1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(SKKN 2022) một số kinh nghiệm hướng dẫn học sinh trong hoạt động sáng tạo khoa học kĩ thuật

20 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số kinh nghiệm hướng dẫn học sinh trong hoạt động sáng tạo khoa học kĩ thuật
Tác giả Nguyễn Thị Nguyện
Trường học Trường THCS Thị Trấn Bến Sung
Chuyên ngành Khoa Học Kĩ Thuật
Thể loại Sáng kiến kinh nghiệm
Năm xuất bản 2022
Thành phố Thanh Hóa
Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 5,71 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NHƯ THANHSÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ KINH NGHIỆM HƯỚNG DẪN HỌC SINH TRONG HOẠT ĐỘNG SÁNG TẠO KHOA HỌC KĨ THUẬT Người thực hiện: Nguyễn Thị Nguyện Chức vụ: Gi

Trang 1

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NHƯ THANH

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ KINH NGHIỆM HƯỚNG DẪN

HỌC SINH TRONG HOẠT ĐỘNG SÁNG TẠO

KHOA HỌC KĨ THUẬT

Người thực hiện: Nguyễn Thị Nguyện

Chức vụ: Giáo viên

Đơn vị công tác: Trường THCS Thị Trấn Bến Sung SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Khác (KHKT)

THANH HOÁ NĂM 2022

Trang 2

Mục lục

Mục lục……….…1

1 Mở đầu 2

1.1 Lí do chọn đề tài 2

1.2 Mục đích nghiên cứu 3

1.3 Đối tượng nghiên cứu 3

1.4 Phương pháp nghiên cứu 3

2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm 3

2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm 3

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 4

2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề 5

2.3.1 Giải pháp thứ nhất: Thi ý tưởng sáng tạo……… …….5

2.3.2 Giải pháp thứ hai: vai trò của người giáo viên hướng dẫn là vô cùng quan trọng 6

2.3.3 Giải pháp thứ ba: Giáo viên hướng dẫn phải thu hút học sinh tham gia tích cực, say mê, thực hiện nghiên cứu khoa học 6

2.3.3.1 Hướng dẫn học sinh trải nghiệm, thực nghiệm 7

2.3.3.2 Hướng dẫn học sinh viết báo cáo NCKHKT 7

2.3.3.3 Rèn luyện kỹ năng thuyết trình cho học sinh 8

a.Lí do chọn đề tài 8

b.Quy Trình tiến hành nghiên cứu 9

c Kết luận 14

2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm 14

3 Kết luận, kiến nghị 16

3.1 Kết luận 16

3.2 Kiến nghị 16

Trang 3

1 Mở đầu

1.1 Lí do chọn đề tài

Nghiên cứu sáng tạo khoa học kỹ thuật là một hoạt động trải nghiệm bổ ích, thiết thực, gắn liền giữa lý thuyết với thực hành và thực tiễn lao động sản xuất Hoạt động này giúp phát huy, khích lệ, định hướng, tiếp lửa, khơi dậy niềm đam

mê nghiên cứu, sáng tạo của các em học sinh Đặc biệt, hoạt động nghiên cứu khoa học - kỹ thuật còn rèn luyện cho các em kĩ năng tự học, tự nghiên cứu, tự kiểm chứng kết quả bằng thực nghiệm Mặt khác qua việc định hướng, hướng dẫn cho học sinh nghiên cứu, giáo viên được nâng cao năng lực của bản thân về những kiến thức có liên quan đến các đề tài nghiên cứu khoa học[1]

Nghiên cứu khoa học là một công việc hết sức khó khăn và nó đóng một vai trò to lớn trong đời sống hằng ngày Tuy nhiên, nghiên cứu khoa học là một hoạt động trải nghiệm khó đối với học sinh THCS, vì vậy còn nhiều lúng túng trong khâu tổ chức, triển khai và thực hiện Còn thiếu đội ngũ giáo viên có kinh nghiệm, thiếu phương pháp hướng dẫn học sinh Đối với việc lựa chọn và hướng dẫn học sinh nghiên cứu khoa học về một đề tài là vô cùng vất vả bởi vì các em mới chỉ là học sinh THCS khả năng hiểu biết của các em còn hạn chế Từ đó bộc

lộ rõ vai trò của người hướng dẫn để học sinh vận dụng linh hoạt những kiến thức, để tự lực giải quyết thành công những tình huống cụ thể khác nhau vào thực tiễn, thực hành Những kiến thức đó mới trở nên sâu sắc hoàn thiện và trở thành vốn riêng của học sinh

Bản thân tôi với cương vị là giáo viên dạy bộ môn Toán - Lí phụ trách hướng dẫn học sinh tham gia cuộc thi sáng tạo khoa học kĩ thuật dành cho học sinh trung học năm học 2021-2022 Tôi xác định đây là một cuộc thi khó và luôn trăn trở làm thế nào để kích thích học sinh đưa ra ý tưởng, gắn kết các em có niềm đam mê khoa học - sáng tạo, tìm tòi khám phá, làm sao để học sinh hiểu và tiếp cận được hoạt động nghiên cứu khoa học - kỹ thuật Làm thế nào để cho ra được sản phẩm dự thi

Xuất phát từ thực tế nhà trường, là người hướng dẫn học sinh tham dự cuộc thi, tôi nhận thấy để công tác hướng dẫn học sinh dự thi khoa học kĩ thuật đạt kết quả cao cần phải đầu tư thời gian công sức, tìm tòi để có hướng đi đúng Bằng kinh nghiệm của mình và những kết quả mà nhà trường đã đạt được trong

những năm học qua tôi mạnh dạn trao đổi: “Một số kinh nghiệm hướng dẫn học sinh trong hoạt động sáng tạo khoa học kĩ thuật” ở trường THCS thị trấn

Bến Sung mà bản thân đã rút ra từ thực tế trực tiếp hướng dẫn các em nghiên cứu Mong rằng với kinh nghiệm của bản thân sẽ góp phần nâng cao chất lượng hoạt động sáng tạo khoa học kĩ thuật trong các nhà trường hiện nay

Trang 4

1.2 Mục đích nghiên cứu

Thông qua cuộc thi khuyến khích các em nghiên cứu, sáng tạo khoa học, công nghệ, kỹ thuật và vận dụng kiến thức đã học vào giải quyết những vấn đề thực tiễn cuộc sống Lựa chọn và hướng dẫn học sinh nhằm rèn luyện ở các em

sự tư duy, khả năng vận dụng tổng hợp, linh hoạt các kiến thức và kĩ năng thực hành một cách chủ động tích cực và sáng tạo

Để góp phần chia sẻ những kinh nghiệm cùng đồng nghiệp để nâng cao hơn nữa chất lượng của cuộc thi, tạo cơ hội để học sinh trung học giới thiệu sản phẩm và đạt kết quả cao trong nghiên cứu khoa học kỹ thuật

1.3 Đối tượng nghiên cứu

Bài viết là quá trình nghiên cứu, đúc rút “Một số kinh nghiệm hướng dẫn học sinh trong hoạt động sáng tạo khoa học kĩ thuật” mà bản thân đã

tích lũy được trong việc trực tiếp hướng dẫn học sinh tham gia sáng tạo khoa học kĩ thuật ở trường THCS thị trấn Bến Sung

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Căn cứ vào mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, tôi đã sử dụng nhiều

phương pháp Trong đó chủ yếu là phương pháp tổng kết kinh nghiệm, được

thực hiện theo các bước:

- Phương pháp điều tra giáo dục, quan sát sư phạm

- Điều tra khảo sát thực tế, so sánh, tổng hợp

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu, thu thập thông tin…

- Xác định đối tượng nghiên cứu

- Phương pháp thực hành

- Phân tích, phát triển đề tài và đúc rút kinh nghiệm, trao đổi ý kiến với đồng nghiệp, viết bài

2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm

2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm

Dạy học chuyển từ quá trình chủ yếu chú trọng trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học Vì vậy, thực hiện nghiên cứu khoa học, trải nghiệm được đánh giá là phương pháp hiệu quả để học sinh

mở rộng vốn kiến thức cũng như kỹ năng mềm của bản thân; là cơ hội để học sinh áp dụng những kiến thức lý thuyết đã học vào việc giải quyết những vấn đề thực tiễn Khi tiến hành thực hiện nghiên cứu khoa học, cùng với sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh sẽ có điều kiện để tiếp cận với các đề tài khoa học, bắt đầu định hình được cách thức, quy trình để thực hiện một công trình nghiên cứu khoa học Không chỉ vậy, hoạt động nghiên cứu khoa học còn góp phần phát huy tính năng động, sáng tạo; khả năng tư duy độc lập, tự học hỏi của học sinh Đối

Trang 5

với mỗi học sinh, những kỹ năng này không chỉ quan trọng trong quãng thời gian học tập mà còn theo sát các em trong suốt thời gian làm việc sau này.[2 ]

Bên cạnh đó hoạt động nghiên cứu khoa học cũng góp phần đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá: Sử dụng phương pháp dạy học tích cực, tăng cường thời gian tự học của học sinh, không dạy “cái gì” mà chú ý dạy bằng “cách gì” để học sinh có kiến thức Hoạt động nghiên cứu khoa học có vai trò rất lớn vì: Hoạt động NC KH-KT là hoạt động trải nghiệm sáng tạo nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, góp phần đổi mới hình thức dạy học, phối hợp hỗ trợ các mô hình hoạt động giáo dục khác Hơn nữa nó còn thúc đẩy việc vận dụng kiến thức liên môn, nâng cao trình độ giáo viên và học sinh Là hoạt động trải nghiệm sáng tạo đáp ứng mục tiêu chương trình giáo dục mới Tạo sân chơi trí tuệ, tìm những ý tưởng khoa học độc đáo, là bàn đạp để đổi mới phương pháp dạy học, bớt dần dạy “chay”, học “chay”

Học sinh tham gia nghiên cứu khoa học có những cơ hội để rèn luyện các

kĩ năng và hình thành phẩm chất Biết sử dụng phương pháp tư duy khoa học, nghiên cứu thực nghiệm, rèn luyện kỹ năng giao tiếp, kĩ năng ngôn ngữ, kĩ năng tin học, công nghệ… Học sinh tự tin vào bản thân, có cơ hội giao lưu với bạn bè cùng chí hướng Học sinh được tận mắt chứng kiến các công trình nghiên cứu KH-KT, học được cách chấp nhận mạo hiểm, khả năng vượt khó, học được cách thức truyền đạt ý tưởng khoa học

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm

- Thực trạng ở Trường THCS thị trấn Bến Sung cho thấy trong các năm

về trước nhà trường phát động phong trào rồi giao nhiệm vụ từ cuối năm học trước mà kết quả thu được cũng chỉ đạt 1 sản phẩm tham gia cấp huyện

Ban giám hiệu nhà trường coi cuộc thi KHKT là một trong những nhiệm

vụ trọng tâm trong năm học Chuyên môn nhà trường xây dựng kế hoạch về cuộc thi khoa học kĩ thuật ngay từ khi Sở giáo dục phát động cho năm học mới

Bên cạnh đó giáo viên phụ trách hướng dẫn học sinh nghiên cứu KHKT ở cấp

THCS hiện nay gặp rất nhiều khó khăn và rào cản, nguyên nhân xuất phát từ nhiều phía, nhưng cơ bản đây là một lĩnh vực khó Mặt khác cá nhân học sinh ở khu vực miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số để tìm ra được những cá nhân

ưu tú, có những ý tưởng sáng tạo mới, quả thật là một điều khó khăn Bên cạnh những thành quả đạt được,tôi nhận thấy là các em chưa có ý tưởng sáng tạo, kĩ năng nghiên cứu và thực hành còn hạn chế, chỉ chú trọng học lý thuyết để phục

vụ cho thi cử nên các em chưa tích hợp được kiến thức liên môn một cách tích cực, chủ động tham gia vào hoạt động nghiên cứu, sản phẩm làm ra chủ yếu dựa vào sức thầy là chính

Từ thực trạng đó tôi tiến hành điều tra ban đầu ngẫu nhiên với 123 học sinh

ở các khối lớp 8 và 9 trong năm học 2020 - 2021 cho thấy thái độ tham gia của học sinh đối với hoạt động sáng tạo khoa học kĩ thuật chưa cao Cụ thể như sau:

Trang 6

Số học sinh chủ

động đề xuất ý

tưởng và tham

gia

Số học sinh có

ý tưởng

Số học sinh

có ý tưởng khả thi

Học sinh không quan tâm

Với kết quả đều tra ban đầu trên tôi nhận thấy để nâng cao chất lượng hoạt động sáng tạo khoa học kĩ thuật trước hết: Về phía giáo viên hướng dẫn đòi hỏi không chỉ có kiến thức sâu về khoa học cơ bản của bộ môn mà còn phải có kiến thức tổng hợp Cần phải làm sao để thôi thúc, khích lệ lôi cuốn các em đam mê, yêu thích, chủ động tham gia vào hoạt động nghiên cứu khoa học.Để làm được điều này chúng ta phải tìm ra các nguyên nhân và giải pháp để giúp các em được mạnh dạn đề xuất ý tưởng của bản thân, tính tích cực, chủ động tham gia vào hoạt động nghiên cứu.Với mong muốn nâng cao chất lượng hoạt động sáng tạo khoa học kĩ thuật trong các nhà trường hiện nay, bản thân tôi đã tiến hành nghiên cứu

và tìm ra một số kinh nghiệm để phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh trong hoạt động nghiên cứu khoa học mà bản thân tôi đã trực tiếp hướng dẫn các em nghiên cứu tại trường THCS thị trấn Bến Sung

2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề

2.3.1 Giải pháp thứ nhất: Thi ý tưởng sáng tạo

Điều cốt yếu là học sinh phải hình thành được ý tưởng sáng tạo ban đầu dựa trên nền tảng kiến thức, kỹ năng cơ bản kết hợp với những quan sát, chiêm nghiệm thực tiễn, gắn với các lĩnh vực khoa học được quy định trong quy chế cuộc thi Tổ chức các chuyên đề về cuộc thi khoa học kĩ thuật trong sinh hoạt chuyên môn như: Cách khai thác ý tưởng của học sinh, cách viết một đề tài nghiên cứu khoa học, hay những điểm cần lưu ý khi hướng dẫn học sinh hoàn thành sản phẩm…

Để thực hiện có hiệu quả công đoạn quan trọng này, trước hết, Ban giám hiệu nhà trường cần tổ chức tuyên truyền rộng rãi mục đích, ý nghĩa của công tác NCKH và các quy định, hướng dẫn của Bộ GDĐT, Sở giáo dục, Phòng giáo dục về cuộc thi đến giáo viên, học sinh và các bậc phụ huynh Phát động cuộc thi ý tưởng sáng tạo khoa học thuộc 22 lĩnh vực Khoa học ( có danh mục kèm theo) tới cán bộ, giáo viên và học sinh thông qua các buổi sinh hoạt lớp, chào

cờ, ngoại khóa để học sinh định hướng, hình thành ý tưởng và tích cực tham gia đăng ký dự thi

Ban giám hiệu nhà trường cần đặc biệt lưu ý với học sinh, những ý tưởng sáng tạo ban đầu của các em phải xuất từ thực tiễn cuộc sống, gắn với với các lĩnh vực được quy định của cuộc thi và có tính khả thi cao Không nên lựa chọn những “phát minh”, “sáng chế”, hay những ý tưởng sáng tạo quá lớn lao, quá sức Đề tài phải sáng tạo, không lặp lại Đề tài phải mang tính thực tiễn cao Xuất phát từ thực tế cuộc sống, từ lao động hàng ngày của bố, mẹ, anh, chị, từ

Trang 7

sinh hoạt, lao động, học tập của bản thân… Các em có ý tưởng như thế nào để góp phần cải tiến công cụ dụng cụ, giảm sức lao động của con người…

Trên cơ sở những ý tưởng sáng tạo ban đầu học sinh đăng ký dự thi, Hiệu trưởng nhà trường ra Quyết định thành lập Ban giám khảo, chọn cử những cán

bộ, giáo viên có năng lực NCKH, am hiểu về những lĩnh vực học sinh đăng ký

dự thi tham gia chấm ý tưởng sáng tạo ban đầu của học sinh Ban giám khảo lựa chọn những ý tưởng tiêu biểu, khả thi đề xuất với lãnh đạo nhà trường phát triển thành các đề tài, dự án NCKHKT của học sinh

Hiệu trưởng nhà trường ra quyết định phê duyệt dự án, tập trung đầu tư,

hỗ trợ cho học sinh về kinh phí, cơ sở vật chất, thiết bị, phân công người hướng dẫn cho các đề tài, dự án NCKHKT được lựa chọn

2.3.2 Giải pháp thứ hai: vai trò của người giáo viên hướng dẫn là vô cùng quan trọng

Để học sinh tích cực chủ, động tham gia vào hoạt động nghiên cứu khoa học trước hết các em phải hiểu được mục đích, ý nghĩa và vai trò của nghiên cứu khoa học đối với việc học kiến thức, rèn luyện kĩ năng thực hành vào đời sống Việc đưa hoạt động nghiên cứu khoa học kỹ thuật vào trong học sinh không chỉ

có ý nghĩa tạo sân chơi bổ ích, mà còn khơi dậy sự đam mê sáng tạo cho các em ngay từ lứa tuổi học trò Nếu các em học sinh được quan tâm, tạo điều kiện, động viên, khuyến khích, cùng với sự hướng dẫn, giúp đỡ tận tình của các thầy

cô giáo thì những ý tưởng sáng tạo của các em sẽ trở thành những sản phẩm hữu ích phục vụ cuộc sống Chính vì điều đó, mà trong quá trình hướng dẫn học sinh tham gia hoạt động nghiên cứu khoa học, giáo viên phải luôn chú ý rằng: Các sản phẩm sáng tạo KHKT phải lấy ý tưởng từ cuộc sống

Những sản phẩm của hoạt động nghiên cứu khoa học ấy không chỉ là việc hiện thực hóa ý tưởng của các em học sinh, mà còn thắp lên ngọn lửa đam mê khoa học, tạo nền tảng, kiến thức, kỹ năng nghiên cứu khoa học cho học sinh trong tương lai

Bởi vậy, khi phát động, hướng dẫn học sinh tham gia hoạt động nghiên cứu khoa học, người giáo viên không chỉ là người hướng dẫn học sinh học tập, làm quen với nghiên cứu khoa học, mà quan trọng hơn là biết khơi dậy ở các em học sinh niềm đam mê với khoa học, dám mơ ước và dám thực hiện ước mơ Và người giáo viên phải luôn xác định rằng, những ý tưởng trong sáng tạo khoa học không phải là cái gì đó quá to lớn, xa xôi, mà những gì đang diễn ra xung quanh trong đời sống thường ngày Những ý tưởng sáng tạo có ý nghĩa phục vụ đời sống và làm cho cuộc sống con người tốt hơn

2.3.3 Giải pháp thứ ba: Giáo viên hướng dẫn phải thu hút học sinh tham gia tích cực, say mê, thực hiện nghiên cứu khoa học

Trong công tác hướng dẫn các em, người giáo viên phải thực sự nhiệt tình, xem việc giảng dạy bộ môn của mình là trách nhiệm, là sứ mệnh cao cả và

là vinh quang nghề nghiệp Bởi vì việc thầy cô có yêu nghề, yêu thích bộ môn

Trang 8

của mình giảng dạy thì mới tạo được tiền đề tốt nhất để động viên, khơi gợi niềm đam mê học tập bộ môn của các em học sinh Đây cũng chính là động lực

để tôi luôn cố gắng tìm tòi, suy ngẫm, tìm ra những phương pháp hợp lí, phù hợp với công tác nghiên cứu khoa học đạt hiệu quả Từ đó giúp các em có niềm tin, sự đam mê và hứng thú tìm tòi nghiên cứu sáng tạo Cụ thể như:

- Trực tiếp trao đổi, trò chuyện một cách cởi mở, chân thành với các em qua đó nắm bắt tâm tư, nguyên vọng và những ý tưởng đang được các em ấp ủ

mà chưa có điều kiện bộc lộ hết.Từ đó có giải pháp tư vấn, hỗ trợ, giúp đỡ để các em mạnh dạn bộc lộ bản thân và lôi cuốn các em nhiệt tình tham gia vào hoạt động nghiên cứu khoa học

- Trao đổi với giáo viên chủ nhiệm lớp, phụ huynh học sinh để nhận sự hỗ trợ về thời gian, trí thức, kinh phí và sự động viên, khích lệ khi các em tham gia vào các hoạt động nghiên cứu

- Kêu gọi sự ủng hộ của phụ huynh học sinh với kì thi thông qua việc tạo điều kiện giúp đỡ để các em tham gia một cách tốt nhất

Với giải pháp này khắc phục tình trạng các em chỉ chú trọng học lý thuyết

để phục vụ cho thi cử, đồng thời giúp các em sự tự tin, tìm tòi và sáng tạo, tiến tới học đi đôi với hành Vì vậy người giáo viên hướng dẫn Cần phải thể hiện được các vai trò sau:

2.3.3.1 Hướng dẫn học sinh trải nghiệm, thực nghiệm

- Xây dựng kế hoạch làm việc

- Viết nhật trình công việc

- Phân loại và thống kê số liệu

Ở công đoạn này từ đề cương sơ lược đã thống nhất với cán bộ, giáo viên hướng dẫn, học sinh tham gia NCKHKT cần tiến hành thu thập thông tin, phân tích và sử dụng dữ liệu để cụ thể hóa những luận điểm khoa học đã được nêu ra

ở đề cương sơ lược

Những thông tin, dữ liệu cần thu thập phong phú, đa dạng học sinh có thể truy cập từ nhiều nguồn khác nhau, như: Sách báo, các tài liệu tham khảo, mạng Internet, thực tiễn cuộc sống…

Nhưng điều cốt yếu, những thông tin, dữ liệu ấy phải có nguồn gốc rõ ràng, đảm bảo tính chính xác cao và là cơ sở để người nghiên cứu phân tích, chứng minh, hay bác bỏ một luận điểm khoa học được nêu ra ở dự án

2.3.3.2 Hướng dẫn học sinh viết báo cáo NCKHKT

Viết báo cáo NCKH là khâu “thi công” và hoàn thiện sản phẩm có ý nghĩa quyết định tới sự thành công dự án Ở đó, giáo viên cần học sinh huy động vốn kiến thức tổng hợp trên nhiều phương diện khác nhau và trình bày sao cho tõ ràng, chính xác, lôgic, chặt chẽ, đáp ứng đúng yêu cầu của một văn bản khoa học

Trang 9

Điều cốt yếu là học sinh cần tự trình bày, giáo viên hướng dẫn chỉ là người tham gia, góp ý, giúp học sinh chỉnh sửa báo cáo trên cơ sở tôn trọng chính kiến của các em, tuyệt đối không làm thay, viết thay học sinh

2.3.3.3 Rèn luyện kỹ năng thuyết trình cho học sinh

Giáo viên hướng dẫn cần rèn luyện học sinh tính tự tin trong thuyết trình Đồng thời, hướng dẫn thuyết trình sao cho cô đọng, ngắn gọn, rõ ràng, làm nổi bật nội dung trọng tâm, cơ bản nhất của dự án

Trong đó, học sinh cần thể hiện rõ: Câu hỏi nghiên cứu; kết quả nghiên cứu; những điểm mới và đóng góp mới của đề tài; hướng nghiên cứu tiếp theo…

Bên cạnh đó, giáo viên cần rèn luyện cho học sinh kỹ năng thuyết trình hấp dẫn, cuốn hút và thuyết phục được người nghe thông qua giọng nói, cử chỉ, điệu bộ, nét mặt và cách sử dụng ngôn ngữ độc đáo và trang phục của mình Chuẩn bị tất cả các câu hỏi và phương án trả lời liên quan tới đề tài

Đặc biệt, giáo viên còn cần hướng dẫn học sinh kỹ năng trả lời các câu hỏi phản biện của ban giám khảo sao cho trúng, đúng ý và hấp dẫn

- Dặn dò học sinh khi vào phòng thi:

+ Bình tĩnh, tự tin

+ Nghe kĩ câu hỏi của Ban giám khảo, chỉ trả lời đúng nội dung, trọng tâm

Kết luận: Như vậy để nâng cao được chất lượng và số lượng sản phẩm

trong hoạt động sáng tạo khoa học kĩ thuật chúng ta không nên chỉ chú trọng vào một giải pháp nào đó mà phải thực hiện một cách hài hòa các giải pháp mà tôi

đã nêu ở trên

Để minh chứng và làm rõ thêm cho vấn đề đã nêu, tôi xin trình bày về dự

án “Nguồn điện di động, đa năng sử dụng năng lượng mặt trời’’ mà bản thân

đã trực tiếp hướng dẫn học sinh thực hiện trong năm học 2021 - 2022 Sản phẩm

đã được xếp giải ba cấp huyện và được hội đồng khoa học cấp huyện đánh gia cao về khả năng ứng dụng thực tiễn, sản phẩm được lựa chọn đi thi cấp tỉnh

a.Lí do chọn đề tài

Ở khu vực miền núi chúng em thường hay bị mất điện; nhiều hôm, không

có điện, khu bán trú nhà trường tối om, nóng nực, đang học trực tuyến phải dừng hủy; ở nhà, bố mẹ cầm cái quạt tay phe phẩy cho các con học thật là khổ Mua quạt tích điện thì đắt mà nhanh hỏng bình ắc quy do không theo dõi được quá trình nạp xả; Máy phát điện hay nguồn điện mặt trời cỡ lớn thì đắt, gây ồn và không tiện di chuyển cơ động; quạt dùng năng lượng mặt trời cỡ nhỏ thì nguồn

đã cố định theo đèn, quạt, không mở rộng được Thêm nữa, ứng dụng pin mặt trời, các đồ dùng, thiết bị thiết yếu dùng điện một chiều 5V - 12V hiện nay đang rất phổ biến

Trang 10

Từ thực tế trên, bản thân chúng em nảy ra ý tưởng làm thế nào để có nguồn điện dự phòng khi mất điện lưới? Làm sao để nó vừa cơ động, vừa đa năng, đáp ứng được những nhu cầu thiết yếu của nhà trường, gia đình như dùng đèn, quạt, wifi, camera, sạc điện thoại, sạc đèn khi bản thân đang học trực tuyến; hoặc cơ động đem theo những lúc bố mẹ em lên đồi làm rẫy, tiện đem theo những lần đi picnic, tham gia các hoạt động trải nghiệm của lớp; giúp duy trì hoạt động của hiệu lệnh trống báo giờ học hay các hoạt động thí nghiệm có dùng điện một chiều của thầy trò trên lớp…

b.Quy Trình tiến hành nghiên cứu

* Bước 1: Tìm hiểu chung về các thiết bị liên quan trên thị trường

- Ưu điểm: Máy phát điện, cho công suất lớn Pin mặt trời cỡ lớn cho

công suất lớn, an toàn

- Nhược điểm: Máy phát điện nặng, ồn, tốn kém, không cơ động Pin mặt

trời cỡ lớn, phải đặt cố định, không cơ động…

- Kết luận: Chưa đáp ứng được nhu cầu về sự cơ động, tiện dụng, đa

năng, giá thành rẻ

* Bước 2: Tìm hiểu chi tiết về các linh kiện điện tử liên quan: Pin mặt

trời, ắc quy, bộ sạc năng lượng mặt trời, bộ Inverter đổi điện, cầu chì, ổ điện, dây dẫn điện, công tắc điện…

* Bước 3: Chọn linh kiện phù hợp: Pin mặt trời cỡ bé 10W, ắc quy 5

-7A (có thể tận dụng từ xe đạp điện, xe máy, bộ lưu điện…), bộ điều khiển sạc năng lượng mặt trời 30A; bộ ổ cắm, phích cắm tận dụng từ nguồn CPU máy để bàn, công tắc điện, cầu chì 20A…

* Bước 4: Vẽ sơ đồ khối:

Pin

mặt trời Bộ điều khiển sạc năng lượng

mặt trời tự động

Bộ đổi điện

Inverter

Ắc quy (loại phù hợp)

Ổ cắm 12v DC

Đồ dùng điện 220v

AC

Cổng USB 5v DC

Ngày đăng: 09/06/2022, 22:28

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w