1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(SKKN 2022) phương pháp ôn luyện để nâng cao chất lượng đại trà môn ngữ văn cho học sinh lớp 9

17 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề (SKKN 2022) phương pháp ôn luyện để nâng cao chất lượng đại trà môn ngữ văn cho học sinh lớp 9
Trường học Trường Trung Học Cơ Sở Bãi Trành - Như Xuân
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Sáng kiến kinh nghiệm
Năm xuất bản 2022
Thành phố Như Xuân
Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 836,55 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy mỗi giáo viên dạy văn không chỉ xác định cho mình một nhiệm vụ đơn giản là cung cấp cho học sinh một lượng tri thức nhất định, mà quan trọng hơn là người giáo viên thông qua các b

Trang 1

1.1 Lí do chọn đề tài

Năm học 2021 – 2022 là năm đầu tiên ngành Giáo dục triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng; Quyết định

số 2559/QĐ-BGDĐT ngày 06 tháng 8 năm 2021 ban hành Chương trình hành động của Bộ Giáo dục và Đào tạo triển khai Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng; là năm học toàn ngành Giáo dục tiếp tục thực hiện nhiệm vụ kép, vừa tích cực thực hiện các giải pháp phòng, chống dịch COVID-19 đang diễn biến phức tạp, bảo đảm an toàn trường học, vừa ra sức phấn đấu khắc phục khó khăn hoàn thành nhiệm vụ năm học, đáp ứng yêu cầu đổi mới và bảo đảm chất lượng giáo dục, đào tạo

Để hoàn thành được nhiệm vụ bảo đảm chất lượng giáo dục thì nâng cao chất lượng giáo dục đại trà cũng là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của

giáo dục nhà trường Muốn nâng cao chất lượng giáo dục đòi hỏi giáo viên phải không ngừng đổi mới phương pháp dạy học, ôn luyện theo định hướng phát

triển năng lực và phẩm chất của người học đáp ứng theo yêu cầu đổi mới căn bản toàn diện của giáo dục

Là một giáo viên giảng dạy bộ môn Ngữ Văn là môn học vô cùng quan trọng trong việc đào tạo con người, bồi dưỡng trí tuệ, tâm hồn và nhân cách cho học sinh Bên cạnh đó, Môn Ngữ văn là một trong những môn thi vào THPT Vì vậy mỗi giáo viên dạy văn không chỉ xác định cho mình một nhiệm vụ đơn giản

là cung cấp cho học sinh một lượng tri thức nhất định, mà quan trọng hơn là người giáo viên thông qua các bài giảng của mình làm cho học trò “tự cảm thấy môn văn thật sự cần thiết cho sự khôn lớn tinh thần” giúp em có những kĩ năng, năng lực làm tốt bài thi Tuy nhiên từ thực tế ôn luyện nhiều năm khi giảng dạy môn Ngữ văn lớp 9, bản thân tôi nhận thấy chất lượng giáo dục đại trà của bộ môn chưa cao Xuất phát từ thực tế giảng dạy tôi mạnh dạn thực hiện đề tài

nghiên cứu “Phương pháp ôn luyện để nâng cao chất lượng đại trà môn Ngữ văn cho học sinh lớp 9” Với hi vọng cùng chia sẻ kinh nghiệm hiểu biết của

mình với đồng nghiệp đồng thời cùng nhau vận dụng vào thực tiễn dạy học để

nâng cao chất lượng đại trà tại trường THCS Bãi Trành - Như Xuân.

1.2 Mục đích nghiên cứu

- Góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác ôn tập cho học sinh đại trà môn Ngữ văn 9

- Giúp giáo viên có kĩ năng, phương pháp để dạy ôn tập môn Ngữ văn 9 cho học sinh đạt kết quả cao

1.3 Đối tượng nghiên cứu

- Là Học sinh lớp 9 trường THCS Bãi Trành- Như Xuân

1.4 Phương pháp nghiên cứu

- Nhóm các phương pháp nghiên cứu lí thuyết

- Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Quan sát, điều tra, phỏng vấn, tổng kết, rút kinh nghiệm từ kết quả ôn luyện những năm học trước

- Nghiên cứu các tài liệu khoa học có liên quan đến đề tài

Trang 2

2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

2.1 Cơ sở lí luận:

Hiện nay, giáo dục ngày càng đổi mới để tiếp cận với nền giáo dục hiện đại trên thế giới Một nền giáo dục hướng tới đổi mới căn bản toàn diện người học Vì thế, chương trình giáo dục phổ thông ban hành kèm theo quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT ngày 5 tháng 6 năm 2006 của bộ tưởng Bộ GDĐT đã

nêu: “Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp đặc trưng môn học, đặc điểm đối tượng học sinh, điều kiện lớp học; bồi dưỡng cho học sinh phương pháp tự học, khả năng hợp tác; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú, trách nhiệm học tập cho học sinh”

Nghị quyết Trung ương 02-NQ/HNTW BCH Trung ương Đảng khoá VIII ngày 24 tháng 12 năm 1996, đã khẳng định từ nay đến năm 2020 phải phấn đấu để xây dựng nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp; khoa học và công nghệ phải trở thành nền tảng và động lực cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Nghị quyết còn yêu cầu phải đổi mới phương pháp dạy học, khắc

phục lối truyền thụ một chiều, phát huy tính tích cực học tập, rèn luyện thói

quen, nề nếp tư duy sáng tạo cho học sinh Giáo dục hướng đến chủ đề: “Đổi mới công tác quản lí, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” Cho đến nay, giáo dục Việt Nam không ngừng đổi mới với phương châm lấy học sinh làm trung tâm Trong sự nghiệp

giáo dục trồng người luôn phải quan tâm đến thế hệ trẻ Đúng như lời căn dặn

của Bác, phải coi trọng giáo dục toàn diện học sinh: “nhằm đào tạo những người kế tục sự nghiệp cách mạng to lớn của Đảng và nhân dân ta” Nghĩa là

nền giáo dục phải phát huy toàn bộ năng lực sẵn có của học sinh, trong đó có năng lực tự học Để đào tạo những con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu của công cuộc xây dựng đất nước, Đảng ta nhấn mạnh việc đổi mới nội dung,

phương pháp dạy học: “phát huy tính độc lập suy nghĩ và sáng tạo của học sinh,

đề cao năng lực tự học, tự hoàn thiện học vấn và tay nghề”

Nghị quyết 29/NQ-TW ngày 4 tháng 11 năm 2013 của Hôi nghị Ban chấp hành Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo,

có khẳng định: “Đối với giáo dục phổ thông, tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời Hoàn thành việc xây dựng chương trình giáo dục phổ thông giai đoạn sau năm 2015 Bảo đảm cho học sinh

có trình độ trung học cơ sở (hết lớp 9) có tri thức phổ thông nền tảng, đáp ứng yêu cầu phân luồng mạnh sau trung học cơ sở; trung học phổ thông phải tiếp cận nghề nghiệp và chuẩn bị cho giai đoạn học sau phổ thông có chất lượng

Luật Giáo dục Việt Nam năm 2019 cũng khẳng định: “Giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động tư duy sáng tạo của người học, bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập

và ý chí vươn lên” Có như vậy mới đáp ứng được yêu cầu của giáo dục trong

Trang 3

giai đoạn hiện nay Đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, trong các nhà trường, chất lượng dạy học luôn được quan tâm hàng đầu Bên cạnh việc coi trọng chất lượng mũi nhọn thì chất lượng giáo dục đại trà cũng được các nhà trường đặc biệt quan tâm Bởi thế công tác

ôn luyện cho học sinh các môn văn hóa trong đó có môn Ngữ văn luôn được các nhà trường coi trọng và đề ra chỉ tiêu ngay từ đầu năm học

2.2 Thực trạng kết quả chất lượng giáo dục đại trà môn Ngữ văn 9 trong những năm học trước tại trường THCS Bãi Trành.

a Đối với giáo viên

Trong trường THCS hiện nay, việc dạy học Ngữ văn vẫn luôn được nhà trường quan tâm nên nhiều học sinh đã đạt được kết quả cao trong học tập Song bên cạnh đó thực tế ngành giáo dục đã tiến hành đổi mới qua nhiều năm nhưng trong quá trình thực hiện nhiều giáo viên còn ngại đổi mới, vẫn giữ thói quen dạy học, ôn luyện theo kiểu truyền thụ kiến thức một chiều: thầy cô lên lớp giảng - học sinh dưới lớp lắng nghe, ghi nhớ và nhắc lại những điều giáo viên đã truyền đạt Từ đó vô tình biến học sinh thành "bình chứa", thiếu sự chủ động, ỷ lại, không phát huy vai trò tích cực, chủ động của học sinh, dẫn đến trong giờ học, ôn tập các em thường hay làm việc riêng Như thế công tác giảng dạy cũng như ôn luyện kém hiệu quả Mặt khác, nhiều thầy cô cũng như học sinh chỉ chú trọng đến dạy - học kiến thức mới mà xem nhẹ việc ôn luyện Giáo viên thường nghĩ rằng các em đã học thì đã hiểu rồi nên chỉ cần ôn tập qua thôi, còn học sinh thường thích khám phá, tìm tòi cái mới nên khi ôn tập các em thường không chú tâm, không dành thời gian nhiều, có em tỏ ra không thích ôn luyện nên làm bài tập, câu hỏi thầy cô giao qua loa, đối phó, chất lượng bài làm không cao đẫn đến kiến thức môn học nhiều em chưa nắm chắc

b Đối với học sinh

Nhiều học sinh lười học, ỷ lại nên ít dành thời gian cho bộ môn Ngữ văn, kết quả học tập thấp Còn có học sinh không hoàn thành những nhiệm vụ giáo viên giao trên lớp cũng như ở nhà, đặc biệt là những câu hỏi ôn tập và làm bài tập ôn lại kiến thức cũ Còn có những học sinh chưa tự giác trong học tập, các

em thường dựa dẫm vào giáo viên hoặc các bạn Trước những câu hỏi, bài tập giáo viên giao, những học sinh này không làm mà đợi thầy cô chữa hoặc chép của bạn Chính vì thế mà kết quả học bộ môn chưa cao Bên cạnh đó xã hội ngày càng phát triển thì nhiều học sinh lại có xu hướng không thích học văn, vì đây là môn học dài, các em rất ngại đọc và ngại viết văn, ít hứng thú với việc ôn tập văn Số lượng học sinh cần mẫn suy nghĩ học và ôn tập văn rất hạn chế

c Đối với phụ huynh

Một số đi làm ăn xa không có điều kiện quan tâm hoặc chưa để ý đến việc học của con dẫn đến đến con em ham chơi, ham điện thoại, đi học, đi ôn không thường xuyên nên đã ảnh hưởng lớn đến việc giảng dạy cũng như chất lượng môn học Kết quả môn Ngữ văn chưa đáp ứng được chỉ tiêu đặt ra

Là giáo viên trực tiếp giảng dạy môn Ngữ văn nhiều năm, tôi luôn trăn trở làm thế nào để ôn luyện nhằm nâng cao chất lượng học sinh đại trà bộ môn Ngữ văn 9 Bởi vậy, tôi đã tiến hành nghiên cứu để tìm ra một số giải pháp để nâng cao chất lượng học sinh đại trà bộ môn Ngữ văn do tôi phụ trách ở trường Công

Trang 4

việc này tôi thực hiện từ năm học 2019 – 2020 ngay sau khi nắm được kết quả điểm thi vào lớp 10 năm học 2019-2020 Cụ thể như sau:

Lớp/Sĩ

số.

S

S

S

S

S

Tổng

6,2

%

Qua bài điểm thi tôi nhận thấy tỉ lệ học sinh đạt loại khá, giỏi còn thấp (17,5%), tỉ lệ học sinh đạt mức trung bình, yếu còn khá cao (32,5%) Đặc biệt là những học sinh có lực học yếu, chưa tự giác học tập, ôn luyện Để học sinh có thể nắm được tri thức bộ môn một cách chủ động, tự giác, biết vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn để đáp ứng được yêu cầu của xã hội hiện nay, đồng thời giảm tỉ

lệ học sinh yếu và nâng cao chất lượng học sinh đại trà

2.3.Giải pháp thực hiện :

a Các giải pháp chung:

Bước 1: Tìm hiểu, Nắm được từng đối tượng học sinh trong lớp giảng dạy Đây là việc đầu tiên mà mỗi giáo viên trong quá trình dạy học muốn hiệu

quả phải làm Ngay từ đầu năm học giáo viên phải nắm bắt được khả năng học tập của các em Việc nắm bắt được điều kiện hoàn cảnh, tâm lí của học sinh cũng là bước quan trọng bởi thông qua đó chúng ta hiểu được tâm tư tình cảm, nguyện vọng của các em; cũng từ đó mà giáo viên gần gũi, động viên, khuyến khích các em ôn tập tốt hơn

Đây là một việc làm rất quan trọng, bởi thông qua việc nắm bắt năng lực học sinh mà giáo viên có thể lựa chọn, vận dụng phương pháp dạy học, ôn tập của mình sao cho phù hợp với từng đối tượng học sinh

Giáo viên cần xác định được nguyên nhân của hiện tượng học sinh ỷ lại, ý thức ôn luyện bộ môn chưa tốt Một bộ phận các em học yếu là do hạn chế về nhận thức của bản thân các em Các em có ý thức học nhưng kiến thức nhớ không lâu, nên kiến thức bộ môn hạn hẹp Một bộ phận lại mải chơi, lười học Một bộ phận nhỏ có thể chưa xác định được mục đích của việc học Một số em lại không có đủ thời gian cho việc học vì phải giúp đỡ việc gia đình Cũng có những trường hợp học sinh có nhận thức tốt nhưng ý thức học tập bộ môn lại chưa tốt hoặc chưa tập trung học tập do ảnh hưởng của hoàn cảnh gia đình… Từ việc tìm hiểu nguyên nhân này giáo viên có thể đưa ra những giải pháp cụ thể để

ôn luyện cho từng đối tượng học sinh, góp phần nâng cao chất lượng môn học

Bên cạnh đó còn có một bộ phận học sinh học khá, giỏi, ý thức học tập tốt, nhận thức nhanh; có em còn yêu thích môn Văn Đây là bộ phận cần được khuyến khích để phát huy những gì các em đang có Vì vậy giáo viên sẽ phải có những giải pháp khác để duy trì và nâng cao hơn nữa khả năng học tập của các

em, góp phần nâng cao chất lượng môn học

Bước 2: Giáo viên bộ môn cần phối hợp với giáo viên chủ nhiệm, nhà trường và phụ huynh học sinh.

Trang 5

Giáo viên bộ môn cần phối hợp với giáo viên chủ nhiệm, nhà trường với phụ huynh học sinh để có những phản ánh trao đổi kịp thời về học sinh với giáo viên chủ nhiệm để có những uốn nắn Giáo viên bộ môn cũng nên trao đổi với phụ huynh học sinh về tình hình học tập, giao bài tập về nhà cho học sinh thông qua nhóm zalo, nhóm Messenger của phụ huynh, hướng dẫn phụ huynh theo dõi, nhắc nhở việc học bài ở nhà của học sinh

Bước 3: Không ngừng đổi mới phương pháp dạy học, ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học.

Muốn có trò giỏi thì phải có thầy giỏi, Người thầy giỏi là người không chỉ

có nhân cách tốt mà còn phải có kiến thức chuyên môn vững vàng, có phương pháp truyền thụ thích hợp, phù hợp với mọi đối tượng học sinh Để làm được điều đó người thầy phải luôn có ý thức tự rèn luyện, tích lũy kiến thức kinh nghiệm, trau dồi chuyên môn, nghiệp vụ Nếu như trước đây dạy học văn thường tạo suy nghĩ thầy đọc- trò chép, hay học văn chỉ cần học thuộc kiến thức, học sinh học tập một cách thụ động thì hiện nay theo yêu cầu đổi mới giáo dục, Dạy văn là dạy cho các em những năng lực, trí tuệ, tình cảm, nhân cách thông qua “Nghe, nói, đọc, viết”, để một giờ dạy văn đạt kết quả tốt đòi hỏi người giáo viên không ngừng đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực gây được hứng thú với học sinh giúp học sinh hiểu bài, nẵm vững kiến thức Từ đó mới khơi gợi được được tình cảm yêu thích môn học, khơi gợi được khả năng nhận thức và tư duy từ đó mới hứng thú tham gia vào việc ôn tập

Tìm hiểu và vận dụng một cách linh hoạt các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực, những phương pháp ôn luyện phù hợp với đối tượng học sinh Để việc ôn tập bộ môn Ngữ văn cho học sinh không nhàm chán, tôi thiết nghĩ người thầy phải biết cách vận dụng khéo léo, phù hợp, hiệu quả các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực

Sử dụng linh hoạt các câu hỏi, bài tập, hình thức ôn luyện sao cho hấp dẫn, phù hợp với đối tượng học sinh

* Ví dụ 1: dạy bài “Luyện tập tóm tắt văn bản tự sự”, tôi cho các em ôn luyện về cách tóm tắt văn bản “Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ, tóm tắt văn bản “Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng (Ngữ

văn 9-tập 1)

Trang 6

Bước 4: Xây dựng kế hoạch chương trình bồi dưỡng

Công tác bồi dưỡng học sinh đại trà là cả một quá trình, vậy nên ngay từ đầu năm học giáo viên cần xây dựng chương trình, kế hoạch bồi dưỡng phù hợp Giáo viên có kế hoạch ôn tập cho học sinh sau mỗi bài học, sau mỗi phần kiến thức, lồng ghép trong các tiết tự chọn để giúp học sinh nắm chắc kiến thức cơ bản Tổ chức ôn luyện thêm ngoài các buổi học chính khoá Cần đảm bảo theo các phần nội dung kiến thức trọng tâm sau:

- Phần Tiếng Việt:

Gồm các đơn vị kiến thức trọng tâm như: Biện pháp tu từ; Dẫn trực tiếp, dẫn gián tiếp; Khởi ngữ; Các thành phần biệt lập; liên kết câu và liên kết đoạn văn; Nghĩa tường minh và hàm ý

- Phần tập làm văn gồm:

+ Nghị luận xã hội ( Nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống; Nghị luận về một tư tưởng đạo lí)

+ Nghị luận văn học gồm văn bản truyện ( Chuyện người con gái Nam Xương- Nguyễn Dữ, Truyện Kiều - Nguyễn Du, Làng- Kim Lân, Lặng lẽ Sa Pa-Nguyễn Thành Long; Chiếc lược ngà- Pa-Nguyễn Quang Sáng, Những ngôi sao xa xôi- Lê Minh Khuê); các văn bản thơ ( Đồng Chí- Chính Hữu, Bài thơ về Tiểu đội xe không kính- Phạm Tiến Duật, Đoàn thuyền đánh cá- Huy Cận, Bếp lửa-Bằng Việt, Ánh Trăng- Nguyễn Duy, Mùa xuân nho nhỏ- Thanh Hải, Viếng lăng Bác- Viễn Phương, Sang thu- Hữu Thỉnh, Nói với con – Y Phương)

Bước 5: Tổ chức thi khảo sát.

Giáo viên trong quá trình ôn luyện đã đánh giá được mặt mạnh, mặt yếu của từng học sinh Sau một quá trình ôn luyện cần cho học sinh thi khảo sát Việc thi khảo sát giúp các em làm quen với đề, rèn luyện tâm lí, kĩ năng làm bài Giúp các em nhận ra được những ưu, khuyết điểm của bản thân Rút kinh nghiệm rèn luyện phần kiến thức cần hạn chế Việc thi khảo sát nên tổ chức sau một quá trình ôn luyện, tuy nhiên không để gần đến ngày thi mới chọn mà nên chia thành nhiều đợt

b Giải pháp cụ thể

1 Hướng dẫn học sinh ôn luyện bằng cách hệ thống kiến thức.

Trang 7

Hệ thống kiến thức là một trong những cách ôn tập hiệu quả đối với học sinh Nếu trong quá trình dạy, giáo viên chỉ dạy bài nào xong bài đó, không có

sự ôn tập, hệ thống kiến thức lại thì các em sẽ quên hoặc nắm không chắc nội dung bài học Do đó, sau khi học xong giáo viên cần hướng dẫn học sinh ôn tập bằng cách hệ thống kiến thức đã học nhằm củng cố, khắc sâu kiến thức

Môn Ngữ văn cũng như các môn học khác việc hệ thống kiến thức được thực hiện sau khi học xong bài, sau mỗi chủ đề, hết học kì, hết năm học Đây là việc làm rất quan trọng và cần thiết Đặc biệt với học sinh lớp 9, các em cần có kiến thức xuyên suốt từ bài đầu đến cuối năm để phục vụ cho thi tuyển vào THPT Giáo viên chính là người định hướng, giúp các em nắm vững các kiến thức đã học

Để hệ thống kiến thức, giáo viên có nhiều cách như sử dụng sơ đồ tư duy hoặc câu hỏi, bài tập Mỗi phương pháp lại có hiệu quả riêng, vì thế giáo viên cần linh hoạt áp dụng hình thức ôn luyện sao cho phù hợp đối với học sinh khi lên lớp

- Hệ thống kiến thức bằng sơ đồ tư duy: Sau mỗi một bài học, mỗi chủ

đề để học sinh hiểu bài hơn, giáo viên hướng dẫn học sinh hệ thống các kiến thức đã học bằng sơ đồ tư duy Đây là hình thức ôn tập mà nhiều giáo viên vận dụng trong các bộ môn mình dạy, cũng là cách ôn luyện đạt hiệu quả cao

* Ví dụ 1: Khi dạy bài “Đồng chí”, sau khi dạy xong bài giáo viên giao

nhiệm vụ cho học sinh hoàn thành câu hỏi sau: Hãy khái quát nội dung kiến thức bài học bằng sơ đồ tư duy (- Gợi ý: Khái quát tác giả, tác phẩm, nội dung, nghệ thuật của bài thơ)

* Ví dụ 2: Dạy bài “Tổng kết phần Tập làm văn” (Ngữ văn 9 - Kì II),

giáo viên yêu cầu học sinh khái quát các kiểu văn bản đã học, đặc điểm và mục đích của từng loại văn bản nhằm hệ thống kiến thức về các kiểu văn bản tự sự, miêu tả, biểu cảm, nghị luận, thuyết minh, hành chính công vụ

Trang 8

- Hệ thống kiến thức bằng cách trả lời các câu hỏi: Để hiểu về bài học,

giáo viên tổ chức cho học sinh trả lời các câu hỏi liên quan đến bài học Việc làm này sẽ giúp học sinh nhớ và nắm chắc kiến thức của bài

* Ví dụ : Sau khi dạy phần văn học trung đại (Ngữ văn 9 - Kì 1), giáo

viên giao nhiệm vụ cho học sinh hoàn thành các câu hỏi để hệ thống hóa kiến thức phần văn học Trung đại:

+ Câu 1: Kể tên các tác phẩm, đoạn trích văn học trung đại đã học trong

chương trình Ngữ văn 9 tập 1?

+ Câu 2: Nêu những nét chính về nội dung và nghệ thuật của từng văn

bản?

+ Câu 3: Kể tên nhân vật chính trong các văn bản truyện trung đại đã học

và cho biết đặc điểm, cuộc đời, số phận của nhân vật đó?

+ Câu 4: Suy nghĩ, cảm nhận về nhân vật mà em thích trong các văn bản

truyện trung đại đã học?

2 Hướng dẫn học sinh ôn luyện qua trả lời câu hỏi và làm bài tập.

* Hướng dẫn học sinh ôn luyện thông qua trả lời câu hỏi:

Học sinh đại trà với mức độ nhận thức đại đa số là trung bình và khá Vì thế, giáo viên đưa ra hệ thống câu hỏi theo các cấp độ từ nhận thức đến thông hiểu và vận dụng

- Câu hỏi nhận biết:

+ Mục tiêu của loại câu hỏi này là để kiểm tra trí nhớ của học sinh về các

khái niệm, kiến thức của bộ môn Dạng câu hỏi này thường có các cụm từ: Hãy nêu? Hãy trình bày? Thế nào? …

+ Việc trả lời các câu hỏi này sẽ giúp học sinh ôn luyện lại những gì đã học Những câu hỏi ở mức độ nhận biết gần như các em đều trả lời được Đối với phân môn Tiếng Việt và Tập làm văn, thường xuyên làm các câu hỏi như thế

sẽ giúp học sinh nhớ các khái niệm, kiến thức của bài học Với phần văn bản hướng các em ghi nhớ nội dung của tác phẩm thơ, văn, nhớ những đặc sắc về nghệ thuật Giáo viên sử dụng và phát huy một cách tối đa hiệu quả của loại câu hỏi phát hiện vì nó có vai trò rất quan trọng trong việc hướng các em chú ý vào bài Nắm chắc các kiến thức cơ bản thì học sinh mới có thể làm được câu hỏi ở mức độ cao hơn

- Với các câu hỏi dạng nhận biết thì nội dung câu hỏi yêu cầu gì thì chúng

ta phải trả lời vào cái đó, tránh lan man

* Ví dụ 1: Dạy bài “Truyện Kiều” của Nguyễn Du, giáo viên nêu câu hỏi

kiểm tra kiến thức của học sinh ở mức độ nhận biết:

Câu hỏi: Em hãy trình bày những nét chính về tác giả Nguyễn Du và tác phẩm “Truyện Kiều”?

* Ví dụ 2: Kiểm tra kiến thức của học sinh sau khi học xong bài “Cách dẫn trực tiếp và cách dẫn gián tiếp” (Ngữ văn 9 - tập 1), giáo viên cho học sinh

trả lời câu hỏi ở mức độ nhận biết, cụ thể:

Câu 1: Thế nào là cách dẫn trực tiếp?

Câu 2: Cách dẫn gián tiếp là?

- Câu hỏi thông hiểu:

Trang 9

+ Sau câu hỏi nhận biết, đây là loại câu hỏi nhằm kiểm tra cách học sinh

liên hệ, so sánh, đối chiếu các kiến thức đã học, chỉ ra được những yếu tố cơ bản trong nội dung đang học

+ Dạng câu hỏi thông hiểu thường chứa các cụm từ: Tại sao? Hãy so sánh? Hãy chỉ ra sự giống và khác nhau? Hãy liên hệ? Em hãy giải thích?…

+ Thông hiểu là khả năng nắm được, hiểu được ý nghĩa của các khái niệm, hiện tượng, sự vật Câu hỏi này giúp các em hiểu được bản chất của các khái niệm, các đơn vị kiến thức đã học về Tiếng Việt và Tập làm văn, hiểu được những giá trị nội dung và nghệ thuật của các tác phẩm Trả lời được các câu hỏi này, các em sẽ tìm ra được bản chất của đơn vị kiến thức Tiếng Việt hay Tập làm văn, văn bản từ các ngữ liệu được học, được tìm hiểu

* Ví dụ 1: Dạy bài “Cách dẫn trực tiếp và cách dẫn gián tiếp”, giáo viên

cho học sinh so sánh, đối chiếu về hai cách dẫn này để các em phân biệt được chúng trong các văn cảnh cụ thể và trong quá trình giao tiếp Giáo viên đưa ra câu hỏi ở mức độ thông hiểu để học sinh suy nghĩ hiểu sâu hơn về kiến thức bài học

Câu hỏi: Em hãy so sánh sự khác nhau giữa cách dẫn rực tiếp với cách

dẫn gián tiếp? Hãy cho ví dụ minh họa?

* Ví dụ 2: Dạy bài “Tổng kết phần Tập làm văn” (Ngữ văn 9 - tập 2), giáo viên đưa câu hỏi dạng so sánh ở mức độ thông hiểu, như sau:

Câu 1: Em hãy so sánh sự khác nhau giữa kiểu văn bản miêu tả với văn

bản tự sự?

Câu 2: Chỉ ra sự khác nhau giữa văn bản biểu cảm với văn bản nghị luận?

- Câu hỏi vận dụng:

+ "Vận dụng'' là khả năng sử dụng các kiến thức đã học vào một hoàn

cảnh cụ thể, vận dụng nhận biết, hiểu biết để giải quyết vấn đề đặt ra Điều này đòi hỏi học sinh phải biết vận dụng kiến thức đã học để giải quyết một vấn đề

+ Câu hỏi vận dụng là dạng câu hỏi có mức độ cao nhất trong các cấp độ nhận thức Vì vậy, học sinh cần tích cực suy nghĩ để tìm hiểu cách làm, cách giải quyết…

+ Câu hỏi vận dụng trong môn Ngữ văn thường có các cụm từ: Hãy viết đoạn văn, bài văn? Hãy phân tích? Làm gì? Làm như thế nào?…

+ Dạng câu hỏi này yêu cầu học sinh vận dụng nhiều kiến thức đã học kết hợp với khả năng cảm thụ, đánh giá của mình để làm bài và chủ yếu sử dụng nhiều trong phân môn Tập làm văn và Văn học

Ví dụ 1: Sau khi học xong văn bản “Đồng chí” của Chính Hữu, giáo viên yêu cầu học sinh làm câu hỏi dạng phân tích, cảm thụ sau:

- Câu 1: Phân tích hình ảnh người lính trong bài thơ “Đồng chí” của

Chính Hữu?

- Câu 2: Cảm nhân của em về người lính trong thời kì đầu của cuộc

kháng chiến chống Pháp qua bài thơ “ Đồng chí”?

Ví dụ 2: Dạy bài “Mây và Sóng” (Ngữ văn 9 - tập 2), giáo viên đưa một

số câu hỏi vận dụng để học sinh làm:

- Câu 1: Em sẽ làm gì khi mình mắc lỗi với mẹ?

Trang 10

- Câu 2: Tình mẫu tử là thiêng liêng, em đã có trách nhiệm với mẹ như

thế nào? Kể những việc làm của em dành cho mẹ?

Ví dụ 3: Phân tích tác dụng của các biện pháp tu từ trong khổ thơ đầu bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá” của Huy Cận:

“Mặt trời xuống biển như hòn lửa

Sóng đã cài then đêm sập cửa Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi Câu hát căng buồm cùng gió khơi”

* Hướng dẫn học sinh ôn luyện thông qua làm bài tập.

- Mục đích: “Học đi đôi với hành” là phương pháp không thể thiếu trong

dạy học, đôi khi thầy cô chỉ chú trọng đến dạy kiến thức lí thuyết sẽ ảnh hưởng đến chất lượng môn học Vì thế, giáo viên cần tăng cường thời gian cho học sinh làm bài tập trong sách giáo khoa, sách bài tập và ôn luyện trên lớp cũng như ở nhà Nội dung ôn tập bám sát, gắn liền với kiến thức đã học, có như thế môn học mới đạt kết quả cao Đây là biện pháp mà thầy cô nào cũng áp dụng trong môn học của mình

* Ví dụ: Dạy bài “Khởi ngữ” (Văn 9 -tập 2), trong hoạt động luyện tập, tôi hướng dẫn và cho các em làm bài tập 1,2 (Sgk/trang 8), ngoài ra để hiểu sâu hơn kiến thức của bài, tôi cho các em ôn luyện làm thêm các bài tập bổ trợ bên ngoài, cụ thể:

- Bài tập 1: Thế nào là khởi ngữ? Hãy lấy 2 ví dụ có khởi ngữ và gạch

chân dưới khởi ngữ đó?

- Bài tập 2: Tìm khởi ngữ trong những câu sau:

a, Với bà mẹ, con đường ấy bắt nguồn từ lòng yêu con tha thiết

b, Về trí thông minh, nó không kém ai trong lớp

c, Đối với nó, vượt qua kì thi là niềm vui vô hạn

d, Nghĩ lại, người ta sợ cái uy của đồng tiền

- Bài tập 3: Viết một đoạn văn có khởi ngữ.

3 Hướng dẫn học sinh ôn luyện bằng cách làm các dạng đề.

Ngoài các câu hỏi và bài tập trong sách giáo khoa, sách bài tập thì việc thường xuyên cho các em làm các dạng đề kiểm định chất lượng do Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện tổ chức qua các năm cũng như các đề kiểm tra Ngữ văn của các huyện, tỉnh khác hoặc do giáo viên tự ra đề là rất quan trọng

- Các em được làm quen với các dạng câu hỏi để từ đó có kĩ năng khi làm bài

- Rèn cho các em có kĩ năng nhận diện các dạng câu hỏi, kĩ năng trả lời câu hỏi phần Đọc - Hiểu văn bản, kĩ năng làm câu hỏi cảm thụ nhân vật, tác phẩm văn học

- Giáo viên cũng ra các dạng đề cho học sinh làm thường xuyên trong quá trình học để các em được luyện thành thạo các câu hỏi, các kiến thức đã học trong chương trình

* Cấu trúc đề ôn luyện:

Trong những năm gần đây, thực hiện đổi mới kiểm tra đánh giá, với

phân môn Ngữ văn mỗi đề có cấu trúc gồm 2 phần: Phần 1: Đọc - hiểu Phần 2:

Làm văn (Tạo lập văn bản)

Ngày đăng: 09/06/2022, 22:28

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

* Hình thức kiểm tra: - (SKKN 2022) phương pháp ôn luyện để nâng cao chất lượng đại trà môn ngữ văn cho học sinh lớp 9
Hình th ức kiểm tra: (Trang 13)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w