1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(SKKN 2022) Sử dụng bài giảng E-learning nhằm tăng hiệu quả tương tác của học sinh trường THCS Ái Thượng trong bài 19, hóa học 8 Chuyển đổi giữa khối lượng, thể tích và lượng chất

21 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 1,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của cả hệ thống chính trị, ngành giáo dục vàđào tạo ở nước ta đã có nhiều đổi mới, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin,cải thiện cở sở vật chất, thiết bị dạy

Trang 1

MỤC LỤC

1

1 MỞ ĐẦU1.1 Lý do chọn đề tài

1.2 Mục đích nghiên cứu

1.3 Đối tượng nghiên cứu

1.4 Phương pháp nghiên cứu

1 2 2 2

6 6-14 15

3

3 KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ3.1 Kết luận

3.2 Kiến nghị

16 17

TÀI LIỆU THAM KHẢODANH MỤC CÁC SKKN ĐÃ ĐƯỢC CÔNG NHẬN

18 19

Trang 2

1 MỞ ĐẦU 1.1 Lý do chọn đề tài:

Trong giai đoạn phát triển hiện nay, việc ứng dụng công nghệ thông tintrong giảng dạy và học tập là việc làm rất cần thiết Nó không chỉ được hiểu theonghĩa đơn giản là dùng máy tính để biên soạn rồi trình chiếu bài giảng trên lớp.Ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy được hiểu là một giải pháp trongmọi hoạt động liên quan đến nghiên cứu, soạn giảng, lưu trữ, tìm kiếm, trao đổi,chia sẻ kinh nghiệm và tài nguyên học tập

Trong hai năm trở lại đây, do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 diễn biếnhết sức phức tạp, đã có nhiều địa phương có nhiều khoảng thời gian học sinh,sinh viên không thể đến trường, nhiều cơ sở giáo dục phải đóng cửa

Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của cả hệ thống chính trị, ngành giáo dục vàđào tạo ở nước ta đã có nhiều đổi mới, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin,cải thiện cở sở vật chất, thiết bị dạy học, thay đổi điều chỉnh các hoạt động dạyhọc, tổ chức dạy học trực tuyến góp phần phát triển năng lực sử dụng công nghệthông tin và truyền thông trong dạy học, thúc đẩy chuyển đổi số trong giáo dục

và đào tạo; mở rộng cơ hội tiếp cận giáo dục cho học sinh, tạo điều kiện đểngười học được học mọi lúc, mọi nơi và bảo đảm công tác phòng chống dịch;đồng thời thực hiện tốt phương châm “tạm dừng đến trường, không dừng học”đáp ứng mục tiêu chương trình, kế hoạch công tác của năm học Vì vậy dạy họctrực tuyến đã, đang là lựa chọn phù hợp trong bối cảnh hiện nay và dần sẽ trởthành xu thế tất yếu để thích ứng với tình hình mới trong tương lai

Trong những năm trở lại đây, ngành GD&ĐT huyện Bá Thước luôn chútrọng công tác đầu tư cơ sở hạ tầng, ứng dụng công nghệ thông tin trong côngtác quản lí, dạy và học góp phần đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục và đàotạo Hiện nay tất cả các địa bàn trong huyện Bá Thước đều được phủ sónginternet cùng với chương trình “hỗ trợ máy tính cho em đến trường” giúp choviệc ứng dụng công nghệ thông tin trở nên thuận lợi hơn.Vì vậy việc ứng dụngcông nghệ thông tin của đội ngũ cán bộ, giáo viên trong địa bàn huyện BáThước nói chung và trường THCS Ái Thượng riêng càng trở nên phổ biến

Để đáp ứng nhu cầu cho việc học tập của học sinh trong thời kì công nghệthông tin và thúc đẩy tinh thần tự học, tự sáng tạo của giáo viên trong phong tràođổi mới phương pháp giáo dục, đổi mới hình thức dạy học cho học sinh phù hợpvới tình hình thực tế của thời đại thì kĩ năng xây dựng bài giảng điện tử E-learning trong trường học được coi là một giải pháp cần thiết, bởi một bài giảngE-learning bao gồm bài trình chiếu kết hợp âm thanh lời giảng của giáo viêncùng với hệ thống các câu hỏi và bài tập tương tác thì người học có thể tự học tạinhà mà vẫn có cảm giác như đang trên một lớp học thật sự bởi người học vẫn cóthể nghe thầy cô giảng, vẫn được thầy cô hướng dẫn làm bài tập, vẫn được giaobài, vẫn có thể nạp bài và trình bày ý kiến của mình mà không cần giáo viêntrực tiếp giảng dạy và hướng dẫn; hơn nữa người học có thể theo dõi lại bàigiảng khi cần thiết do đó có thể tự chủ khung thời gian học tập của mình

Bộ môn Hóa học là một môn khoa học thực nghiệm, gắn liền với cácvideo thí nghiệm, các hình ảnh, tư liệu liên hệ thực tế Do vậy việc ứng dụngcông nghệ thông tin trong giảng dạy bộ môn Hóa học càng trở nên cần thiết

Trang 3

Xuất phát từ những lý do trên cùng với mong muốn góp phần vào việcnâng cao ý thức tự học và cải thiện chất lượng bộ môn trong tình hình dịch bệnhkéo dài đồng thời nhằm đưa ra cách nhìn nhận đúng đắn về việc ứng dụng côngnghệ thông tin hiệu quả, tránh lạm dụng công nghệ thông tin từ việc “đọc chép”

sang “nhìn, chép”, bản thân tôi xin trình bày một số quan điểm, sáng kiến “Sử dụng bài giảng E-learning nhằm tăng hiệu quả tương tác của học sinh trường THCS Ái Thượng trong bài 19, hóa học 8 – Chuyển đổi giữa khối lượng, thể tích

và lượng chất”

1.2 Mục đích nghiên cứu:

Thích ứng trong các hoàn cảnh học tập và tạo ra các điều kiện để ngườihọc có thể tự học ở các thời điểm khác nhau, không bị ràng buộc về không gian,thời gian cũng như mọi hoàn cảnh khác nhau (tự học ở nhà vẫn đảm bảo nộidung bài học, tự học mọi lúc, mọi nơi) Do vậy rất phù hợp với tình hình dịchbệnh như hiện nay

Đảm bảo nội dung kiến thức cho học sinh từ lý thuyết đến liên hệ thực tế,bài tập vận dụng nhằm khắc sâu kiến thức bài học và tăng khả năng vận dụng

Tăng tính năng động, sáng tạo, tự học, tự đánh giá, tự rèn luyện cho họcsinh trong nhiều hoàn cảnh khác nhau

Tăng cường khả năng sử dụng công nghệ thông tin Phát huy tính tư duy,tạo thói quen độc lập, chủ động và sự sáng tạo của học sinh lôi cuốn các em vàokiến thức của bài học

1.3 Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống bài giảng điện tử tương tác trong giảngdạy bộ môn Hóa học tại trường THCS

Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu, xây dựng bài giảng E-learning trong tiết

27 – bài 19: Chuyển đổi giữa khối lượng, thể tích và lượng chất (tiết 1) áp dụng

tại trường THCS Ái Thượng

1.4 Phương pháp nghiên cứu:

1.4.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu:

1.4.2 Phương pháp quan sát:

1.4.3 Phương pháp điều tra và thực nghiệm:

- Dùng hệ thông câu hỏi và phiếu điều tra

- Trao đổi với đồng nghiệp, phụ huynh và học sinh

- Thông qua thực nghiệm đánh giá hiệu quả và tính khả thi của việc sửdụng bài giảng E-learning trong dạy và học

1.4.4 Phương pháp tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm

2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN 2.1 Cơ sở lý luận:

2.1.1 Khái niệm E-learning:

E-learning (viết tắt của Electronic learning) là một hình thức giáo dục,học tập dựa trên sự kết nối của internet Người dạy và người học đều có thểtham gia học và đào tạo trên hệ thống E-learning bằng máy tính, máy tính bảnghoặc điện thoại thông minh có kết nối internet Thông qua nền tảng E-learning,người dạy có thể trực tiếp giảng dạy cho người học hoặc gửi, lưu trữ những bài

Trang 4

giảng, dữ liệu bài học trên hệ thống bằng các hình ảnh, video, âm thanh Và họcviên có thể theo dõi nhiều bài giảng theo phương thức online, trao đổi với giáoviên - học viên khác hoặc tạo chủ đề thảo luận trong nhóm, thực hiện các bàikiểm tra, các câu hỏi tương tác, câu hỏi khảo sát…

Nói tóm lại: E-learning là một hình thức học tập và đào tạo từ xa dựa trên các thiết bị công nghệ hiện đại và có kết nối Internet

So với phương pháp đào tạo và học tập truyền thống thì giáo dục qua learning có thể truyền đạt bài giảng, kiến thức thông qua nhiều phương tiện tiệních, giúp người học tiếp thu kiến thức mọi lúc, mọi nơi mà không cần phải đếnlớp học trực tiếp

E-E-learning đang được sử dụng rộng rãi, rất nhiều nước trên thế giới đã vàđang phát triển phương thức học tập này và có xu hướng phát triển nhanh chóngtrong tương lai gần bởi dạy học trực tuyến phù hợp với tình hình thực tế hiệnnay; Hơn nữa dễ dàng nhận thấy dạy học trực tuyến có nhiều ưu điểm như:

- Tăng tính chủ động cho người học: Dạy học trực tuyến giúp người họcchủ động hơn trong việc lựa chọn môn học, hình thức học, thời gian học tập, địađiểm học

- Đa dạng các chương trình đào tạo: Bên cạnh chương trình đào tạo bắtbuộc trong trường học, người học có thể lựa chọn được nhiều môn học kháctheo sở thích hoặc để rèn luyện thêm kỹ năng

- Tiết kiệm chi phí và thời gian: Các cơ sở đào tạo tiết kiệm được chi phícho việc xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị, thuê giáo viên… Các khóa họctrực tuyến có chi phí không lớn nên phù hợp với cả những người học không dư

dả về tài chính

- Tăng kết nối với nhiều học viên và giáo viên trên thế giới: Ví dụ nhưtrong nền tảng học Coursera có phần thảo luận Các thành viên trong cùng 1khóa học có thể đưa ra các vấn đề và cùng thảo luận Điều này giúp người dạy

và người học từ nhiều quốc gia có thể tương tác với nhau

- Được cấp nhiều chứng chỉ có giá trị từ các trường đại học nổi tiếng trênthế giới Điều này sẽ tạo thêm cơ hội thăng tiến trong sự nghiệp cho người họchơn

2.1.2 Khái niệm tương tác:

Tương tác là sự tác động qua lại giữa các chủ thể hành động, các thànhphần trong một hệ thống hoặc giữa các hệ thống với nhau Với mỗi chuyên ngànhkhác nhau thì khái niệm tương tác cũng có cách lí giải khác nhau

Quá trình dạy học bao gồm nhiều thành phần khác nhau, mọi quá trình dạyhọc đều diễn ra các hoạt động tương tác: các thành phần, yếu tố của quá trình dạy

học có tác động qua lại, phụ thuộc lẫn nhau đó là tương tác trong dạy học

Tương tác trong dạy học có thể hiểu là sự tác động qua lại giữa các chủ thể là người dạy, người học và đối tượng dạy học cũng như toàn thể các thành phần của quá trình dạy học.

Tương tác không chỉ là cách thức của các mối quan hệ mà còn trở thànhmục tiêu dạy học Tùy theo mục tiêu, nội dung và điều kiện dạy học có thể ápdụng dạy học tương tác ở những mức độ phù hợp để tổ chức tối ưu các hoạtđộng tương tác

Trang 5

2.1.3 Đặc điểm của bài học:

Bài 19, hóa học 8: “Chuyển đổi giữa khối lượng, thể tích và lượng chất”

là một bài học có nhiều công thức gắn liền với kiến thức toán học và đòi hỏingười học phải được tương tác để áp dụng các công thức và tính toán các số liệuliên quan Từ đó vận dụng kiến thức vào thực tiễn

Tuy nhiên với thời lượng một tiết dạy thì thời gian để học sinh được vậndụng không nhiều, chưa kể đến việc giáo viên muốn lồng ghép để tích hợp cáckiến thức thực tế là điều khó thực hiện

Vì vậy với bài giảng E-learning, học sinh được chủ động thời gian để thựchiện các câu hỏi tương tác trong nhiều lần, học sinh có thể kiểm tra ngay kết quảcủa mình Ngoài ra, thông qua các hình ảnh thiết thực của bài giảng, các gói câuhỏi tương tác có thể dễ dàng liên hệ thực tế ngay trong quá trình tự học, tựnghiên cứu giúp người học thay đổi loại hình hoạt động trong giờ học, làm chogiờ học bớt căng thẳng, gây hứng thú, tạo cảm giác thoải mái, dễ chịu trong họctập Học sinh tiếp thu kiến thức nhẹ nhàng, ham học và yêu thích bộ môn đồngthời kích thính sự tìm tòi, tạo cơ hội để học sinh tự thể hiện mình Thông qua đóhọc sinh vận dụng kiến thức năng nổ, hoạt bát, kích thích trí tưởng tượng, trínhớ Từ đó phát triển tư duy mềm dẻo, học tập cách xử lý thông minh trongnhững tình huống phức tạp; tăng cường khả năng vận dụng trong cuộc sống để

dễ dàng thích nghi với điều kiện mới của xã hội

2.2 Thực trạng:

Chỉ thị 58-CT/TW của bộ chính trị ngày 7 tháng 10 năm 2000 về việc đẩymạnh ứng dụng CNTT phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đãchỉ rõ trọng tâm của ngành giáo dục và đào tạo là đào tạo nguồn nhân lực vềCNTT và đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong công tác giáo dục và đào tạo Dovậy, hiện nay các cơ sở giáo dục đã và đang tăng cường ứng dụng CNTT tronggiảng dạy

Trên địa bàn huyện Bá Thước nói chung và tại trường THCS Ái Thượng,hầu hết các GV ở các môn đã và đang ứng dụng CNTT vào giảng dạy Tuy nhiênviệc ứng dụng CNTT chỉ dừng ở việc trình chiếu PowerPoint trực tiếp trên lớp

Trong hai năm trở lại đây, sự bùng phát của dịch covid-19 đã có nhiều địaphương trong nhiều khoảng thời gian học sinh không thể đến trường, nhiều cơ

sở giáo dục phải đóng cửa thì nhiều cơ sở giáo dục trên toàn quốc đã chuyểnsang hình thức dạy học trực tuyến

Với địa bàn huyện Bá Thước, trong tình hình học sinh phải nghỉ ở nhà vìdịch bệnh thì đa phần các giáo viên ở các môn học giúp học sinh ôn tập kiếnthức bằng cách giao bài tập trên nhóm zalo hoặc in bài tập giao trực tiếp về cácthôn bản để chuyển đến tận tay học sinh Với cách làm này theo tôi chỉ là giảipháp tình thế, tốn thời gian và kém hiệu quả

Thực trạng cho thấy với đặc thù của địa bàn miền núi như huyện BáThước, việc sắm cho con 1 máy vi tính tính để học thì rất khó nhưng thay thếbằng điện thoại thông minh thì hoàn toàn có thể thực hiện được bởi hiện nay tất

cả các gia đình đều đã và đang có ít nhất 1 máy điện thoại thông minh được kếtnối mạng internet Tuy nhiên, việc học trực tuyến qua zoom hoặc google meetthì lại không khả thi bởi lẽ với điều kiện kinh tế khó khăn, bố mẹ đều phải đi

Trang 6

làm cả ngày thường phải mang theo điện thoại đi làm do đó học sinh không cóđiện thoại để tham gia lớp học; hoặc nếu để điện thoại ở nhà thì phụ huynhkhông yên tâm vì không quản lí được việc học của học sinh, các em có thể dùngđiện thoại để sử dụng vào những mục đích không đúng đắn Ngoài ra việc họctheo các hình thức này cũng đem lại khá nhiều phiền phức như cả giáo viên vàhọc sinh đều mệt mỏi vì phải ngồi trước máy tính, điện thoại cả buổi, thậm chí

cả ngày; không chủ động được thời gian học tập; thêm nữa giáo viên phải quản

lí lớp học với rất nhiều học sinh từ xa, trong khi với thời lượng một tiết học thì

GV không thể đòi hỏi tất cả HS đều tương tác với tất cả các nội dung của tiếthọc Do đó, HS rất dễ đối phó bằng cách tham gia lớp học chỉ để điểm danh màkhông có hứng thú thật sự với kiến thức của bài học Dẫn tới việc tiếp thu kiếnthức diễn ra một cách thụ động, hạn chế khả năng tư duy, sáng tạo, tầm nhìn,tầm hiểu biết kiến thức khoa học, các em rất nhanh quên kiến thức Điều đó ảnhhưởng không nhỏ tới việc nâng cao hiệu quả bài dạy, chưa phát huy được tínhtích cực chủ động sáng tạo của học sinh, học sinh không có động cơ học tậpđúng đắn, kiến thức thực tế còn nhiều thiếu xót

Năm 2020 khi cả nước phong tỏa vì dịch covid-19, các trường học trongtoàn quốc không giảng dạy trực tiếp thì bản thân tôi cũng đã áp dụng hình thức

in, giao bài tập đến tận nhà cho học sinh và kết hợp dạy học qua zoom Tuynhiên, qua kết quả thực tế và khảo sát ý kiến của 52 HS lớp 8 về hai hình thứcnày thì tôi thật sự băn khoăn về những số liệu thống kê được Cụ thể:

Đối với hình thức in và giao bài về nhà: Có tới 45/52 học sinh (tươngđương 86,5%) không quan tâm đến những bài tập cô giao hoặc không làm được,5/52 học sinh (tương đương 9,6%) có thực hiện bài tập nhưng chỉ là đối phó

Đối với hình thức học qua zoom thì có tới 39/52 học sinh (tương đương75%) không tham gia đầy đủ lớp học, số tham gia lớp học thì có tới 76,9% họcsinh thừa nhận là có làm việc riêng khi đang trong lớp học trực tuyến Bên cạnh

đó có 84,6% không ôn bài cũ hay xem bài trước, 69,2% học sinh từng nhắn tinhay chat để bàn luận về hình ảnh thầy cô và 76,9% dùng ngôn ngữ, ký hiệu mật

để trao đổi trong lớp học

Sau 2 tuần áp dụng 2 hình thức trên, tôi yêu cầu 52 HS trên thực hiện bàikiểm tra khảo sát Kết quả khảo sát như sau:

Trước những số liệu báo động trên, bản thân tôi thật sự băn khoăn, lolắng Vì vậy, tôi luôn trăn trở để tìm ra những hướng đi, cách giải quyết vấn đềsao cho hiệu quả Trong sáng kiến này tôi xin trình bày những kinh nghiệm củabản thân trong quá trình dạy học trực tuyến bằng bài giảng E-learning, nhằmnâng cao tính tương tác của học sinh với bài học trong bộ môn Hoá học 8

2.3 Nội dung, biện pháp thực hiện để giải quyết vấn đề:

2.3.1 Giải pháp thực hiện:

Dù dạy học trực tiếp hay trực tuyến để nâng cao chất lượng, hiệu quả môn

Trang 7

học thì bản thân giáo viên phải có sự đầu tư để lựa chọn nội dung, phương phápphù hợp Đồng thời thường xuyên củng cố, kiểm tra kiến thức giúp các em ghinhớ bài học tốt hơn và để đánh giá kịp thời khả năng nhận thức của học sinh, từ

đó để kịp thời điều chỉnh

2.3.2 Biện pháp thực hiện:

2.3.2.1 Một số lưu ý khi thiết kế bài giảng E-learning:

Khi thiết kế bài giảng E-learning, để đạt được hiệu quả cao thì giáo viêncần tuân thủ một số quy định trong trình bày bài giảng như:

- Ngoài các slide giới thiệu và kiểm tra còn tất cả các slide đều đồng nhất

để người học tập trung vào nội dung học tập

- Màu sắc các slide đơn giản, dễ quan sát không lòe loẹt và không rối mắtngười học

- Chữ trình bày rõ ràng, dễ quan sát

- File ghi âm rõ ràng; diễn đạt nội dung ngắn gọn, trọng tâm

- Nội dung bài giảng theo chuẩn kiến thức, kĩ năng của bộ môn

- Mỗi bài tập đều có thống kê kết quả và nút lệnh kiểm tra kết quả đểngười học đối chiếu xem mình đã hoàn thành nội dung gì và chưa hoàn thànhnội dung gì

2.3.2.2 Nội dung, mục tiêu và ý tưởng thiết kế:

STT/

Tên silde

tưởng thiết kế Silde 1:

Giới

thiệu

Trang mở đầugiới thiệu nhữngthông tin liênquan đến tên bàigiảng và giáo viênkết hợp với âmthanh nhạc nền

có những địnhhướng nhất định

về những nhiệm

vụ mà mình sẽthực hiện trongtiết học

Trang 8

HS bắt buộc phảitương tác để đưa

vụ mà mình sẽthực hiện trongbài học

mol (đã được nhắc lại ở phần bài cũ)

Trang 9

Bằng việc tự xâydựng công thứctính sẽ giúp HSnhớ lâu, hiểu vàvận dụng côngthức tốt hơn.

Trên cơ sở công thức đã xây dựng, HS vận dụng để giải quyết các ví dụ liên quan.

Bằng việc tự phân tích dữ kiện đề bài kết hợp kiến thức của bản thân, HS tự giải để tìm ra kết quả Từ đó góp phần phát triển khả năng tư duy, phát huy tính

tự giác.

Tiếp đó, bằng việc theo dõi GV phân tích và đối chiếu với kết quả của GV thì góp phần khắc sâu công thức và vận dụng công thức tốt hơn đồng thời phát huy được kĩ năng tự đánh giá của người học.

tự phân tích vàgiải ví dụ 1 Sau đó theo dõi

GV hướng dẫnphân tích ví dụ,đối chiếu với kếtquả của GV và tựđánh giá

ví dụ 2

Sau đó theo dõi

GV hướng dẫnphân tích ví dụ,đối chiếu với kếtquả của GV và tựđánh giá

Trang 10

đến CTHH (đã học ở kì I) để

phân tích và giải

ví dụ 3

Sau đó theo dõi

GV hướng dẫnphân tích ví dụ,đối chiếu với kếtquả của GV và tựđánh giá

Kết thúc ví dụ 3, sau khi tìm ra CTHH và biết tên gọi của khí A HS được tìm hiểu các kiến thức thực tế liên quan đến khí Cacbonic.

Học sinh được tham gia các câu hỏi tương tác có kiến thức liên quan đến những hiểu biết thực tế và kiến thức liên môn Qua đó HS được đưa ra các quan điểm, nhận định của mình dựa trên những kiến thức đã học và hiểu biết thực tế của bản thân Sau mỗi câu hỏi tương tác là phần GV cung cấp thêm kiến thức cho HS giúp các em tự đánh giá lại câu trả lời của mình và bổ sung phần kiến thức còn thiếu sót của bản thân

Thông qua hoạt động này góp phần phát huy tính tư duy, tạo thói quen độc lập, chủ động, sáng tạo của học sinh, lôi cuốn các em vào những hoạt động học tập đồng thời tạo cho HS thói quen và tăng cường khả năng vận dụng kiến thức

để giải quyết các vấn đề thực tiễn

Đặc biệt với việc lồng ghép các kiến thức về môi trường trong bài học giúp HS nhận thấy được sự tác động mạnh mẽ của con người đến môi trường, từ

đó giáo dục ý thức, trách nhiệm của bản thân HS với vấn đề bảo vệ môi trường,

sử dụng năng lượng tiết kiệm, an toàn và hiệu quả góp phần vào việc phát triển bền vững.

HS liên hệ đếnnhững hiểu biếtcủa bản thân đểlựa chọn đáp ánđúng bằng cáchtích vào ô vuôngđứng trước nhữnglựa chọn đúng

Ngày đăng: 09/06/2022, 22:34

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w