Tôi xin mạnh dạn đưa ra những ví dụ cụ thểcác bài hát, tục ngữ, ca dao có thể áp dụng được trong các bài học hóa học 9như sau: Ví dụ 1: Khi dạy chủ đề Axit Để khắc sâu kiến thức phần Tín
Trang 17 2.Nội dung Sáng kiến kinh nghiệm
9 2.2.Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng SKKN 3
10 2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề 3
11 2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm 18
Trang 2Điều đó làm giảm sút chất lượng và hiệu quả giảng dạy của GV Để nâng caohứng thú học tập cho học sinh và chất lượng, hiệu quả giảng dạy, GV cần phảinắm vững kiến thức, đổi mới phương pháp giảng dạy, tích cực sử dụng đồ dùng,thiết bị dạy học, nội dung cho HS ghi ngắn gọn, xúc tích, từ ngữ dễ hiểu, đổimới cách kiểm tra đánh giá… Trong đó, việc đổi mới phương pháp giảng dạy làmột vấn đề rất quan trọng.
Như chúng ta đã biết, ca dao, tục ngữ là một thể loại văn học dân gianViệt Nam được ông cha ta đã đúc kết từ thực tiễn đời sống, trong lao động sảnxuất và cả việc theo dõi các diễn biến của các hiện tượng tự nhiên, vốn kinhnghiệm và hiểu biết của mình để truyền lại cho thế hệ sau.Trong nội dung của cadao, tục ngữ có rất nhiều nội dung liên quan, phản ánh các hiện tượng địa lí mộtcách chính xác, gần gũi, dễ hiểu, dễ nhớ Vì vậy để một tiết học Hóa học đượcsinh động, gần gũi hơn với thực tiễn, tạo hứng thú học tập cho HS Đồng thờibồi dưỡng cho HS tình cảm yêu quê hương đất nước, lòng tự hào dân tộc Tôinghĩ GV khi giảng dạy Hóa học có thể dùng những câu ca dao, tục ngữ hoặc thơvăn, bài hát, các hiện tượng thực tiễn để minh hoạ cho các nội dung kiến thức cóliên quan trong bài dạy của mình
Vì vậy, tôi chọn đề tài: “Sử dụng các câu tục ngữ, ca dao và các hiện
tượng thực tiễn trong dạy học Hóa học lớp 9”
1.2 Mục đích nghiên cứu:
Việc hình thành hứng thú học tập cho HS đặc biệt là hứng thú học tậpmôn Hóa học là yêu cầu quan trọng của mỗi giáo viên Khi hỏi các em nhân tốnào quan trọng chủ yếu tạo nên hứng thú cho người học phụ thuộc nhiều vàongười dạy hay người học, đa số các em cho rằng do người dạy Khi các em nhậnthức đúng thì các em có những mong đợi đối với GV thật hợp lí để bài học đượcphong phú, lôi cuốn
Có nhiều phương tiện để GV sử dụng nhằm gây hứng thú học tập cho HSnhư: dùng đồ trực quan, tổ chức thăm quan dã ngoại, tổ chức chương trình ngoạikhoá, tổ chức trò chơi … Tuy nhiên ngoài những cách trên còn có một cáchcũng không kém phần hữu hiệu đó là dùng các câu tục ngữ, ca dao các hiệntượng thực tiễn sao cho phù hợp với bài học để tạo hứng thú cho HS
1.3 Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài được nghiên cứu dựa vào đặc điểm sinh lý của đối tượng học sinh
lớp 9 trường THCS và dựa vào hoạt động giảng dạy của giáo viên và học củahọc sinh trong nội dung chương trình môn học
1.4 Phương pháp nghiên cứu:
- Dựa vào thực tế giảng dạy, dự giờ, trao đổi kinh nghiệm của đồng chí,đồng nghiệp
- Thông qua tham khảo sách, báo, thông tin đại chúng, mạng Internet
- Dựa vào công tác điều tra, khảo sát, tham quan, nghiên cứu tình hìnhmôi trường trong nhà trường, địa phương, thảo luận và đưa ra phương án xử lý
Trang 3- Dựa vào kinh nghiệm thực tế, các hoạt động thực tiến từ đó phân tích,tổng hợp để đưa ra các biện pháp giáo dục bảo về môi trường.
a Phương pháp trực quan: GV cho HS xem video, tranh ảnh minh họatrong nội dung tích hợp
b Phương pháp nghiên cứu tài liệu: GV cho HS nghiên cứu trước một sốnội dung quan trọng ở nhà qua SGK, mạng Internet, sách, báo
c Phương pháp phân tích tổng hợp: GV phân tích tổng hợp ý kiến của HS
từ đó đưa ra nhận xét và kết luận
d Phương pháp điều tra: GV phát phiếu điều tra bằng hệ thống câu hỏi để
HS đánh giá trước và sau khi thực hiện đề tài
e Phương pháp thống kê: GV so sánh số liệu trước và sau khi thực hiện
đề tài
2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1 Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm:
Do yêu cầu của việc đổi mới phương pháp dạy học nên GV cần vận dụngcác phương pháp soạn giảng cho phù hợp để đem lại niềm vui, hứng thú học tậpcho HS, từ đó có thể phát huy tính tự giác tích cực của HS
Việc dạy học Hóa học nói chung cần đảm bảo các nguyên tắc giáo dục,đây là các luận điểm có tính chất chỉ đạo, những quy định, yêu cầu cơ bản màngười GV cần phải tuân thủ để mang lại hiệu quả cao nhất trong quá trình dạyhọc Việc sử dụng, áp dụng các bài hát, câu ca dao, tục ngữ phù hợp với từngnội dung kiến thức đã căn cứ vào các nguyên tắc giáo dục
Mỗi một môn học đều có những đặc điểm riêng về nội dung và các nguồntri thức cũng như về phương pháp dạy và học Đối với môn Hóa học là môn học
có nội dung kiến thức sâu rộng với nhiều nội dung khó, khô khan, trừu tượng.Vậy làm thế nào để có một tiết học Hóa học trở nên sinh động, gần gũi với thựctiễn, tạo hứng thú cho HS giúp các em tiếp thu bài một cách nhẹ nhàng, hiệuquả? Tôi nghĩ đây là một câu hỏi, một nỗi trăn trở lớn không chỉ của riêng tôi
mà còn của rất nhiều GV dạy Hóa học khác
Theo tôi, câu trả lời ở đây chính là GV cần phải đổi mới phương pháp dạyhọc của mình Trước hết, GV cần tích cực sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạyhọc mới hiện nay như hoạt động nhóm, động não, khăn trải bàn, các mảnh ghép,dạy học theo dự án…Đồng thời cũng phải chú trọng đến một số phương pháp, kĩnăng mang tính đặc trưng của môn học như Quan sát, thực hành thí nghiệm…
Qua những năm trực tiếp tham gia giảng dạy Hóa học 9 tôi nhận thấyrằng, việc sử dụng lồng ghép các câu tục ngữ, ca dao và các hiện tượng thực tế
để hình thành khái niệm, kiến thức Hóa học đều đảm bảo các nguyên tắc trên.Nhất là các nguyên tắc đảm bảo tính khoa học, tính vừa sức đối với HS vànguyên tắc đảm bảo tính tự lực, phát triển tư duy cho HS nhưng không kémphần thú vị, hấp dẫn thu hút HS với những kiến thức mới
Trang 42.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng SKKN:
- HS không thích học, lười học, không biết làm thí nghiệm, giải thích cáchiện tượng thực tế,nhận biết, tách chất Kiểm tra bài thường không học thuộcbài, một số vẫn còn thái độ sai: nhìn bài, trao đổi
- Những câu hỏi phát vấn trong giờ học thường rất ít HS phát biểu chỉ mộtvài HS có học lực khá xung phong trả lời bài Tâm lý HS là một môn học khôkhan, môn phụ, HS học lệch là những trở ngại lớn
2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề:
2.3.1 Khái niệm và tác dụng các câu tục ngữ, ca dao, các hiện tượng thực
tế trong dạy học Hóa học 9
Với đặc điểm ngắn gọn, dễ nhớ, dễ hiểu, có nhịp điệu, có hình ảnh nhữngcâu tục ngữ được hình thành từ cuộc sống thực tiễn, trong đời sống sản xuất vàđấu tranh của nhân dân, do nhân dân trực tiếp sáng tác, được tách ra từ tác phẩmvăn học dân gian hoặc ngược lại, được rút ta tác phẩm văn học bằng con đườngdân gian hoá những lời hay ý đẹp
* Tác dụng của các bài hát, tục ngữ, ca dao trong học tập Hóa học
Sử dụng hợp lý các bài hát, tục ngữ, ca dao trong bài học Hóa học là mộtcách làm đa dạng hoá các phương pháp dạy học, tránh hiện tượng HS bị nhàmchán với cách thức tổ chức lớp học, góp phần đa dạng hoá các kênh thông tin,làm bài học trở nên gần gũi với cuộc sống, HS nắm bắt nhanh hơn, hiểu sâu hơn,
dễ thuộc bài hơn
2.3.2 Một số các câu tục ngữ, ca dao có thể sử dụng vào bài giảng Hóa học 9
Phương pháp dạy học hiện đại với xu thế lấy HS làm trung tâm là phươngpháp HS chủ động chiếm lĩnh tri thức Các bài hát, tục ngữ, ca dao là những khotàng kiến thức của nhân loại, được đúc kết và truyền miệng qua nhiều thế hệ
Việc sử dụng các bài hát, tục ngữ, ca dao trong dạy học Hóa học 9 là mộtphương pháp dạy học cụ thể chứ không đơn giản là một ví dụ minh hoạ cho bàihọc Vậy trong quá trình dạy học, ta phải biết cách dùng nó một cách linh động,
Trang 5hiệu quả Đây là một phương pháp dạy học nhanh và hiệu quả, đồng thời tạo cho
HS hứng thú hăng say học tập và ngày càng thích thú với bộ môn Hóa học
Bằng vốn kinh nghiệm ít ỏi của mình cùng với việc thực nghiệm tại cáclớp giảng dạy trong những năm qua Tôi xin mạnh dạn đưa ra những ví dụ cụ thểcác bài hát, tục ngữ, ca dao có thể áp dụng được trong các bài học hóa học 9như sau:
Ví dụ 1: Khi dạy chủ đề Axit
Để khắc sâu kiến thức phần Tính chất hóa học của axit GV yêu cầu HS vận dụng kiến thức mới học để giải thích câu tục ngữ sau:
Nước mưa, cưa trời
mà hư hỏng, xuống cấp hoặc vĩnh viễn bị xóa bỏ trên mặt đất
Ví dụ 2: Khi dạy chủ đề Muối
Để khắc sâu kiến thức phần ứng dụng của muối GV yêu cầu HS vận dụngkiến thức mới học để giải thích câu ca dao sau:
về mặt hóa học của câu ca dao trên Tại sao gừng lại cay? Gừng và muối cócông dụng kì diệu gì trong đời sống? Công dụng chữa bệnh kỳ diệu của gừng.Ngoài là một gia vị thơm ngon, gừng còn được biết đến như là một loại thuốckháng sinh tự nhiên tốt cho sức khỏe mà không có bất cứ tác dụng phụ nào!
Muối là gia vị không thể thiếu trong mỗi bữa ăn gia đình Muối ăn cócông thức hóa học là NaCl Có nhiều trong nước biển, ngoài ra còn có trong:nước mắt, máu, nước tiểu, Muối ăn rất cần thiết cho cơ thể chúng ta Mỗingày, cơ thể chúng ta cần từ 10 gam – 15 gam muối Trong cơ thể, muối chiếmnồng độ 0,9% so với nước của cơ thể Hồng cầu chỉ tồn tại ở nồng độ muối này.Thấp hơn thì hồng cầu bị vỡ, cao hơn thì bị nó bị teo Do đó, ảnh hưởng nghiêm
Trang 6trọng tới tính mạng con người Người bị bệnh cao huyết áp cần ăn nhạt muối.Người mắc bệnh thận ăn muối sẽ bị phù, Trong đời sống, quần áo vải màu nếungâm trong nước muối trước khi giặt sẽ hạn chế sự phai màu của quần áo Đó là
do muối ăn làm giảm bớt độ hòa tan của thuốc nhuộm trong nước Ngoài ra,muối phân ly ra ion dương và ion âm có thể làm tăng sự kết hợp của thuốcnhuộm với với sợi vải do đó làm cho thuốc nhuộm vải khó bị trôi và vải ít bịphai khi giặt…
“Cá không ăn muối cá ươn…”
Muối dùng để ướp cá để tránh bị ươn, hư do trong tế bào vi sinh vật, vikhuần chứa một lượng muối rất nhỏ Khi ướp cá trong muối có nồng độ rất cao làmcho nước trong tế bào vi sinh vật, vi khuẩn bị thẩm thấu ra ngoài gây ức chế vikhuẩn hoạt động Thẩm thấu là sự vận chuyển của nước ngang qua một màng bánthấm từ phía có “nồng độ nước” cao hơn đến phía có “nồng độ nước” thấp hơn
Ví dụ 3: Khi dạy bài 11: Phân bón hóa học
Để khắc sâu kiến thức phần các loại phân bón hóa học GV yêu cầu HSvận dụng kiến thức mới học để giải thích câu tục ngữ và câu ca dao sau:
“ Không lân, không vôi thì thôi trồng lạc”
Giải thích:
Cây lạc cũng cần độ pH từ 5,5 - 6,5, nếu đất chua cây chậm phát triển,hiện nay hầu hết đất trồng lạc ở nước ta đều có độ chua cao (pH < 4,5), do vậyphải đặc biệt chú ý đến bón vôi để giảm chua cho đất
Cây lạc cũng đòi hỏi đất phải tơi xốp, thoáng khí, vì bộ rễ ăn nông, ưa hảokhí nốt sần mới phát triển, tự dưỡng đạm khí trời cung cấp đạm cho cây trongsuốt thời gian sinh trưởng, lạc là loại cây trồng không cần nhiều dinh dưỡngnhưng lại cần nhiều loại dinh dưỡng khác nhau
Cây lạc cần lân (P2O5), lân là yếu tố dinh dưỡng hàng đầu, thiếu lân bộ rễkhông phát triển, ít nốt sần, cây không tự dưỡng được đạm, lạc sẽ rất ít củ, lâncung cấp cho cây lạc từ nhiều nguồn Lân từ đất rất ít, do đặc tính đất cát, cátpha rất nghèo lân, lân cung cấp từ phần hữu cơ cũng không nhiều, lân chủ yếu chocây lạc từ phân bón như phân lân, lân trong phân NPK Cây lạc cần lân ngay từ đầukhi cây có 2 - 3 lá thật, vì thế lân phải được bón lót sớm trước khi tra hạt mầm
Cây lạc cần canxi (vôi) khi phân tích thành phần dinh dưỡng trong hạt chothấy tỷ lệ canxi chiếm khá cao, chính vì thế khi lạc ra hoa rất cần bón bổ sungvôi để giúp cho cây hấp thụ tạo năng suất, vôi còn tham gia điều tiết môi trườngtrong dịch tế bào cây
Cao dao Việt Nam có câu:
Lúa chiêm lấp ló đầu bờ
Hễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lên.
Giải thích:
- Lúa chiêm là vụ lúa vào khoảng tháng 2, tháng 3 thời điểm mưa nhiều,sấp sét nhiều
Trang 7- Khi có sấm sét liên kết N≡N trong N2( cây không hấp thu được ) bìnhthường rất bền bị phá vỡ ⇒ N2 phản ứng ngay với O2 trong không khí.
N2 + O2 → 2NO
- NO phản ứng ngay với O2:
2NO + O2 → 2NO2
- Mưa cung cấp nước cho phản ứng tạo thành HNO3:
4NO2 + O2 + 2H2O → 4HNO3
- HNO3 dễ dàng phản ứng với nhiều chất tạo thành muối nitrat ⇒ Cây hấpthu được, phát triển mạnh ⇒"Phất cờ mà lên'
Ví dụ 4: Khi dạy bài 16: Tính chất hóa học của kim loại.
Để khắc sâu kiến thức phần tính chất hóa học của kim loại (Kim loại tácdụng với oxi) GV yêu cầu HS vận dụng kiến thức mới học để giải thích câu cadao sau:
Vàng mười thử lửa thử than Người khôn thử tiếng, người ngoan thử lời
- Giải thích:
+ Vàng thì thử lửa thử than: Vàng là kim loại quý hiếm, không bị đốt cháybởi lửa than bình thường, khi muốn kiểm chứng độ thật giả của vàng có thể đemqua lửa, than Nếu bị cháy đen thì không phải vàng thật Chính vì vậy vàng, bạckhông tác dụng với oxi ở nhiệt độ cao
+ Chuông kêu thử tiếng: chuông ở đây là chuông ở các ngôi chùa tại ViệtNam, lấy từ việc thử chuông ở các chùa, ông cha ta đã chỉ ra cách nhận biếtchuông tốt hay không, đó là nhờ vào tiếng kêu
+ Người ngoan thử lời: Từ hai dẫn chứng trên, ông cha ta liên hệ tới việcthử lòng người Chỉ bằng lời nói thốt ra nhưng lại chính là đặc điểm để biết thêm
về con người ấy
Hoặc câu: Lửa thử vàng, gian nan thử sức.
Đầu tiên, “lửa thử vàng” gợi ra một hình ảnh vô cùng quen thuộc Muốnxem tuổi vàng thì phải thử vàng bằng lửa, ngọn lửa càng cao độ chừng nào thìtuổi vàng càng rõ chừng ấy Vàng được lửa đốt thì mới định được giá trị của nó.Cũng giống như con người, khi trải qua gian nan, thử thách thì mới biết đượcsức mình đến đâu Con người cũng vậy, trước khó khăn mới biết được sức mình,nguy hiểm mà vẫn tiến lên không lùi bước mới có nghị lực
Ví dụ 5: Khi dạy bài 28: Các oxit của cacbon.
Để khắc sâu kiến thức phần cac bon và cacbon oxit GV yêu cầu HS vận dụng kiến thức mới học để giải thích câu ca dao sau:
Cha truyền, con nối
Thợ nguội dạy con
Trang 8Muốn lửa đỏ hơn
Ta nên rảy nước.
Ví dụ 6: Khi dạy bài 29: Axit cacbonic và muối cacbonat.
Để khắc sâu kiến thức phần củng cố bài GV yêu cầu HS vận dụng kiến thức mới học để giải thích câu tục ngữ sau:
“ Nước chảy đá mòn”
Giải thích:
Thành phần chủ yếu của đá là CaCO3 Trong không khí có khí CO2 nênnước hòa tan một phần tạo thành axit H2CO3 Do đó xảy ra phản ứng hóa học :
CaCO3 + CO2 + H2O → Ca(HCO3)2
Khi nước chảy cuốn theo Ca(HCO3)2, theo nguyên lí dịch chuyển cânbằng thì cân bằng sẽ chuyển dịch theo phía phải Kết quả là sau một thời giannước đã làm cho đá bị bào mòn dần
Ví dụ 7: Khi dạy bài : Ancol etylic
Để khắc sâu kiến thức phần củng cố giúp HS khắc sâu thêm tác hại của rượu
GV yêu cầu HS vận dụng kiến thức mới học để giải thích câu thành ngữ sau:
“ Rượu vào lời ra”
Giải thích:
Rượu là chất kích thích, nếu sử dụng nhiều, liên tục nó sẽ làm cho hoạtđộng của vỏ não bị rối loạn, trí nhớ kém Người uống rượu nhiều thường rất haynói vì võ não bị kích thích, khó kiểm soát được lời nói và hành động Dân giancòn nói thêm “ Tửu nhập bất hành lễ” nghĩa là uống rượu nhiều dẫn đến say thìthường không biết lễ nghĩa là gì nữa Việc đưa câu tục ngữ trên vào bài dạy giúphọc sinh khắc sâu thêm tác hại của rượu, đặc biệt là ở tuổi học sinh
Ví dụ 8: Khi dạy bài 47 : Chất béo
Để khắc sâu kiến thức phần tính chất của chất béo GV yêu cầu HS vận dụng kiến thức mới học để giải thích câu sau:
“Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh.”
Trang 9Ví dụ 9: Khi dạy bài : Tinh bột
Để khắc sâu kiến thức phần tính chất của tinh bột (Phản ứng thủy phân)
GV yêu cầu HS vận dụng kiến thức mới học để giải thích câu tục ngữ sau:
“Nhai kĩ no lâu, cày sâu lúa tốt”
vì men amilaza không hoạt động trong môi trường axit Ở ruột, nhờ các enzimamilaza, mantaza của dịch tụy…tinh bột bị thủy phân hoàn toàn thành glucozơrồi ngấm qua thành ruột vào máu.Vì vậy nếu ta nhai càng lâu thì quá trình thủyphân bởi enzim sẽ triệt để hơn, vì vậy ta cảm thấy no lâu hơn
2.3.3 Một số hiện tượng tự nhiên có thể sử dụng vào bài giảng Hóa học 9
Ví dụ 1: Khi dạy bài 1: Tính chất hóa học của Oxit, khái quát về sự phân
loại oxit
Để khắc sâu kiến thức phần tính chât hóa học của oxit axit GV yêu cầu
HS vận dụng kiến thức mới học trả lời câu hỏi sau:
“Hiện tượng mưa axit” là gì ? Tác hại như thế nào ?
Giải thích:
– Khí thải công nghiệp và khí thải của các động cơ đốt trong (ô tô, xemáy) có chứa các khí SO2, NO, NO2,…Các khí này tác dụng với oxi O2 và hơinước trong không khí nhờ xúc tác là các oxit kim loại (có trong khói, bụi nhàmáy) hoặc ozon tạo ra axit sunfuric H2SO4 và axit nitric HNO3
2SO2 + O2 + 2H2O → 2H2SO4
2NO + O2 → 2NO2
4NO2 + O2 + 2H2O → 4HNO3
Axit H2SO4 và HNO3 tan vào nước mưa tạo ra mưa axit Trong đó H2SO4 là nguyên nhân chính gây ra mưa axit
– Hiện nay mưa axit là nguồn ô nhiễm chính ở một số nơi trên thế giới Mưaaxit làm mùa màng thất thu và phá hủy các công trình xây dựng, các tượng đài làm từ
Trang 10đá cẩm thạch, đá vôi, đá phiến (các loại đá này thành phần chính làCaCO3):
CaCO3 + H2SO4 → CaSO4 + CO2↑ + H2O
CaCO3 + 2HNO3 → Ca(NO3)2 + CO2↑ + H2O
Ví dụ 2: Khi dạy bài 4: Một số axit quan trọng.
Để khắc sâu kiến thức phần tính chât hóa học và ứng dụng của axitclohiđric GV yêu cầu HS vận dụng kiến thức mới học trả lời câu hỏi sau:
Axit clohiđric có vai trò như thế nào đối với cơ thể ?
Giải thích:
Axit clohiđric có vai trò rất quan trọng trong quá trình trao đổi chất của cơthể Trong dịch dạ dày của người có axit clohiđric với nồng độ khoảng chừng0,0001 đến 0,001 mol/l (có độ pH tương ứng với là 4 và 3) Ngoài việc hòa tancác muối khó tan, nó còn là chất xúc tác cho các phản ứng phân hủy các chấtgluxit (chất đường, bột) và chất protein (đạm) thành các chất đơn giản hơn để cơthể có thể hấp thụ được
Lượng axit trong dịch dạ dày nhỏ hơn hay lớn hơn mức bình thường đềugây bệnh cho người Khi trong dịch dạ dày có nồng độ axit nhỏ hơn 0,0001 mol/
l (pH>4,5) người ta mắc bệnh khó tiêu, ngược lại nồng độ axit lớn hơn 0,001mol/l (pH<3,5) người ta mắc bệnh ợ chua
Để khắc sâu kiến thức phần cách pha loãng axit sufuric GV yêu cầu HSvận dụng kiến thức mới học trả lời câu hỏi sau:
Vì sao không nên rót nước vào axit sunfuric đậm đặc mà chỉ có thể rót từ từ axit sunfuric đậm đặc vào nước ?
Giải thích:
Khi axit sunfuric tan vào nước sẽ tỏa ra một nhiệt lượng lớn Axit sunfuricđặc giống như dầu và nặng hơn trong nước Nếu bạn cho nước vào axit, nước sẽnổi trên bề mặt axit Tại vị trí nước tiếp xúc với axit nhiệt độ cao làm cho nướcsôi mãnh liệt và bắn tung tóe gây nguy hiểm
Trái lại khi bạn cho axit sunfuric vào nước thì tình hình sẽ khác: axit sunfuric đặc nặng hơn nước, nếu cho từ từ axit vào nước, nó sẽ chìm xuống đáy
nước, sau đó phân bố đều trong toàn bộ dung dịch Như vậy nhiệt lượng sinh rađược phân bố đều trong dung dịch, nhiệt độ sẽ tăng từ từ không làm cho nướcsôi lên một cách quá nhanh
Một chú ý thêm là khi pha loãng axit sunfuric bạn luôn luôn nhớ là “ phải rót từ từ ” axit vào nước và không nên pha trong các bình thủy tinh Bởi vì thủy
tinh sẽ dễ vở khi tăng nhiệt độ khi pha
Ví dụ 3: Khi dạy bài 9: Tính chất hóa học của muối.
Để khắc sâu kiến thức phần củng cố bài học GV yêu cầu HS vận dụngkiến thức mới học trả lời câu hỏi sau:
Trang 11Vì sao muối NaHCO 3 được dùng để chế thuốc đau dạ dày?
Giải thích:
Trong dạ dày, có chứa dung dịch HCl Người bị đau dạ dày là người có nồng
độ dung dịch HCl cao làm dạ dày bị bào mòn NaHCO3 dùng để chế thuốc đau dạdày vì nó làm giảm hàm lượng dung dịch HCl có trong dạ dày nhờ phản ứng:
NaHCO3 + HCl → NaCl + H2O + CO2
Ví dụ 4: Khi dạy bài 10: Một số muối quan trọng.
Để khắc sâu kiến thức phần liên hệ thực tế trong bài học GV yêu cầu HSvận dụng kiến thức mới học trả lời câu hỏi sau:
Vì sao nước mắt lại mặn ?
Giải thích:
Nước mắt mặn vì trong nước mắt có tới 6 gam muối Nước mắt sinh ra từtuyến lệ nằm phía trên mi ngoài của nhãn cầu Nước mắt có tác dụng bôi trơnnhãn cầu làm cho nhãn cầu không bị khô, bị xước và vì có muối nên còn có tácdụng hạn chế bớt sự phát triển của vi khuẩn trong mắt
V× sao níc biÓn cã muèi?
Biển cả là "quê hương" của muối Muối ăn (NaCl) chiếm 85% các loạimuối hoà tan trong nước biển Giả sử nếu chúng ta tách được tất cả muối khỏinước biển rời rải đều trên lục địa thì lớp muối sẽ cao tới 153 m Còn làm bay hơitoàn bộ nước biển thì đáy biển sẽ có lớp muối dày tới 60 m
Để tìm hiều nguồn gốc của muối trong nước biển các nhà khoa học đã tốnnhiều công sức từ việc phân tích, so sánh nước biển và nước sông, cho đếnnghiên cứu đất đá sau cơn mưa, thậm chí còn nghiên cứu hàng loạt núi lửa nữa.Cuối cùng họ đã phát hiện ra bí mật của muối biển Hoá ra, đại dương trong quátrình lâu dài hình thành lúc ban đầu đã hoà tan tất cả các loại muối khoáng.Đồng thời nham thạch thông qua quá trình phong hoá (nham thạch bị tác độnglâu ngày của mưa, nắng, gió bão và vi sinh vật) đã không ngừng bị phân giải vàsản sinh ra các loại muối, sau đó theo các dòng sông để ra đại dương Vậy sôngngòi, nham thạch và các núi lửa dưới đáy biển chính là nguồn gốc cung cấp chủyếu các loại muối cho biển cả
Ví dụ 5: Khi dạy bài 11: Phân bón hóa học.
Để khắc sâu kiến thức phần tích hợp bảo về môi trường trong bài học GVyêu cầu HS vận dụng kiến thức mới học trả lời câu hỏi sau:
Tại sao khi nông nghiệp phát triển thì các vi khuẩn, nấm, giun tròn sống trong đất, nước… giảm đi rất nhiều nhiều nơi không còn nữa ?
Giải thích:
Một số phân bón có thể tiêu diệt các loại sinh vật có hại này Ví dụ trướckhi trồng khoai tây một tuần người ta đưa vào đất một lượng urê (1,5 kg/m2) thì
Trang 12các mầm bệnh bị tiêu diệt hoàn toàn Hiện tượng dễ thấy là không còn đỉa trongnước ở nhiều nơi như ngày trước nữa.
Tại sao để cải tạo đất ở một số ruộng chua người ta thường bón bột vôi ?
Giải thích:
Thành phần của bột vôi gồm CaO và Ca(OH)2 và một số ít CaCO3 Ởruộng chua có chứa axit, pH < 7, nên sẽ có phản ứng giữa axit với CaO,Ca(OH)2 và một ít CaCO3 làm giảm tính axit nên ruộng sẽ hết chua
Ví dụ 6: Khi dạy bài 20: Hợp kim sắt: Gang, thép.
Để dẫn dắt HS thu nhận kiến thức GV yêu cầu HS trả lời câu hỏi sau đểvào bài mới:
Chảo, môi, dao đều được làm từ sắt Vì sao chảo lại giòn ? môi lại dẻo
Môi múc canh được chế tạo bằng “thép non” Thép non không giòn nhưgang nó dẻo hơn Vì vậy người ta thường dùng búa để rèn, biến thép thành các
– Nguồn nước thải có chứa kim loại nặng, các gốc nitrat, clorua, sunfat…
sẽ có hại đối với sinh vật sống trong nước và thực vật
– Những chất thải rắn như xỉ than và một số chất hóa học sẽ làm cho đất
bị ô nhiễm, không thuận lợi cho sự phát triển của cây
Do đó để bảo vệ môi trường các nhà máy cần được xây dựng theo chu trìnhkhép kín, đảm bảo khử được phần lớn chất độc hại trước khi thải ra môi trường
Trang 13Vớ dụ 7: Khi dạy bài 28: Cỏc oxit của cacbon.
Để khắc sõu kiến thức phần tớch hợp bảo về mụi trường trong bài học GV yờu cầu HS vận dụng kiến thức mới học trả lời cõu hỏi sau:
Tại sao cú một số trường hợp tử vong do ủ than trong nhà đúng kớn
cửa?
Giải thớch:
Đú là nồng độ khớ CO sinh ra từ bếp than ủ kớn trong phũng quỏ mức chophộp Khớ này kết hợp với hemoglobin trong mỏu ngăn khụng cho mỏu nhận oxi
và cung cấp oxi cho cỏc tế bào => gõy tử vong cho con người
Vì sao khi đốt, khí CO cháy còn khí CO 2 lại không cháy?
Vớ dụ 8: Khi dạy bài 29: Axit cacbonic và muối cacbonat.
Để khắc sõu kiến thức phần củng cố bài học GV yờu cầu HS vận dụngkiến thức mới học trả lời cõu hỏi sau:
Hiện tượng tạo thạch nhũ trong cỏc hang động với những hỡnh dạng phong phỳ đa dạng được hỡnh thành như thế nào ?
Giải thớch:
Ở cỏc vựng nỳi đỏ vụi, thành phần chủ yếu là CaCO3 Khi trời mưa trongkhụng khớ cú CO2 tạo thành mụi trường axit nờn làm tan được đỏ vụi Nhữnggiọt mưa rơi xuống sẽ bào mũn đỏ theo phương trỡnh:
CaCO3 + CO2 + H2O → Ca(HCO3)2
Theo thời gian tạo thành cỏc hang động Khi nước cú chứa Ca(HCO3)2 ở
đỏ thay đổi về nhiệt độ và ỏp suất nờn khi giọt nước nhỏ từ từ cú cõn bằng:
Ca(HCO3)2 → CaCO3 + CO2 + H2O
Như vậy lớp CaCO3 dần dần lưu lại ngày càng nhiều, dày tạo thành nhữnghỡnh thự đa dạng
Vớ dụ 9 : Khi dạy bài: Ancol etylic.
Để khắc sõu kiến thức phần ứng dụng của ancol etylic GV yờu cầu HSvận dụng kiến thức mới học trả lời cõu hỏi sau:
Vỡ sao cồn cú khả năng sỏt khuẩn?
Giải thớch:
Cồn là dung dịch rượu etylic (C2H5OH) cú khả năng thẩm thấu cao, cú thểxuyờn qua màng tế bào đi sõu vào bờn trong gõy đụng tụ protein làm cho vi