách vận dụng vào trong lời ăn tiếng nói hằng ngày, cũng như tạo lập văn bản, từ đó góp phần giữ gìn, phát huy sự trong sáng, giàu đẹp của tiếng Việt, cũng chính là giữ gìn bản sắc văn hóa của dân tộc
Để đạt được mục tiêu đó, bên cạnh việc chú trọng đổi mới phương pháp dạy học, lấy người học làm trung tâm của hoạt động dạy và học, Bộ Giáo dục và Đào tạo còn chú trọng đổi mới nội dung sách giáo khoa (SGK) theo hướng tăng khả năng vận dụng, thực hành của HS Chính vì thế, mà Bộ Giáo dục và Đào tạo
đã xây dựng lộ trình thay đổi sách giáo khoa (SGK) một cách rất cụ thể, khoa
học: Năm học 2020-2021 đối với lớp 1; Năm học 2021-2022 là với lớp 2 và lớp 6; Năm học 2022-2023 đối với lớp 3, lớp 7 và lớp 10; Năm học 2023-2024 đối với lớp 4, lớp 8 và lớp 11 và 2024-2025 là đối với lớp 5, lớp 9 và lớp 12 Trong
quá trình thay đổi SGK, chương trình giáo dục phổ thông mới cũng không nằm ngoài mục tiêu đó Trong đó, năm học 2021-2022 HS lớp 6 đã chính thức tiếp
cận chương trình SGK mới, gồm 3 bộ sách phát hành song song: bộ sách Cánh diều, bộ sách Chân trời sáng tạo, bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống Đối với tỉnh Thanh Hóa, toàn tỉnh đã thống nhất chọn bộ sách: Kết nối tri thức với cuộc sống.
Đây là một bộ sách rất hay, có sự kết nối, vận dụng một cách thiết thực giữa tri thức học được với cuộc sống hằng ngày Trong đó, chương trình SGK mới cũng dành một thời lượng lớn cho phân môn Tiếng Việt
Trong quá trình giảng dạy lớp 6 theo chương trình mới, khi đến các tiết
Thực hành Tiếng Việt, tôi nhận thấy các tiết học đều rất khó, đơn vị kiến thức
mới, không có lý thuyết, chỉ có thực hành, dẫn đến học sinh rất khó hiểu, ngại học, chán học Tiết học thường trôi qua rất căng thẳng Nếu không có sự thay đổi về cách dạy, phương pháp dạy, dần dần các em sẽ nảy sinh tâm lý sợ học, không tập trung học, không có hứng thú, sẽ dẫn đến kết quả không nắm vững kiến thức, ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc dùng từ, diễn đạt trong lời ăn tiếng nói cũng như tạo lập văn bản cũng như ảnh hưởng tới chất lượng của nhiều môn
Trang 2Đứng trước vấn đề đó, là một giáo viên giảng dạy nhiều năm, tôi luôn băn
khoăn tự hỏi: làm thế nào để các tiết Thực hành Tiếng Việt các em dễ hiểu nhất,
học tập sôi nổi nhất, có hứng thú nhất để có thể nâng cao chất lượng giáo dục bộ môn? Qua quá trình trăn trở, tôi nhận thấy ngoài việc tích cực đổi mới phương pháp dạy học, tăng cường ứng dụng CNTT trong mỗi tiết học thì vận dụng các
trò chơi trong các tiết Thực hành Tiếng Việt sẽ là một trong những biện pháp
hiệu quả nhất giúp khơi gợi hứng thú học tập của các em, đúng theo tinh thần
"Học mà chơi, chơi mà học" rất phù hợp với lứa tuổi HS lớp 6.
Từ những lí do trên, tôi đã chọn đề tài “Vận dụng một số trò chơi trong dạy học các tiết Thực hành Tiếng Việt Ngữ văn 6 ở trường THCS Thị trấn Lang Chánh” để nghiên cứu và bước đầu thu được những kết quả rất đáng mừng.
1.2 Mục đích nghiên cứu
Với đề tài này, tôi muốn góp phần tìm ra phương pháp dạy học hiệu quả
đối với các tiết Thực hành Tiếng Việt ở lớp 6 mới để các em thích học, có hứng
thú học tập, nâng cao chất lượng bộ môn, giảm tỉ lệ học sinh chưa đạt; đồng thời giúp các em nắm vững tiếng Việt để biết cách vận dụng trong lời ăn tiếng nói hằng ngày, cũng như biết cách dùng từ, diễn đạt trong quá trình tạo lập văn bản, như cố thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói: Không sợ tiếng ta nghèo, chỉ sợ
chúng ta không biết dùng tiếng ta
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Các trò chơi có thể vận dụng vào dạy học các tiết Thực hành Tiếng Việt
Ngữ văn lớp 6 nói riêng, Ngữ văn THCS nói chung
1.4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp đọc, nghiên cứu tài liệu
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp phân tích, so sánh
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp khảo sát, thực nghiệm
2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 2.1 Cơ sở lý luận
Đổi mới phương pháp dạy học luôn là một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu, hướng tới học sinh, lấy học sinh làm trung tâm của các hoạt động
để phát huy vai trò tích cực của học sinh Bên cạnh đó, trong chương trình môn
Ngữ văn THCS, phân môn Tiếng Việt giữ vai trò "Môn học công cụ" giúp học
sinh tiếp nhận và diễn đạt tốt các thông tin khoa học được giảng dạy ở nhà trường Nói cách khác, học sinh muốn thực hiện tốt nhiệm vụ học tập, trước hết phải nghiên cứu và rèn luyện các kỹ năng sử dụng tiếng Việt - chìa khóa của nhận thức, của học vấn, của sự phát triển trí tuệ Thiếu quan tâm đúng mức đến việc rèn luyện năng lực tiếng Việt, học sinh không thể hoàn thành tốt các nhiệm
vụ học tập các môn khoa học đó Cho nên, việc chú trọng giúp các em có hứng thú trong việc học phân môn này là rất cần thiết, nhất là đối với học sinh đầu cấp khi tiếp cận chương trình mới
Trang 3Muốn vậy, trong quá trình dạy, người GV cần phải chú ý đổi mới phương pháp, sử dụng linh hoạt các phương pháp như: phân tích, diễn giảng, vấn đáp, nêu vấn đề, gợi mở và đặc biệt để tạo một giờ học phong phú, sinh động, khơi
gợi được hứng thú học tập của học sinh trong các tiết Thực hành tiếng Việt thì
việc lồng ghép tổ chức các trò chơi trong quá trình giảng dạy sẽ giúp sinh hiểu bài và có hứng thú học tập hơn
Trò chơi học tập là một phương tiện giáo dục trí tuệ, nó giúp học sinh phát triển những khả năng về thị giác, thính giác, xúc giác,…, chính xác hóa những hiểu biết về các sự vật và hiện tượng xung quanh, phát triển thông minh, sự nhanh trí, ngôn ngữ… dần dần học sinh sẽ hình thành nhu cầu nhận thức của thế giới xung quanh- mở rộng tầm hiểu biết về tự nhiên xã hội Vì vậy ta có thể tổ chức trò chơi ở thời điểm thích hợp trong một khoảng thời gian nhất định của tiết học
Trò chơi không chỉ là một “công cụ” dạy học mà nó còn là con đường sáng tạo xuyên suốt quá trình học tập của học sinh Phương pháp tổ chức trò chơi không chỉ là sự đánh giá trong quá trình dạy và học của thầy và trò mà nó còn tạo cho ta cảm giác thoải mái, tự tin, có sự sáng tạo, nhanh trí, có óc tư duy, tưởng tượng của học sinh Dạy kết hợp với tổ chức trò chơi chính là việc giáo viên hướng dẫn học sinh hoàn thành tốt phẩm chất của con người mới: Con người Xã hội chủ nghĩa
Nhận thấy điều đó, chính vì thế, trong năm học vừa qua, tôi đã tiến hành áp dụng một số phương pháp vào việc tạo hứng thú trong giờ học Ngữ văn 6 trong
đó việc “Vận dụng một số trò chơi trong dạy học Thực hành Tiếng Việt Ngữ văn 6 ở trường THCS Thị Trấn Lang Chánh” và đã đạt được kết quả như
mong đợi
2.2 Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng SKKN.
Về phía giáo viên: đa số giáo viên còn lúng túng trong quá trình dạy SGK
lớp 6 theo chương trình mới, đặc biệt là các tiết dạy Thực hành Tiếng Việt.
Về phía học sinh: Năm học 2021-2022 là năm đầu tiên trường THCS Thị Trấn Lang Chánh I và Trường THCS Thị Trấn Lang Chánh II sát nhập thành một trường, lấy tên Trường THCS Thị Trấn Lang Chánh, nhiều học sinh ở xa, đi lại khó khăn cũng đã ảnh hưởng không nhỏ tới quá trình học tập; nhiều em tư duy chưa cao, chưa có ý thức học, còn lười học, nhác học, nhác soạn bài
Về phía phụ huynh: nhiều phụ huynh đi làm ăn xa, gửi cháu cho ông bà, chính vì thế thiếu sự quan tâm sát sao tới việc học của các con
Thực tế những năm gần đây cho thấy học sinh nói chung và học sinh trường THCS Thị Trấn Lang Chánh nói riêng thường không ham thích học văn, nhất là học các tiết phân môn Tiếng Việt
Về SGK: Bản chất khi dạy các tiết tiếng Việt đã rất khó, khô khan, cứng nhắc, kiến thức khoa học đòi hỏi sự chính xác, hiểu tốt mới có thể nắm vững
được kiến thức, bởi như cha ông ta đã từng nói: Phong ba bão táp không bằng ngữ pháp Việt Nam Trong khi đó, so với chương trình SGK cũ, SGK lớp 6 mới
có nhiều sự thay đổi lớn trong thiết kế giảng dạy cả 3 phân môn, nhất là phân môn Tiếng Việt
Trang 4Nếu SGK cũ thiết kế rất cụ thể, chi tiết, dễ hiểu, dễ học, dễ nghiên cứu đối với việc khám phá các đơn vị kiến thức Tiếng Việt (gồm 2 phần, phần I: hình thành khái niệm, đi từ việc tìm hiểu, phân tích ví dụ đến rút ra kết luận theo lối quy nạp; phần II: từ việc nắm vững kiến thức lý thuyết, học sinh vận dụng vào làm các bài tập đi từ nhận diện đến nâng cao để khắc sâu lý thuyết) thì SGK chương trình mới lại không có phần lý thuyết mà đi vào thực hành luôn - thiết kế này chung cho cả 3 bộ sách - điều đó đã gây ra rất nhiều khó khăn cho GV và
HS trong quá trình dạy và học, đây cũng là một vấn đề đã được dư luận rất quan tâm trong thời gian vừa qua
Trong SGK bộ Kết nối tri thức với cuộc sống, nội dung kiến thức được chia
thành 10 bài, mỗi một bài đều được sắp xếp, phân bổ lượng thời gian thích hợp
cho dạy các tiết Thực hành Tiếng Việt Cụ thể:
Bài 1 Tôi và các bạn Từ đơn, từ phức; Nghĩa của từ; Biện
pháp tu từ; Từ ghép, từ láy.
Bài 2 Gõ cửa trái tim Nghĩa của từ; Biện pháp tu từ; Biện
pháp tu từ, Dấu câu, Đại từ
Bài 3 Yêu thương và chia sẻ Cụm danh từ; Cụm động từ và cụm
tính từ;
Bài 4 Quê hương yêu dấu Từ đồng âm, từ đa nghĩa; Biện pháp tu
từ, Nghĩa của từ.
Bài 5 Những nẻo đường xứ sở Biện pháp tu từ; Dấu câu, Biện pháp tu
từ.
Bài 6 Truyện kể về những người
anh hùng
Nghĩa của từ, Từ ghép và từ láy, Cụm
từ, Biện pháp tu từ.
Bài 7 Thế giới cổ tích Dấu câu, Nghĩa của từ, Biện pháp tu từ.
Bài 8 Khác biệt và gần gũi Trạng ngữ, Nghĩa của từ; Lựa chọn từ
ngữ, Lựa chọn cấu trúc câu.
Bài 9 Trái đất - ngôi nhà chung Văn bản và đoạn văn; Từ mượn.
Bài 10 Cuốn sách tôi yêu Không có tiết Thực hành Tiếng Việt mà
nằm trong tiết Ôn tập tổng hợp (nhắc lại các kiến thức tiếng Việt đã học) Nhìn vào bảng hệ thống nội dung kiến thức trong các tiết Thực hành tiếng Việt ta có thể thấy: kiến thức có kế thừa và lặp lại, nâng cao Trong đó, đặc biệt chú trọng tới đơn vị kiến thức: nghĩa của từ và các biện pháp tu từ - đây đều là
những kiến thức rất khó, liên quan nhiều đến lời ăn tiếng nói và diễn đạt trong quá trình tạo lập văn bản, cảm thụ các văn bản giúp nuôi dưỡng tâm hồn các em Tuy kiến thức khó, nhưng sách lại không có phần khai thác hình thành lý thuyết mà trực tiếp đi vào thực hành luôn Trong khi đó, học sinh lớp 6 vừa mới
ở bậc Tiểu học lên, kiến thức Tiếng Việt của bậc tiểu học mới ở mức độ cơ bản,
phù hợp với lứa tuổi HS Chính vì thế, khi dạy - học các tiết Thực hành Tiếng Việt là một khó khăn lớn đối với cả cô lẫn trò Kiến thức khó, trừu tượng, khoa
học đã dễ làm cho các em nảy sinh tâm lý ngại học, chán học, sợ học
Trang 5Tôi đã tiến hành khảo sát hứng thú học tập và tiến hành một bài kiểm tra kiến thức 15 phút (khi chưa áp dụng kinh nghiệm), kết quả đạt được cụ thể:
Bảng 1: Khảo sát hứng thú học tập với câu hỏi: Em thích học các tiết Thực hành Tiếng Việt không?
133
Bảng 2: Kết quả kiểm tra:
133
Nhìn vào hai bảng khảo sát, có thể thấy, hầu như các em cảm thấy không
thích học hoặc không quan tâm học đối với các tiết Thực hành Tiếng Việt (99 hs,
chiếm 74,4%), chỉ có 34 em là cảm thấy yêu thích (25,6%) Chính vì không có hứng thú học tập, nên kết quả ảnh hưởng nghiêm trọng tới việc nắm vững kiến thức của các em, tỉ lệ điểm Tốt - Khá hạn chế, điểm Chưa đạt (24/133 HS, chiếm 18,0 %) Đây là một thực trạng đáng lo ngại, đáng báo động Nếu không thay đổi phương pháp dạy học để tạo hứng thú cho học sinh trong các tiết dạy
Thực hành Tiếng Việt thì các em sẽ dần ngày càng mất gốc kiến thức, ảnh hưởng
nghiêm trọng tới kết quả học tập bộ môn cũng như chất lượng giáo dục của các
bộ môn khác trong nhà trường
Là một giáo viên giảng dạy bộ môn Ngữ văn, đứng trước thực trạng đó, tôi
đã rất băn khoăn và trăn trở làm thế nào giúp các em ham học hơn, thích học
hơn, có hứng thú học hơn trong các tiết Thực hành Tiếng Việt để các em tiến bộ
và đạt được kết quả cao hơn Nếu cứ duy trì tình trạng dạy và học như thế này thì chắc chắn sẽ không cải thiện được mà thậm chí còn làm cho HS ngày càng sa sút hơn, nhàm chán hơn khi học
Trên cơ sở đó, tôi đã đề xuất phương pháp “Vận dụng một số trò chơi trong dạy học các tiết Thực hành Tiếng Việt Ngữ văn 6 ở trường THCS Thị Trấn Lang Chánh” để tạo hứng thú học văn cho HS.
2.3 Các giải pháp đã thực hiện
2.3.1 Giáo viên cần nắm vững những yêu cầu, nguyên tắc, cách thức tổ chức trò chơi.
* Nắm vững nguyên tắc tổ chức trò chơi
- Xác định rõ mục tiêu dạy học – giáo dục của mỗi trò chơi: cần làm rõ những gì là nhiệm vụ, quan hệ, nội dung và tình huống chơi, và bên cạnh đó những gì là nhiệm vụ, quan hệ, nội dung và tình huống dạy học - giáo dục
- Trò chơi cần được xem như môi trường hoạt động của người học, để học chính nội dung của bài học thông qua ứng xử, xử lý, thực hiện, hành động với các đối tượng, quá trình, quan hệ và tình huống chơi
- Trò chơi phải có quan hệ chặt chẽ với nội dung học tập và nội dung cần phù hợp với thực tế tổ chức trò chơi
Trang 6- Chỉ lựa chọn những yếu tố, vấn đề quan trọng, cần thiết và thích hợp với phương thức chơi để đưa vào trò chơi với phán đoán rằng trò chơi sẽ mang lại hiệu quả cao hơn so với giờ học bài bản
- Giáo viên cần chuẩn bị chu đáo để có khả năng giải đáp những thắc mắc của HS, hướng dẫn và điều chỉnh quá trình chơi, tổ chức tổng thể trò chơi theo đúng thể loại đặc thù của nó
- Các quy luật và quy tắc chơi cần tự nhiên đến mức cao nhất, tránh gò bó
và được người học hiểu rõ, chấp nhận trước khi tiến hành trò chơi
- Cần có sự thảo luận và tổng kết sau trò chơi về 2 điều: nội dung và mục tiêu học tập đạt đến đâu, người học học được cái gì bổ ích theo yêu cầu dạy học
và ngoài yêu cầu dạy học
* Nắm vững yêu cầu của 1 trò chơi trong học tập
- Thứ nhất: Là một tình huống học tập của học sinh, một trò chơi học tập,
về hình thức là một trò chơi, còn về nội dung chơi là nội dung học tập Nói cách khác, trò chơi là tình huống dạy học được ủy thác
- Thứ hai: Trò chơi nào cũng phải có luật chơi Luật chơi trong trò chơi học
tập chính là những điều kiện, phương tiện để học sinh triển khai việc học tập thông qua hoạt động chơi Luật chơi phải được mọi người biết và chấp nhận
- Thứ ba: Trò chơi khác với các phương pháp dạy học khác ở chỗ sự tự
giác, tích cực tham gia chơi của học sinh Vì vậy, trò chơi học tập theo đúng nghĩa của nó phải là một tình huống học tập có tính tự giác cao Nếu trong khi chơi, người chơi bị cưỡng bức, sẽ không còn là trò chơi theo đúng nghĩa của nó
- Thứ tư: Bất kì trò chơi nào cũng cần phải có động lực kích thích, thúc đẩy
người chơi Động lực của trò chơi có thể nằm trong chính nội dung chơi, cũng
có thể ở bên ngoài trò chơi (các trò chơi có thưởng) Yếu tố củng cố (phần thưởng) trong các trò chơi học tập phải được coi là quan trọng, kích thích và thúc đẩy người chơi
- Thứ năm: Một trò chơi học tập phải có sự xác nhận của giáo viên Kết
thúc một trò chơi, người chơi thu nhận được kiến thức, kĩ năng và phương pháp hành động v.v Nhưng những tri thức đó chưa thể trở thành của chính người chơi, họ chưa thể đưa vào trong hệ thống kinh nghiệm của họ, nếu chưa được sự xác nhận của giáo viên
* Nắm vững các nguyên tắc thiết kế trò chơi học tập.
- Đảm bảo tính chất của hoạt động chơi: Mỗi trò chơi học tập phải là trò
chơi đích thực, thực sự hấp dẫn, kích thích tính tích cực, tự lập, sáng tạo của học sinh Những trò chơi nhằm tích cực hóa hoạt động học tập cho học sinh phải tạo
cơ hội cho các em hứng thú, tự nguyện tham gia vào trò chơi, tích cực vận dụng vốn hiểu biết và năng lực trí tuệ của mình để giải quyết nhiệm vụ học tập trong những hoàn cảnh chơi sinh động với yếu tố thi đua lẫn nhau
- Đảm bảo tính hệ thống và tính phát triển: Các trò chơi được sắp xếp từ
đơn giản đến phức tạp, từ dễ đến khó, tạo thành một hệ thống gồm các nhóm trò chơi nhằm nâng cao năng lực phát triển trí tuệ của học sinh
- Đảm bảo tính đa dạng: Các trò chơi hệ thống phải đa dạng, phong phú tạo
cơ hội cho học sinh thực hành, vận dụng vốn hiểu biết thuộc các đơn vị kiến
Trang 7thức đã học, đã tiếp cận khác nhau và khả năng tư duy để giải quyết nhiệm vụ học tập trong những tình huống chơi đa dạng, phong phú
* Nắm vững cách thức thực hiện trò chơi: Việc tổ chức trò chơi được giáo
viên tiến hành theo các bước sau:
Bước 1: Chuẩn bị trò chơi
- Thông báo kế hoạch, thời gian, nội dung trò chơi đến học sinh
- Cử người đều khiển trò chơi (Giáo viên hoặc học sinh)
- Ổn định tổ chức, bố trí đội chơi: tùy thuộc vào đặc điểm mỗi trò chơi mà giáo viên chia đội cho hợp lí (Nếu chơi theo đội)
- Phân công nhiệm vụ cho lớp, tổ nhóm, đội chơi để chuẩn bị điều kiện phương tiện cho cuộc chơi
- Giáo viên giới thiệu trò chơi phải ngắn gọn, hấp dẫn, dễ hiểu, dễ tiếp thu,
dễ thực hiện, bao gồm các nội dung sau:
+ Thông báo tên trò chơi, chủ đề chơi;
+ Nêu mục đích và các yêu cầu của trò chơi;
+ Nói rõ cách chơi và luật chơi
Bước 2: Tiến hành trò chơi
- Các đội tham gia trò chơi
- Dùng khẩu lệnh bằng lời, chuông, để điều khiển cuộc chơi
Bước 3: Kết thúc trò chơi
- Đánh giá kết quả trò chơi: GV công bố kết quả cuộc chơi khách quan, công bằng, chính xác giúp HS nhận thức được ưu điểm và tồn tại để cố gắng ở những trò chơi tiếp theo
- Động viên, khích lệ ý thức, tinh thần cố gắng của các em, tuyên dương, khen ngợi hay khen thưởng bằng vật chất, tạo không khí vui vẻ, phấn khởi và để lại những ấn tượng tốt đẹp trong tập thể HS về cuộc chơi
2.3.2 Giáo viên cần biết cách chọn lựa các trò chơi phù hợp với các hoạt động dạy học.
2.3.2.1 Hoạt động khởi động (kích thích học tập)
Hoạt động khởi động trong giờ dạy có một vai trò đặc biệt quan trọng trong việc tổ chức các hoạt động trên lớp giúp học sinh định hướng nội dung bài học, bước đầu giải quyết vấn đề đặt ra trong bài học Chính vì thế việc sử dụng trò chơi trong hoạt động khởi động sẽ kích thích tính tò mò, sự hứng thú
Các trò chơi: Ai nhanh hơn, đóng vai, tiếp sức
2.3.2.2 Hoạt động hình thành kiến thức:
Là hoạt động chính, quan trọng của bài học Giúp học sinh tự chiếm lĩnh kiến thức mới thông qua hệ thống các bài tập/nhiệm vụ Sử dụng trò chơi trong hoạt động này nhằm củng cố, vận dụng ngay những kiến thức vừa học và kết nối những kiến thức liên quan trong các bài học trước giúp học sinh hiểu sâu kiến thức hơn Các trò chơi có thể vận dụng: Đuổi hình bắt chữ, tiếp sức, hái sao, hái hoa dân chủ
2.3.2.3 Hoạt động luyện tập- vận dụng, tìm tòi - mở rộng:
Hoạt động này yêu cầu học sinh phải vận dụng những kiến thức vừa học được ở hoạt động hình thành kiến thức mới để giải quyết những nhiệm vụ cụ
Trang 8thể Trong phần này giáo viên có thể linh hoạt tổ chức các trò chơi phù hợp với các bài tập để tạo hứng thú cho học sinh, giúp giờ học sôi nổi, tích cực hơn mà vẫn rèn được các kĩ năng cần thiết của bài học Các trò chơi có thể vận dụng: Đuổi hình bắt chữ, Tiếp sức, Đường lên đỉnh Olympia, Hộp quà bí mật
2.3.2.4 Hoạt động củng cố kiến thức:
Đây là phần kết thúc của bài dạy, chốt lại các nội dung kiến thức cơ bản cần ghi nhớ trong bài học Sử dụng trò chơi trong họat động này giúp học sinh
hệ thống kiến thức một cách nhẹ nhàng không khô khan, gò bó Trong phần này tôi thường sử dụng trò chơi mở hình nền hoặc trò chơi giải ô chữ Đây là những trò chơi tôi thấy có thể vừa hệ thống kiến thức vừa kiểm tra kiến thức vừa học một cách hiệu quả mà vẫn tạo được sự hứng thú cho học sinh Các trò chơi có thể vận dụng: Trò chơi ô chữ, Ai nhanh hơn
2.3.3 Một số trò chơi được vận dụng vào dạy học các tiết Thực hành Tiếng Việt Ngữ văn lớp 6:
2.3.3.1 Trò chơi: Đường lên đỉnh Olympia.
* Đặc điểm: trò chơi phát hiện tri thức, rèn các kĩ năng nhận diện, thông
hiểu, vận dụng thấp, vận dụng cao các đơn vị kiến thức được học trong bài
thông qua các phần thi trả lời các câu hỏi trắc nghiệm và tự luận, thông qua trò
chơi rèn khả năng tự học, khai thác kiến thức từ mạng Internet của học sinh ở nhà
* Vận dụng: Có thể vận dụng linh hoạt được trong tất cả hoạt động.
Ví dụ: Tiết 22: Thực hành Tiếng Việt (Phần biện pháp tu từ ẩn dụ)
* Mục tiêu:
+ Vận dụng kiến thức vừa học để giải quyết các tình huống trong thực tế + Thay đổi hình thức vận dụng, củng cố, tạo hứng thú học tập cho học sinh
+ Lôi cuốn tất cả học sinh của lớp tham gia hoạt động
* Các bước tiến hành: Tổ chức hoạt động theo 4 phần thi
- Phần 1: Khởi động thực hiện ở phần khởi động giới thiệu kiến thức mới
- Phần 2: Phần tăng tốc: thực hiện sau khi hình thành kiến thức về ẩn dụ Phần 3: Vượt chướng ngại vật: GV tổ chức cho các đội đặt câu có sử dụng phép tu từ ẩn dụ
Phần 4: Về đích: Học sinh các đội vận dụng viết đoạn văn có sử dụng phép
tu từ ẩn dụ
Bước 1: Thực hiện trò chơi.
*Gv tổ chức 2 đội thi, mỗi đội 5 thành viên (có nam và nữ)
- Nhóm 1: Dãy 1+2
- Nhóm 2: Dãy 3+4
- Bạn thư kí: Tổng hợp, ghi điểm cho 2 đội chơi
*Thành lập Ban Giám khảo, Ban thư kí, Người dẫn
* Cố vấn: GV
* Thông báo thể lệ cuộc thi
Vòng 1: Khởi động
Nội dung: Có 16 từ chỉ vật, người Nhiệm vụ của các đội chơi là tìm những từ chỉ sự vật được đối chiếu với nhau dựa trên nét tương đồng Trong vòng 3 phút, đội nào ghi được nhiều hơn, nhanh hơn sẽ thắng cuộc.
Trang 91 Bác Hồ 5 Trẻ em 9 Người cha mái tóc
bạc
13 đốm lửa
2 mặt trời 6 chùm phượng vĩ 10 đàn kiến vỡ tổ 14.chùm khế ngọt
3 quê hương 7.học sinh ùa ra
sân trường
11.những chiếc ô khổng lồ
15.gã nghiện thuốc phiện
4 Dế Choắt 8 hàng cây đầu phố 12 quả trứng thiên nhiên 16 Búp trên cành
Vòng 2: Vượt chướng ngại vật:
- Phần thi gồm 4 câu hỏi trắc nghiệm Mỗi câu hỏi đúng được 10 điểm Thành viên đội nào trả lời đúng, đủ và nhanh nhất sẽ giành chiến thắng giành cho đội chơi
Câu 1: Điền từ vào chỗ trống để tạo thành phép ẩn dụ? Giọng nói của chị ấy…
Câu 2: Câu tục ngữ, ca dao nào dưới đây có sử dụng phép tu từ ẩn dụ? 1.Chị ngã em nâng
2 Trẻ em như búp trên cành
Biết ăn ngủ, biết học hành là ngoan
3 Ăn quả nhớ kẻ trồng cây 4.Tấc đất, tấc vàng
Câu 3: Hình ảnh “mặt trời” nào trong câu thơ sau đây là hình ảnh ẩn dụ
mặt trời (1) của bắp thì nằm trên đồi – mặt trời (2) của mẹ, em nằm trên lưng”
Câu 4: Tìm ẩn dụ trong ví dụ dưới đây “Thuyền về có nhớ bến chăng?/Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền”
Vòng 3: Tăng tốc
Luật chơi: Đặt câu chứa hình ảnh ẩn dụ với sự vật ở trong bức ảnh (không
được nhắc đến tên của sự vật, hình ảnh đó) Mỗi câu đúng được 10 điểm
Vòng 4: Về đích Hãy viết đoạn văn ngắn (từ 3 đến 5 câu) miêu tả ngôi
trường của em Trong đó có sử dụng biện pháp nghệ thuật ẩn dụ (Gạch chân dưới biện pháp ẩn dụ đó)
Bước 2: Tổng kết, trao thưởng.
- Thư kí tổng kết và công bố kết quả GV trao thưởng (có thể bằng điểm hoặc bằng hiện vật: sách vở, đồ dùng học tập, bánh kẹo)
* Ưu điểm
+ Về tinh thần, thái độ: thay đổi hình thức củng cố, vận dụng truyền thống, giúp học sinh có tinh thần học tập tích cực, hào hứng hơn, chủ động hơn
+ Về kiến thức, kĩ năng: Học sinh được vận dụng kiến thức giải quyết các bài tập rèn các kĩ năng: nhận biết, thông hiểu, vận dụng thấp, vận dụng cao + Về năng lực, phẩm chất: Học sinh có năng lực tự học, tự chủ; năng lực giao tiếp, hợp tác; năng lực giải quyết vấn đề, sáng tạo Qua trò chơi cũng rèn được cho các em phẩm chất tự tin ,tinh thần trách nhiệm, tinh thần đồng đội
2.3.3.2.Trò chơi đuổi hình bắt chữ
* Đặc điểm: Trò chơi này nhằm phát triển năng lực hợp tác, sáng tạo, sử
dụng ngôn ngữ của học sinh Để thực hiện trò chơi này, trước tiên GV xác định xem sẽ đưa ra những kiến thức nào phù hợp với bài dạy Sau đó tìm những tranh ảnh có thể giúp học sinh liên tưởng đến những đối tượng ấy Hình ảnh có thể tìm
ở trên mạng Internet hoặc có thể để học sinh hoạt động nhóm tự vẽ tranh hoặc
Trang 10tự sưu tầm tranh ảnh rồi tự giải đố với nhau bằng các hình ảnh và từ khóa liên quan đến bài học
Ví dụ: Tiết 38: Thực hành Tiếng Việt (Phần cụm động từ)
* Mục tiêu:
+ Củng cố, vận dụng, khắc sâu kiến thức vừa học
+ Tạo hứng thú học tập cho học sinh
+ Lôi cuốn tất cả học sinh của lớp tham gia hoạt động
* Các bước tiến hành
Khi dạy đơn vị kiến thức Cụm động từ tôi sẽ vận dụng trò chơi “Nhìn hình
đoán chữ” trong hoạt động hình thành kiến thức Sau khi hình thành kiến thức
về động từ tôi cho học sinh chơi trò chơi để củng cố kiến thức
- Bước 1: Chuẩn bị những bức tranh có các hoạt động khác nhau của người, động vật
- Bước 2: Nêu luật chơi: Học sinh nhìn vào tranh và tìm các động từ chỉ các hoạt động tương ứng của nhân vật trong tranh Thêm các từ đằng trước, đằng sau để tạo thành cùm động từ, đặt câu với cụm động từ vừa tìm được
- Bước 3: Thực hiện chơi :
+ GV chiếu các bức tranh sau đó yêu cầu học sinh nhận diện các hoạt động trong tranh và tìm các động từ tương ứng và thêm các từ để tạo thành cụm từ Đặt câu với cụm động từ đó
+ Nhận xét cụm động từ và câu học sinh vừa đặt
- Bước 4: Kết thúc:
+ Nhận xét, đánh giá thái độ tham gia trò chơi của học sinh
+ Khen thưởng, động viên khích lệ học sinh bằng tinh thần, bằng điểm hoặc bằng các phần quà nhỏ
* Ưu điểm
+ Về tinh thần, thái độ: học sinh hào hứng tham gia vào hoạt động học tập, giờ học sôi nổi không nhàm chán
+ Về kiến thức, kĩ năng: Học sinh nhận diện được các cụm động từ và biết vận dụng trong ngữ cảnh cụ thể
+ Về năng lực, phẩm chất: Học sinh được rèn các năng lực: tự học, ngôn ngữ, giao tiếp và khả năng tư duy, óc phán đoán, phản ứng nhanh, tinh thần hợp tác
2.3.3.3.Trò chơi: Chuyền bóng.
* Đặc điểm của trò chơi: Trò chơi này sẽ giúp các em luyện tập phản ứng
nhanh về ngôn ngữ, đồng thời sẽ giúp các em hiểu hơn về bài một cách nhanh nhất Phần chuẩn bị rất đơn giản chỉ cần một quả bóng nhỏ hoặc một vật gì đó
để ném (tung) và bắt Trò chơi này có thể vận dụng linh hoạt ở nhiều hoạt động dạy học
Ví dụ: Tiết 45 Thực hành Tiếng Việt (Phần từ đồng âm, từ đồng nghĩa)
* Cách thức tiến hành:
- Yêu cầu: Tìm từ có nghĩa giống hoặc gần giống với từ được nêu; hoặc
từ giống âm thanh nhưng khác nhau về nghĩa.
- Người chơi đứng thành vòng tròn (hoặc hai hàng dọc) Một người cầm quả bóng ném cho một người khác đồng thời hô to lên một từ Người được bạn