1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(SKKN 2022) một số giải pháp giúp học sinh làm tốt bài văn nghị luận xã hội trong chương trình ngữ văn 9 ở trường THTHCS nga văn

23 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 406,03 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Rèn luyện văn nghị luận xã hội giúp học sinh không chỉ hoàn thiện kĩ năng trình bày quan điểm của mình, mà còn cung cấp tri thức vô cùng phong phú về những vấn đề xã hội.. Học sin

Trang 1

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 3 2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề 5 2.3.1 Hướng dẫn học sinh phân biệt các dạng bài nghị luận xã hội 5 2.3.2 Khắc sâu kiến thức lí thuyết về cách làm bài văn nghị luận xã

2.3.5 Hướng dẫn học sinh viết đoạn văn nghị luận xã hội theo cấu

2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo

dục, với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường 17

Trang 2

1 Mở đầu

1.1 Lí do chọn đề tài

Trong những năm gần đây kiểu bài văn nghị luận xã hội đã được chú trọng trong các nhà trường trung học Bởi văn nghị luận xã hội đã trở thành tiêu chí đánh giá đối với học sinh không chỉ trong những bài kiểm tra định kì, thi học sinh giỏi các cấp, thi vào lớp 10 và ngay cả thi tốt nghiệp THPT rồi đến kì thi Đại học Sự chuyển biến này là cơ hội và cũng là thách thức đối với học sinh Một thời gian khá dài, làm văn trong nhà trường chỉ tập trung vào nghị luận văn học khiến cho học sinh cảm thấy văn chương xa rời thực tế cuộc sống Rèn luyện văn nghị luận xã hội giúp học sinh không chỉ hoàn thiện kĩ năng trình bày quan điểm của mình, mà còn cung cấp tri thức vô cùng phong phú về những vấn

đề xã hội Thế nhưng thách thức đặt ra đối với học sinh và giáo viên cũng không phải là nhỏ Học sinh quá quen với tư duy văn học, kiến thức về xã hội còn hạn chế, tài liệu tham khảo nghị luận xã hội không nhiều, kĩ năng làm bài chưa thuần thục, dung lượng một bài không được quá dài, chỉ được viết trong một thời gian ngắn về một vấn đề trong cuộc sống chứ không phải cố định ở một văn bản trong sách giáo khoa Đặc biệt, khi làm bài văn nghị luận xã hội, học sinh còn phải huy động năng lực quan sát, trí nhớ, vốn sống và khả năng tư duy của mình

để nội dung bài làm có được những nét tinh tế, những vẻ sinh động và phong cách riêng Tất cả những điều đó tạo nên áp lực, gây khó khăn cho học sinh Trong những năm qua, bản thân tôi luôn được phân công giảng dạy môn Ngữ văn 9, tôi luôn có ý thức trong việc giảng dạy, đặc biệt đã chú trọng rèn luyện cho học sinh kĩ năng làm bài nghị luận nói chung và bài văn nghị luận xã hội nói riêng, vì đây là một vấn đề đang được xem là khó

Xuất phát từ tầm quan trọng và thực trạng của việc làm bài nghị luận xã hội ở trường THCS hiện nay, để tạo tiền đề cho việc học và làm văn của các em ở các bậc học tiếp theo Tôi thấy cần phải tìm tòi, nghiên cứu để tìm ra giải pháp

để giúp học sinh làm tốt bài văn nghị luận xã hội Chính vì lí do đó mà tôi đã

chọn đề tài: Một số giải pháp giúp học sinh làm tốt bài văn nghị luận xã hội trong chương trình Ngữ văn 9 ở Trường TH&THCS Nga Văn Nhằm trao đổi

với đồng nghiệp một vài kinh nghiệm, qua đó giúp cho học sinh lớp 9 nắm vững hơn phương pháp làm kiểu bài này, với mong muốn nâng cao chất lượng bài thi,

bài kiểm tra và kết quả học tập của các em

1.2 Mục đích nghiên cứu

Mục đích của việc nghiên cứu đề tài này là giúp cho học sinh khối 9 ở trường TH & THCS Nga Văn nắm vững phương pháp và kĩ năng cơ bản để làm bài nghị luận xã hội trong các bài kiểm tra định kì, trong kì thi vào lớp 10 THPT Đồng thời thông qua quá trình rèn luyện viết bài nghị luận xã hội giúp học sinh biết cách và mạnh dạn hơn khi trình bày quan điểm của mình trước một vấn đề xã hội nào đó Từ đó, các em sẽ hình thành được kĩ năng sống tốt hơn và ngày càng hoàn thiện nhân cách của mình

Trang 3

1.3 Đối tượng nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu đề tài tôi đã lựa chọn đối tượng học sinh để áp dụng là học sinh khối 9 năm học 2021 – 2022 ở Trường TH & THCS Nga Văn nhằm đạt được hiệu quả cao trong kì thi vào lớp 10 THPT

1.4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp sưu tầm tài liệu

- Phương pháp thống kê, xử lí số liệu

- Phương pháp phân tích, tổng hợp

- Phương pháp thực nghiệm trên lớp

2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm

2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm

Trước hết, chúng ta cần làm rõ khái niệm nghị luận xã hội Nghị luận là

dùng lập luận để phân tích ý nghĩa, phải trái, đúng sai, bàn bạc, mở rộng vấn đề

Còn xã hội là một tập thể người cùng sống, gắn bó với nhau trong qua hệ sản

xuất và các quan hệ khác Cũng có thể hiểu xã hội là những gì thuộc về quan hệ giữa người và người về các mặt tư tưởng, đạo đức, lối sống, chính trị, kinh tế, triết học, lịch sử, văn học…Từ đó, có thể hiểu nghị luận xã hội là kiểu văn bản hướng tới phân tích, bàn bạc, đánh giá các vấn đề liên quan đến con người, đến

xã hội, đến các mối quan hệ của cong người trong đời sống Mục đích cuối cùng của nó là đưa ra một cách hiểu thấu đáo về vấn đề nghị luận, tạo những tác động tích cực đến con người và những mối qua hệ giữa người với người trong xã hội

Văn nghị luận được ra đời từ rất lâu Ở Trung Hoa văn nghị luận có từ thời Khổng Tử Ở nước ta văn nghị luận cũng là một thể loại có truyền thống lâu đời, có giá trị và tác dụng hết sức to lớn trong trường kì lịch sử của công cuộc dựng nước và giữ nước Những tác phẩm nổi tiếng thời kì lúc bấy giờ như:

Chiếu dời đô của Lí Công Uẩn, Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi, Hịch tướng

sĩ của Trần Quốc Tuấn, Chiếu cầu hiền của Nguyễn Trường Tộ…Đặc biệt thế kỉ

XX, văn nghị luận phát triển hơn bao giờ hết Hàng loạt tên tuổi của các nhà chính luận xuất sắc với những áng văn nghị luận bất hủ mà tiêu biểu nhất là Chủ

tịch Hồ Chí Minh với bản Tuyên ngôn Độc lập - Tự do - Hạnh phúc và biết bao

các nhà văn nghị luận nổi tiếng sau này: Hoài Thanh, Xuân Diệu, Đặng Thai Mai…

Văn nghị luận là loại văn viết ra để phát biểu ý kiến,bày tỏ nhận thức đánh giá, thái độ đối với cuộc sống bằng những luận điểm, lí lẽ, dẫn chứng Nếu tác phẩm văn học nghệ thuật bày tỏ thái độ bằng những hình tượng nghệ thuật gợi cảm thì văn nghị luận diễn đạt bằng những mệnh đề, những phán đoán logic thuyết phục Từ những điều nói trên, có thể nêu khái niệm về văn nghị luận như sau: Văn nghị luận là loại văn trong đó người nói (người viết) đưa ra những lí lẽ, dẫn chứng về một vấn đề nào đó và thông qua cách thức bàn luận thuyết phục được người nghe

Văn nghị luận được xây dựng trên cơ sở của tư duy lôgic Nhiệm vụ của văn nghị luận là phát biểu dưới hình thức các luận điểm Luận điểm là linh hồn của bài viết Luận điểm đúng đắn, chân thực, đáp ứng nhu cầu thực tế thì mới có sức thuyết phục Trong văn nghị luận, mỗi đoạn văn có một kết cấu riêng, chúng

Trang 4

thường có những mô hình cấu trúc như: diễn dịch, quy nạp, tổng hợp… Sức thuyết phục của một bài văn nghị luận trước hết toát ra từ một nội dung tư tưởng sâu sắc, từ hệ thống lí lẽ và luận chứng phong phú, xác đáng Nhưng nếu nội dung phong phú mà kết cấu không chặt chẽ thì cũng không thể thuyết phục được người đọc Vì thế, khi làm văn nghị luận cần đáp ứng cả hai mặt nội dung và hình thức

2.2.Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm

2.2.1.Thực trạng chung

Thực trạng học và làm bài văn nghị luận xã hội đang là một vấn đề được quan tâm trong các trường Trung học nói chung và trường TH&THCS Nga Văn nói riêng Theo thống kê và theo dõi kết quả thi học kì, thi học sinh giỏi, thi vào THPT của mấy năm gần đây thì chất lượng làm bài môn Ngữ văn của học sinh

đã có sự tiến bộ rõ rệt Tuy nhiên phần điểm bị trừ trong bài lại rơi vào phần văn nghị luận xã hội Nguyên nhân chính là do cách diễn đạt của các em chưa được tốt Các ý còn chung chung, chưa cụ thể và rõ ràng, kiểu nghị luận này yêu cầu học sinh phải vận dụng kiến thức thực tế thì các em lại chưa có Nhiều em còn mắc các lỗi về dùng từ, diễn đạt có em còn xác định sai đề, dẫn đến sai kiến thức cơ bản do suy diễn cảm tính, suy luận chủ quan hoặc tái hiện quá máy móc dập khuôn trong tài liệu, thậm chí có chỗ “râu ông nọ cắm cằm bà kia” nhầm nghị luận về tư tưởng đạo lí sang nghị luận về sự việc hiện tượng đời sống

Thực tế cho thấy: làm văn nghị luận rất khó, đòi hỏi người viết phải trình bày lập luận sao cho ý kiến của mình thuyết phục và phải có kiến thức về các vấn đề xã hội, quan sát đời sống, tìm những dẫn chứng thực tế để minh họa Trong khi đó làm văn nghị luận văn học dễ dàng hơn vì học sinh có thể dựa vào bài giảng của giáo viên trên lớp để phát triển thành bài văn Nhiều học sinh có kiến thức, có năng lực cảm thụ văn chương, có sự hiểu biết về xã hội nhưng khi làm bài văn, nhất là văn nghị luận xã hội lại rất lúng túng Bài viết mắc nhiều sai sót, không phản ánh đúng năng lực thực sự của học sinh

Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là học sinh còn yếu

cả về kĩ năng lẫn phương pháp làm bài Vì thế, dạy văn nghị luận nói riêng, đặc biệt là dạy làm bài văn nghị luận xã hội là phải rèn những kĩ năng làm bài, định hình được cho học sinh những thao tác tư duy cần thiết để giúp các em làm tốt bài văn

Như chúng ta đã biết trong cấu trúc đề thi định kì, học sinh giỏi cấp huyện, cấp tỉnh, hay thi vào THPT môn Ngữ văn những năm gần đây đều có câu hỏi, yêu cầu học sinh vận dụng kiến thức xã hội và đời sống để viết đoạn nghị luận xã hội ngắn khoảng 200 chữ (hoặc 2/3 trang giấy thi) Học sinh phải biết bám sát vào quy định trên để định hướng ôn tập và làm bài thi cho hiệu quả Ở kiểu bài nghị luận xã hội, học sinh qua những trải nghiệm của bản thân, trình bày những hiểu biết, ý kiến, quan niệm, cách đánh giá, thái độ của mình về các vấn đề xã hội, từ đó rút ra được bài học (nhận thức và hành động) cho bản thân

Để làm tốt khâu này, học sinh không chỉ biết vận dụng những thao tác cơ bản của bài văn nghị luận (như giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận, so sánh, bác bỏ ) mà còn phải biết trang bị cho mình kiến thức về đời sống xã hội Bài

Trang 5

văn nghị luận xã hội nhất thiết phải có dẫn chứng thực tế Cần tránh tình trạng hoặc không có dẫn chứng hoặc lạm dụng dẫn chứng mà bỏ qua các bước đi khác của quá trình lập luận

Mặt khác với kiểu bài nghị luận xã hội, học sinh cần làm rõ vấn đề nghị luận, sau đó mới đi vào đánh giá, bình luận, rút ra bài học cho bản thân Thực tế cho thấy nhiều học sinh mới chỉ dừng lại ở việc làm rõ vấn đề nghị luận mà coi nhẹ khâu thứ hai, vẫn coi là phần trọng tâm của bài nghị luận Vì những yêu cầu trên mà việc rèn luyện giúp cho học sinh có kĩ năng làm tốt một bài văn nghị luận xã hội là một việc làm rất cần thiết

2.2.2 Thực trạng giáo viên

Mặc dù trong những năm gần đây, hầu hết giáo viên đã nắm chắc được cấu trúc của các đề thi định kì, đề học sinh giỏi và thi vào lớp 10, một phần không thể thiếu là câu hỏi liên quan đến kiểu bài nghị luận xã hội, thế nhưng một số giáo viên vẫn cho rằng câu hỏi chỉ chiếm tỉ lệ điểm trong bài khoảng 20% số điểm nên chưa tập trung nhiều để hướng dẫn học sinh, khiến kiến thức

cơ bản học sinh nắm chàng màng Tư tưởng học sinh làm bài lại chỉ chăm chú đến phần nghị luận văn học mà không nghĩ rằng đây là phần dễ đạt điểm tối đa Hơn nữa lâu nay có khá nhiều thầy cô cứ nghĩ rằng văn hay là câu chữ phải “bay bổng”, phải “lung linh”, nghĩa là dùng cho nhiều phép tu từ, nhiều từ “sang”, nhiều thuật ngữ “oách” mà quên rằng văn hay là sự chân thực, sự giản dị Bên cạnh đó vẫn còn một số giáo viên vẫn còn lúng túng trong cách dạy, nhất là chưa

có những tìm tòi, nghiên cứu sâu dể tìm ra phương pháp dạy phù hợp với bài văn nghị luận xã hội

2.2.3 Thực trạng học sinh

Trong những năm gần đây học sinh không hứng thú muốn học môn Ngữ văn, nhất là ngại làm những bài văn Có lẽ ngoài nguyên nhân khách quan từ xã hội, thì một phần cũng do làm văn khó, lại mất nhiều thời gian, “công thức” làm văn cho các em lại không hình thành cụ thể Các em không phân biệt rõ các thao tác nghị luận chính mà mình sử dụng Kĩ năng tạo lập văn bản của học sinh ở trường TH&THCS Nga văn còn kém nhiều và rất hiếm có những bài nghị luận

có được sức hấp dẫn, thuyết phục bởi cách lập luận rõ ràng, chính xác, đầy đủ và chặt chẽ từng luận điểm, luận cứ Bài viết của các em khi thì sai về yêu cầu thao tác nghị luận, khi lại không sát, không đúng với nội dung nghị luận của đề bài Mặt khác đối với bài nghị luận xã hội dung lượng quy định (chỉ khoảng 200 chữ hoặc hai phần ba trang giấy thi) nhiều học sinh vẫn chưa căn được, cứ thế phóng bút viết thậm chí hết nhiều thời gian mà bài lại không cô đọng, súc tích Một điều nữa mà ta dễ dàng nhận thấy khi dạy kiểu bài này các em đều quan niệm là bài văn “khô khan” nên bài viết chưa có sức hút, chưa lay động được tâm hồn người đọc Ở bất cứ thể văn nào, khô khan hay hấp hẫn là ở chất lượng Mà chất lượng một bài văn phụ thuộc vào cảm hứng, kiến thức và các yếu tố có tính kĩ thuật như: Cách lập luận, dùng từ, câu Ngoài ra, nhiều em còn thờ ơ với các thông tin nóng hổi, những vấn đề cấp bách được cả xã hội quan tâm…Điều này, khiến giáo viên gặp nhiều khó khăn trong việc giảng dạy văn nghị luận xã hội

Trang 6

Chính những thực tế trên đã ảnh hưởng đến việc học tập cũng như việc làm bài văn nghị luận xã hội Đồng thời cũng ảnh hưởng đến chất lượng thi vào THPT của học sinh

Trong quá trình giảng dạy qua các bài khảo sát tôi đã thống kê được điểm của học sinh khi chưa áp dụng một số kinh nghiệm dạy học trong văn nghị luận xã hội như sau:

Lớp Sĩ

số

Số HS không biết cách làm bài (1- 4 điểm)

Số HS biết cách làm bài ở mức trung bình - khá

(5-7 điểm)

Số HS làm bài tốt (8-9 điểm)

2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề

2.3.1 Hướng dẫn học sinh phân biệt các dạng bài nghị luận xã hội

Nghị luận xã hội có đề tài rất rộng, bao gồm tất cả những vấn đề tư tưởng, đạo đức, lối sống, những hiện tượng tích cực, tiêu cực trong đời sống, vấn đề thiên nhiên, môi trường, vấn đề hội nhập…Tuy vậy, có thể quy về hai dạng cơ bản: Nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống và nghị luận về vấn đề một tưởng, đạo lí Đề nghị luận xã hội được quy về hai dạng trên nhưng phân chia dạng đề chỉ là tương đối vì nhiều khi giới hạn giữa hai dạng đề không rõ ràng nên học sinh khó xác định rạch ròi Việc phân biệt dạng đề trước khi tìm hiểu đề rất quan trọng, giúp học sinh nhận diện để có cách làm bài phù hợp, định hướng đúng cho bài làm, tránh sai lạc trong quá trình làm bài

2.3.1.1 Dạng bài nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống

Nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống là bàn về một sự việc, hiện tượng có ý nghĩa đối với xã hội, đáng khen, đáng chê hay có vấn đề đáng suy nghĩ; có tính bức xúc, cập nhật nóng hổi diễn ra trong đời sống hàng ngày, được

xã hội quan tâm như: học sinh nghèo vượt khó, an toàn giao thông, ô nhiễm môi trường, thực phẩm bẩn, gian lận trong thi cử, bạo lực học đường, các tệ nạn xã hội…Từ đó làm cho người đọc hiểu rõ, hiểu đúng, hiểu sâu để đồng tình hoặc bác bỏ trước những hiện tượng đó

Ví dụ một số đề như sau:

Đề 1: Việt Nam tuy điều kiện kinh tế hạn chế, cơ sở vật chất chưa phát

triển nhưng đã có nhiều học sinh đạt huy chương vàng tại các cuộc thi quốc tế

về toán, lí, ngoại ngữ…năm 2004, sinh viên Việt nam lại đạt giải vô địch cuộc thi Robocon châu Á tại Hàn Quốc Hãy viết bài văn nêu suy nghĩ của em về hiện tượng đó

Đề 2: Trình bày suy nghĩ của em về vấn đề: hiệu ứng đám đông trong giới

trẻ hiện nay

2.3.1.2 Dạng đề nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí

Nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí là bàn về một vấn đề thuộc lĩnh vực tư tưởng, đạo đức, lối sống…của con người, bao gồm các lĩnh vực: Vấn đề

Trang 7

nhận thức (lí tưởng, mục đích sống, ước mơ…); vấn đề đạo đức, tâm hồn, tính cách (lòng yêu nước, lòng nhân ái, bao dung, độ lượng, dũng cảm…); vấn đề quan hệ trong gia đình (tình mẫu tử, tình phụ tử, tình anh em…); vấn đề quan hệ

xã hội (tình yêu quê hương, tình bạn, tình thầy trò…)

Ví dụ một số đề sau:

Đề 1: Có người cho rằng: Phê phán thái độ thờ ơ, ghẻ lạnh đối với con

người cũng quan trọng và cần thiết như ca ngợi lòng vị tha, tình đoàn kết

Trình bày suy nghĩ của em về ý kiến trên?

Đề 2: Trong bài thơ Con cò, nhà thơ Chế Lan Viên viết:

Con dù lớn vẫn là con của mẹ,

Đi hết đời, lòng mẹ vẫn theo con

Câu thơ trên gợi cho em suy nghĩ gì về tình mẫu tử?

2.3.2 Khắc sâu kiến thức lí thuyết về cách làm bài văn nghị luận xã hội

Dường như khi giáo viên hỏi học sinh về các bước khi làm một bài văn nói chung và một bài văn nghị luận xã hội nói riêng các em đều định hình được:

4 bước: Tìm hiểu đề và tìm ý; Lập dàn ý; Viết bài; Đọc lại bài viết và sửa chữa Nhưng thực chất khi tiếp cận một đề tập làm văn đa phần các em không tuân thủ các bước nói trên mà lắm khi tìm một vài ý cơ bản sau đó nháp phần mở bài rồi cắm cúi viết đến khi hết bài và nộp lại bài Chính vì vậy cho nên có những bài viết sa đà, lạc đề, diễn đạt lủng củng theo kiểu nghĩ gì viết nấy, không trau chuốt, không gọt giũa…Trước tình hình đó tôi thấy rằng một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là học sinh còn yếu cả về kĩ năng lẫn phương pháp làm bài Xác định được điều này, trong khi giảng dạy tôi dành nhiều thời gian để giúp học sinh rèn kĩ năng làm bài, định hình được cho học sinh những thao tác tư duy cần thiết giúp các em làm tốt bài văn Đặc biệt tôi đã chú trọng đến một số kĩ năng sau:

* Phân tích đề: Trong quá trình làm bài học sinh thường có một nhược

điểm là: Cầm đề là viết ngay - đây là một trong những nguyên nhân làm các bài viết thấp điểm hoặc có khi lệch hướng Chính vì điều này giáo viên cần hướng dẫn học sinh đọc kĩ đề bài, sau đó phân tích đề để học sinh không mắc phải những lỗi như xa đề, lạc đề, chú ý những từ khóa của đề, rồi dựa vào Từ điển Tiếng việt để phân tích, giải thích ý của tư tưởng, vấn đề trong đề bài thật chính xác Tiếp đến các em hãy đánh gía xem quan điểm, tư tưởng, hiện tượng xã hội

đó đúng hay sai, có mặt lợi, mặt hại thế nào, từ đó mà nêu ý kiến của bản thân

có đồng tình hay không và rút ra bài học, cách giải quyết cho bản thân và xã hội

Để cho đánh giá đó thuyết phục, hướng dẫn các em cần lấy dẫn chứng thực tế xác thực trong lịch sử, trong văn học, trong đời sống thực tế Cần lưu ý cho học sinh, văn nghị luận xã hội khác với nghị luận văn học ở chỗ kiến thức thật 100%

và rất thực tế với đời sống hàn ngày Vì vậy, quan sát, đọc báo, theo dõi các phương tiện thông tin thường xuyên là bí quyết giúp các em cập nhật thông tin mới làm dẫn chứng sắc sảo cho bài viết của mình

* Tìm luận điểm: Việc xác định luận điểm hầu như học sinh biết xác

định Còn việc tìm và nêu luận cứ để làm sáng tỏ luận điểm có những đòi hỏi cao hơn vì phải tự trả lời những câu hỏi đặt ra ở luận điểm Nghĩa là việc trả lời

Trang 8

các câu hỏi mà luận điểm đưa ra chính là các luận cứ của luận điểm ấy Điều này tùy thuộc vào từng năng lực của mỗi cá nhân Tuy vậy học sinh biết xác định được những luận điểm của vấn đề, nêu được một số ý làm luận cứ, tuy chưa thật đầy đủ nhưng cũng có thể coi là đạt mức trung bình so với yêu cầu của đề ra của bài làm

* Văn phong: Cách viết văn nghị luận xã hội cần sự ngắn gọn, súc tích

nhưng vẫn phải đầy đủ ý và không được khô khan Muốn làm được điều đó học sinh cần có một dàn bài trước khi đặt bút làm bài Nếu như có những dẫn chứng hay thì nên chen vào giữa bài làm để tránh sự nhàm chán và khô khan cho bài văn Đừng nên viết quá dài và lan man không sát chủ đề, khi ấy bài văn của các

em rất dễ bị điểm kém Bên cạnh đó học sinh nên tận dụn cách viết sáng tạo, nó sẽ giúp các em đạt điểm tuyệt đối Suy luận sắc bén là yếu tố làm nên sức mạnh của bài nghị luận xã hội vì vậy mà học sinh cần chú ý xác lập ý lớn, ý nhỏ, sắp xếp các lập luận chặt chẽ, bố cục hợp lí, đảm bảo logic đồng thời kết hợp với giọng văn trôi chảy, giàu cảm xúc

* Rèn luyện kĩ năng Lập dàn bài: Đây là yếu tố then chốt của bài nghị

luận xã hội Dàn bài được lập một cách chi tiết hay sơ lược phụ thuộc vào từng hoàn cảnh cụ thể Trong quá trình học, ôn tập học sinh làm quen với việc lập dàn

ý chi tiết Còn trong khi thi, để tiết kiệm thời gian giáo viên nên hướng dẫn học sinh vạch nhanh một số ý chính để hình dung hướng đi bài viết của mình

+ Đối với kiểu bài nghị luận về một sự việc hiện tượng đời sống: Từ việc hướng dẫn học sinh nhận dạng đề bài, giáo viên rèn luyện cho các em kĩ năng lập dàn bài đại cương trước khi viết bài với cấu trúc như sau:

A Mở bài: Dẫn dắt vấn đề và nêu vấn đề (khoảng 3- 5 câu)

B Thân bài: - Giải thích các thuật ngữ

+ Đối với kiểu bài nghị luận về một tư tưởng đạo lí:

A Mở bài: Dẫn dắt vấn đề và nêu vấn đề (khoảng 3- 5 câu)

B Thân bài: - Giải thích nghĩa

- Ý nghĩa vấn đề

- Phân tích làm sáng tỏ vấn đề

- Dẫn chứng (lí lẽ trong thực tế cuộc sóng, trong văn học)

- Mở rộng vấn đề

C Kết bài: Khẳng định, liên hệ bản thân (khoảng 5 câu)

+ Đối với kiểu bài nghị luận về một vấn đề trong tác phẩm:

A Mở bài: Phát hiện ra được vấn đề trong tác phẩm.(khoảng 3- 5 câu)

B Thân bài: - Nêu cách hiểu về vấn đề

- Ý nghĩa của vấn đề

- Bài học giáo dục từ vấn đề

Trang 9

- Dẫn chứng trong thực tiễn và văn học

- Bàn luận, mở rộng vấn đề

C Kết bài: Khẳng định lại vấn đề và liên hệ bản thân

2.3.3 Hướng dẫn cách làm bài nghị luận xã hội qua một số đề bài cụ thể

Đề bài 1: Suy nghĩ của em về an toàn giao thông

* Phân tích đề:

- Tính chất của đề: Nghị luận về một hiện tượng đời sống

- Yêu cầu về nội dung: Nêu suy nghĩ của mình về tình hình giao thông hiện nay, nêu những nguyên nhân, hậu quả và biện pháp giải quyết

- Tri thức cần có: Vận dụng những tri thức trong thực tế đời sống

* Lập dàn bài:

+ Mở bài: Nêu vấn đề: Xã hội càng phát triển, nhu cầu đi lại của con

người là vô cùng cần thiết Nhưng an toàn giao thông đang là vấn đề bức xúc của toàn xã hội, những vụ tai nạn giao thông là nỗi nhức nhối cho chúng ta Vậy phải làm gì? Đây là câu hỏi lớn cho toàn xã hội

+ Thân bài:

- Thực trạng của vấn đề:

+ Trong những năm vừa qua, số vụ tai nạn giao thông đường bộ tăng lên với con số đáng giật mình (đưa số liệu)

+ Gần đây số vụ tai nạn đường không cũng ngày càng gia tang (đưa số liệu)

+ Với nhiều biện pháp, những đợt ra quân vì an toàn giao thông song số

vụ tai nạn không những không giảm bớt mà số người thiệt mạng còn tăng cao do

số tai nạn nghiêm trọng

- Nguyên nhân:

+ Nguyên nhân chủ quan từ phía người tham gia giao thông: Không chấp hành luật lệ giao thông: lạng lách, đánh võng, đi cẩu thả, không tuân thủ biển báo, không làm chủ tốc độ, sử dụng chất kích thích, đi sai đường vượt ẩu… do

sự thiếu hiểu biết và thái độ xem thường luật giao thông

+ Nguyên nhân khách quan: Hệ thống đường sá chưa đảm bảo, xuống cấp, sửa chữa thiếu quy hoạch Các biển báo trên các tuyến đường còn nhiều bất cập như: không có biển báo, biển báo chưa hợp lí, hệ thống đèn chưa đồng bộ…ảnh

to lớn đến người tham gia giao thông đôi khi còn là nguyên nhân gây tai nạn

- Hậu quả:

+ Với bản thân, gia đình người bị tai nạn: Để lại hậu quả nghiêm trọng, nhiều gia đình rơi vào cảnh con mất cha mẹ, cha mẹ mất con, trở thành gánh nặng cho gia đình Đa số những người bị tai nạn đang trong độ tuổi lao động nên trực tiếp ảnh hưởng đến kinh tế gia đình

+ Với xã hội: Số tiền chữa trị cho những vụ tai nạn trong một năm lên tới con số khổng lồ trong khi đó nước ta còn nghèo rất cần thiết đầu tư cho phát triển kinh tế và nâng cao đời sống người dân

- Biện pháp giải quyết:

+ Có khung hình phạt nghiêm khắc với những người vi phạm luật lệ giao thông

Trang 10

+ Nâng cao việc giáo dục an toàn giao thông, ý thức của người dân giữ gìn an toàn giao thông là trách nhiệm chung của tất cả mọi người

+ Đầu tư nâng cấp hệ thống đường sá, hệ thống tín hiệu

+ Tuyên truyền về an toàn giao thông với nhiều hình thức

+ Kết bài:

- An toàn giao thông là hạnh phúc của mọi người

- Trách nhiệm của học sinh

Đề bài 2: Có người cho rằng: Phê phán thái độ thờ ơ, ghẻ lạnh đối với

con người cũng quan trọng và cần thiết như ca ngợi lòng vị tha, tình đoàn kết

Trình bày suy nghĩ của em về ý kiến trên?

* Phân tích đề:

- Tính chất của đề: Nghị luận về một tư tưởng đạo lí

- Yêu cầu về nội dung: Nêu suy nghĩ của mình về thái độ chê cũng quan trọng như thái độ khen trong cuộc sống

- Tri thức cần có: Vận dụng những tri thức về đời sống

* Lập dàn bài:

+ Mở bài: Dẫn dắt và nêu vấn đề: khen chê có ý nghĩa vô cùng quan

trọng trong cuộc sống; để lòng vị tha, tình đoàn kết càng được nhân lên, mỗi người không chỉ biết ca ngợi mặt tốt đẹp, tích cực mà còn phải biết phê phán mặt xấu, tiêu cực như ý kiến đã nêu

+ Thân bài:

- Giải thích và chứng minh:

+ Thái độ thờ ơ, ghẻ lạnh là biểu hiện cách sống tiêu cực, thấp hèn, ích kỉ,

vô cảm cần được phê phán; lòng vị tha, tình đoàn kết là biểu hiện của cách sống tích cực, cao thượng, giàu lòng yêu thương cần được ngợi ca

+ Thái độ thờ ơ, ghẻ lạnh và lòng vị tha tình đoàn kết là hai mặt trái ngược của đạo đức xã hội và có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của con người, cộng đồng

- Nhận định, đánh giá: Khẳng định tầm quan trọng và sự cần thiết của

việc phê phán thái độ thờ ơ, ghẻ lạnh (không thua kém việc nêu gương, ca ngợi lòng vị tha, tình đoàn kết)

- Mở rộng vấn đề:

+Trong cuộc sống, có những con người sống nhân ái, giàu lòng vị tha nhưng cũng có những con người sống vô trách nhiệm, chỉ lo hưởng thụ, thờ ơ, lạnh nhạt

+ Cần phải có thái độ khen chê rõ ràng, đúng mức, đúng lúc, đúng nơi và phải xuất phát từ thiện tâm, thiện ý của mình

+ Kết bài:

- Khẳng định tính đúng đắn và ý nghĩa của vấn đề

- Nêu ý thức trách nhiệm của mình trong việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức

* HS có thể xây dựng hệ thống luận điểm và diễn đạt theo nhiều cách khác nhau miễn sao đáp ứng được yêu cầu của đề theo những định hướng trên

Bài tập 3: Bài học giáo dục mà em nhận được từ câu chuyện dưới đây:

Trang 11

Ngọn gió và cây sồi

Một ngọn gió dữ dội băng qua khu rừng già Nó ngạo nghễ thổi tung tất

cả các sinh vật trong rừng, cuốn phăng những đám lá, quật gẫy các cành cây

Nó muốn mọi cây cối đều phải ngã rạp trước sức mạnh của mình Riêng một cây sồi già vẫn đứng hiên ngang, không bị khuất phục trước ngọn gió hung hăng Như bị thách thức ngọn gió lồng lộn, điên cuồng lật tung khu rừng một lần nữa Cây sồi vẫn bám chặt đất, im lặng chịu đựng cơn giận giữ dội của ngọn gió và

không hề ngục ngã Ngọn gió mỏi mệt đành đầu hàng và hỏi:

- Cây sồi kia! Làm sao ngươi có thể đứng vững vàng như thế?

Cây sồi từ tốn trả lơi:

- Tôi biết sức mạnh của ông có thể bẻ gẫy hết các nhánh cây của tôi, cuốn sạch đám lá của tôi và làm thân tôi lay động Nhưng ông sẽ không bao giờ quật ngã được tôi Bởi tôi có những nhánh rễ vươn dài, bám sâu vào lòng đất Đó chính là sức mạnh sâu thẳm nhất của tôi Nhưng tôi cũng phải cảm ơn ông ngọn gió ạ! Chính cơn điên cuồng của ông đã giúp tôi chứng tỏ được khả năng chịu đựng và sức mạnh của mình

(Theo: Hạt giống tâm hồn – Đừng bao giờ từ bỏ ước mơ, NXB Tổng hợp TP Hồ Chí Minh, 2011)

* Phân tích đề:

+ Tính chất của đề: Nghị luận về một vấn đề trong một tác phẩm

+ Yêu cầu về nội dung: Nêu được suy nghĩ của mình về câu chuyện và ý nghĩa bài học giáo dục từ câu chuyện trên

+ Tri thức cần có: Vận dụng những kiến thức trong cuộc sống và trong văn học làm dẫn chứng để lí giải vấn đề

* Lập dàn bài:

+ Mở bài: Nêu được vấn đề trong câu chuyện: Trong cuộc sống con

người luôn phải đối mặt với những khó khăn, thử thách, những bất trắc của cuộc đời Vì vậy con nười cần dũng cảm, dám đương đầu với những khó khăn Đây

chính là vấn đề mà câu chuyện Ngọn gió và cây sồi đã đặt ra

+ Thân bài:

- Hiểu nội dung, ý nghĩa của câu chuyện:

+ Ngọn gió: Hình ảnh tượng trưng cho những khó khăn, thử thách, những nghịch cảnh trong cuộc sống

+ Cây sồi: Hình ảnh tượng trưng cho lòng dũng cảm, dám đối đầu, không ngục ngã trước hoàn cảnh

+ Ý nghĩa của câu chuyện: Trong cuộc sống con người cần có lòng dũng cảm, tự tin, nghị lực và bản lĩnh vững vằng trước những khó khăn, trở ngại trong cuộc sống

- Bài học giáo dục từ câu chuyện:

+ Cuộc sống luôn ẩn chứa muôn vàn trở ngại, khó khăn và thử thách nếu

con người không có lòng dũng cảm, sự tự tin để đối mặt sẽ đi đến thất bại (Một ngọn gió dữ dội băng qua khu rừng già Nó ngạo nghễ thổi tung tất cả các sinh vật trong rừng, cuốn phăng những đám lá, quật gẫy các cành cây)

Ngày đăng: 09/06/2022, 22:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w