1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(SKKN 2022) phương pháp dạy học đoạn trích kiều ở lầu ngưng bích (truyện kiều văn 9 tập 1) theo hướng phát triển năng lực học sinh

21 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phương pháp dạy học đoạn trích Kiều ở Lầu Ngưng Bích (Truyện Kiều) theo hướng phát triển năng lực học sinh
Trường học Trường Trung học cơ sở Lê Hữu Lập và Trường Trung học cơ sở Thị Trấn - Hậu Lộc
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Sáng kiến kinh nghiệm
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hậu Lộc
Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 131 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Số giáo viên chưa thường xuyên, chủ động, sáng tạotrong việc phối hợp các phương pháp dạy-học cũng như sử dụng các phương phápdạy- học phát huy tính tích cực, tự lực, sáng tạo của học si

Trang 1

1 MỞ ĐẦU 1.1 Lý do chọn đề tài:

Lâu nay trong nhà trường THCS việc dạy-học Văn theo tinh thần đổi mớitheo hướng tích cực cơ bản đã được Giáo viên xem trọng và trở thành định hướngtrong quá trình phát triển năng lực cho học sinh Nhiều giáo viên coi trọng địnhhướng này nhưng cách truyền thụ tri thức nhiều khi vẫn còn vướng theo phươngpháp dạy- học một chiều Số giáo viên chưa thường xuyên, chủ động, sáng tạotrong việc phối hợp các phương pháp dạy-học cũng như sử dụng các phương phápdạy- học phát huy tính tích cực, tự lực, sáng tạo của học sinh vẫn còn, nhiều thầy

cô vẫn còn bối rối trong việc tìm ra phương pháp dạy học Đặc biệt khi dạy họcVăn học Trung đại Việc rèn luyện kỹ năng sống, kỹ năng giải quyết các tìnhhuống thực tiễn cho học sinh thông qua khả năng vận dụng tri thức thì kết quả cònchưa cao Nhiều giáo viên ứng dụng công nghệ thông tin vào trong giờ học Vănchưa hợp lý dẫn đến hiệu quả dạy-học trong các giờ học Văn đặc biệt trong các giờĐọc-Hiểu văn bản chưa có hiệu quả thiết thực Trong giờ dạy-học chưa chú ý đến

tổ chức kiểm tra, đánh giá năng lực thẩm thấu tác phẩm của học sinh nên kết quảhọc sinh học tập thiên về ghi nhớ, ít quan tâm vận dụng kiến thức Theo phản ánhcủa nhiều đồng nghiệp thì có nhiều học sinh trong các giờ kiểm tra không trungthực, nhiều học sinh trong các giờ học trên lớp sử dụng tài liệu để đối phó với thầy

cô trong các câu hỏi tìm hiểu bài hoặc làm bài kiểm tra Tất cả dẫn đến kỹ năngsống và sống đẹp ở học sinh đôi khi còn non nớt

Là giáo viên được đào tạo dạy-học môn Ngữ văn và có nhiều năm trực tiếpđứng lớp, tôi đã trăn trở rất nhiều về những vấn đề trên, nung nấu tiếp thu và ápdụng sáng tạo tinh thần đổi mới phương pháp, kĩ thuật dạy-học nhằm nâng caohiệu quả hoạt động dạy-học Bản thân rất hứng thú với phương pháp và hình thức

tổ chức dạy-học nhằm hướng tới phát triển năng lực của học sinh Trong khuôn

khổ của một sáng kiến kinh nghiệm nhỏ, tôi chọn đề tài “ Phương pháp dạy-học đoạn trích “ Kiều ở lầu Ngưng Bích” ( Truyện Kiều) theo hướng phát triển năng lực của học sinh” Đây là sáng kiến kinh nghiệm được viết ra từ trải nghiệm

thực tế của bản thân và của giáo viên trong nhóm dạy Ngữ văn ở trường THCS LêHữu Lập và trường THCS Thị Trấn - Hậu Lộc Trình bày sáng kiến kinh nghiệm

Trang 2

này, bản thân rất mong được sự góp ý của các đồng nghiệp để sáng kiến thực sựmang tính khả thi Tôi hy vọng sẽ góp phần cải tiến được phương pháp dạy-học bộmôn Ngữ văn trong trường THCS Thị Trấn Hậu Lộc, giúp học sinh có được kỹnăng học Văn, kỹ năng sử dụng vốn tri thức có được trong cuộc sống, kỹ năngthẩm thấu cái đẹp để từ đó biết rõ hơn thế nào là sống đẹp trong cuộc đời.

1.2 Mục đích nghiên cứu:

Xuất phát từ ý nghĩa khoa học và thực tiễn nêu trên với vai trò là một giáoviên Ngữ văn, một quản lý trong trường THCS nghiên cứu đề tài này sẽ phần nàogiúp tôi thực hiện tốt hơn việc giảng dạy và quản lý bộ môn góp phần hình thànhcho học sinh ý thức về việc cảm thụ một đoạn trích trong kiệt tác Truyện Kiều (vănhọc Trung đại) Chính vì thế tôi đã mạnh dạn đưa ra đề tài này với mong muốncùng đồng nghiệp trao đổi kinh nghiệm về giảng dạy bộ môn Ngữ văn trong nhàtrường THCS

1.3 Đối tượng nghiên cứu:

Dựa trên cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn, đề tài này hướng tới đối tượng

nghiên cứu: Những giải pháp ưu việt khi dạy – học đoạn trích “ Kiều ở lầu Ngưng

Bích” nhằm hướng tới phát triển năng lực của học sinh

1.4 Phương pháp nghiên cứu:

Trong quá trình giảng dạy, nghiên cứu và viết sáng kiến kinh nghiệm này, tôi

đã sử dụng một số phương pháp cơ bản sau:

Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lí thuyết: Đọc nghiên cứu tổng hợp

lí thuyết rút kinh nghiệm trong quá trình thực hiện, nghiên cứu các bài viết, bàinghiên cứu về tác giả và tác phẩm trong phong trào Thơ mới; các văn bản hướng

dẫn chỉ đạo phương pháp dạy học tích cực làm cơ sở lí luận, mục tiêu đề tài, đề

xuất biện pháp thực hiện

Phương pháp điều tra khảo sát thực tiễn: khảo sát thực trạng trước và sau khi

áp dụng cách thức dạy học tích cực hướng tới phát triển năng lực người học trongdạy học và rút ra nguyên nhân hạn chế, hiệu quả trước và sau khi áp dụng phươngpháp

Trang 3

Phương pháp thu thập thông tin: lắng nghe ý kiến đồng nghiệp, ý kiến của

học sinh, phổ biến trong sinh hoạt chuyên môn, lắng nghe phản hồi hoàn thiện bàiviết

Phương pháp thống kê, xử lí số liệu: thu thập kết quả, tính toán, so sánh, phân

tích, tổng hợp nhận xét và đánh giá hiệu quả phương pháp áp dụng

Phương pháp thực nghiệm: sau khi nghiên cứu, tìm hiểu và tìm ra cách thức

phương pháp khi dạy học tác phẩm thơ hiện đại giáo viên áp dụng trong thực tếdạy học thực nghiệm và đối chứng Qua đó so sánh chất lượng và hiệu quả khi ápdụng sáng kiến

1.5 Những điểm mới của Sáng kiến kinh nghiệm

Là Sáng kiến dạy học một đoạn trích trong Truyện Kiều mà lâu nay hầu nhưrất ít giáo viên đưa ra làm đề tài nghiên cứu, tham khảo

2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

2.1.1 Theo tinh thần đổi mới phương pháp dạy-học ở Trung học nói chung,

THCS nói riêng, thì đổi mới phương pháp dạy-học để nhằm chú trọng phát triểnnăng lực của người học Phương pháp dạy-học không chỉ chú ý tích cực hóa họcsinh về hoạt động trí tuệ mà còn chú ý rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề gắn vớinhững tình huống cuộc sống và nghề nghiệp, đồng thời gắn hoạt động trí tuệ vớihoạt động thực hành, thực tiễn Trong dạy-học phải phát huy tính tích cực, tự giáccủa người học Hình thành, phát triển năng lực sử dụng sách giáo khoa, năng lựcnghe, ghi chép, tìm kiếm thông tin trên cơ sở đó mà trau dồi các phẩm chất linhhoạt, độc lập, sáng tạo của tư duy Để có thể đạt được hiệu quả đó, hoạt động day-học phải được áp dụng linh hoạt các phương pháp dạy- học, đó là sự phối hợp giữacác phương pháp dạy-học truyền thống và phương pháp dạy-học theo tinh thần đổimới cùng các hình thức tổ chức dạy học tùy theo mục tiêu, nội dung, đối tượng vàđiều kiện cụ thể Coi trọng những giờ dạy học thực hành để trau dồi kiến thức trongthực tiễn, coi trọng việc sử dụng tích cực có hiệu quả các thiết bị, đồ dùng dạy-học Trong quá trình dạy-học Văn một trong những năng lực cần được rèn luyện

và cần phải có ở người học là năng lực thưởng thức văn học - năng lực cảm thụthẩm mỹ Đây là năng lực thể hiện khả năng của mỗi cá nhân trong việc nhận ra các

Trang 4

giá trị thẩm mỹ của sự vật, hiện tượng, con người, cuộc sống thông qua những cảmnhận rung động trước cái đẹp và cái thiện, từ đó hướng những suy nghĩ, hành vi củacác em theo cái đẹp, cái thiện Bản thân tôi khi về công tác tại Trường THCS ThịTrấn, một ngôi trường khó khăn của Huyện Hậu Lộc Một trong những khó khăn

đó là học sinh của Nhà trường còn nhiều em có thành tích học, đặc biệt trong bộmôn Ngữ văn rất khiêm tốn Các em ngại học, khả năng chú ý tập trung trong giờhọc không cao Đây cũng là một trong những nguyên nhân cơ bản để người thầyphải suy nghĩ tìm giải pháp để cải thiện chất lượng giờ học Thêm nữa phần vănhọc Trung đại là phần dạy học không được nhiều giáo viên và học sinh yêu thích

2.1.2 Tình hình xã hội Việt nam từ nửa sau thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ

XIX Đây là giai đoạn suy tàn, sụp đổ của chế độ phong kiến Là giai đoạn chế độphong kiến mang tính chất tiêu cực và bất lực tính chất tiêu cực của chế độ phongkiến được thể hiện ở nhiều mặt: Kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục Tính chất bấtlực được thể hiện rõ nhất đó là sự mâu thuẫn trong xã hội, đặc biệt nhất là trongchính nội bộ của chế độ phong kiến Trong thời kỳ này, giai cấp phong kiến thốngtrị không còn vai trò lịch sử: Nắm ngọn cờ dân tộc, giương cao ngọn cờ dân tộctrong dựng nước giữ nước như thời kỳ trước đó Đây là giai đoạn suy sụp của ýthức hệ phong kiến Khổng Tử ( Đại diện cho ý thức hệ phong kiến) đã phát biểu “Quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử” ( Vua ra vua, tôi ra tôi, cha ra cha, con racon) quan niệm chính danh Nhưng đến giai đoạn này cái chính danh ấy đẳng cấp

ấy không còn nữa, tôn ti trật tự, kỷ cương của xã hội cũng không còn Điều nàyđược Phạm Đình Hổ phát biểu “ Đời suy thói tệ, thế đạo ngày một suy kém, danhphận lung tung” Như vậy rõ ràng đạo tôn quân bị phá sản, lý tưởng của lớp nho sỹ

bị khủng hoảng Trong lớp nho sỹ thời ấy có Nguyễn Du

2.1.3 Tình hình văn học: Văn học giai đoạn này so với giai đoạn trước có

nhiều biến đổi rất cơ bản Đó là sự biến chuyển trong đội ngũ sáng tác Thời kỳ nàyđội ngũ sáng tác có sự khác biệt về địa vị, hoàn cảnh sống, quan niệm sống Trướcđây đội ngũ sáng tác chủ yếu là những người có cuộc sống gắn chặt với Nhà nướcPhong kiến, họ là những nhân vật chính trị quan trọng ( Lý Thường Kiệt, TrầnQuốc Tuấn,,,) những sáng tác của họ chủ yếu để phục vụ cho hoạt động chính trị-

xã hội của họ Nhưng thời kỳ này đội ngũ sáng tác chủ yếu là những nho sỹ ẩn dật

Trang 5

Tuy xuất thân từ phong kiến, còn những quan hệ phong kiến nhưng tư tưởng của họ

đã có những khoảng cách với phong kiến rất lớn ( do hoàn cảnh tạo nên, họ lànhững nho sỹ có tư tưởng bình dân, gần dân, bị ảnh hưởng cuộc sống của ngườidân lao động Trong đó có Nguyễn Du, Nguyễn Hành, Nguyễn Công Trứ…

Khuynh hướng sáng tác trong giai đoạn này có sự biến đổi lớn Mặc dùkhuynh hướng sáng tác vẫn phản ánh về cuộc sống dân tộc, vẫn thể hiện chủ đề yêunước, tinh thần dân tộc nhưng đã xuất hiện khuynh hướng phản ánh những nhu cầudân chủ, nhân văn với hai nội dung chủ đạo gồm nội dung hiện thực và nội dungnhân đạo Nội dung hiện thực được thể hiện chủ yếu qua số phận của con người,nhất là số phận của người phụ nữ với bi kịch cuộc đời mà tác phẩm có giá trị nhất

là Truyện Kiều ( Nguyễn Du), thơ Hồ Xuân Hương… Về nội dung nhân đạo thìthông qua những giá trị phẩm chất của con người trong cuộc sống để nói lên tiếngnói thông cảm, sẻ chia, bênh vực… từ đấy khẳng định giá trị của con người Vănhọc Việt Nam giai đoạn này ngôn ngữ đã phát triển lên một bượt bước tiến mới.Trước đây ngôn ngữ văn học chữ Hán dựa trên ngôn ngữ vay mượn Trung Quốc.Đến thế kỷ XV xuất hiện chữ nôm và đóng vai trò quan trọng trong sáng tác Việc

sử dụng chữ Nôm đã chủ yếu Ngôn ngữ này được thể hiện ở nhiều lĩnh vực và tỏ

ra ưu việt bởi khả năng diễn đạt dồi dào ( Tự sự, truyện nôm, trào phúng…) Chínhđiều này văn học mang tính nhân dân rõ rệt hơn hẳn đó là việc các nhà văn, nhà thơhọc tập, vận dụng rộng rãi ngôn ngữ dân tộc, ngôn ngữ nhân dân đi vào văn họcbác học qua hai nguồn dân gian – ngôn ngữ đời thường và Truyện Kiều củaNguyễn Du là một minh chứng tiêu biểu

2.1.4 Nguyễn Du và Đoạn trường tân thanh ( Truyện Kiểu)

Nguyễn Du với gia đình, cuộc đời, con người và sự nghiệp: Ông sinh năm1765- 1820 ( Thời vua Minh Mạng) tự Tố Như, hiệu Thanh Hiên Quê ở Tiên Điền-Nghi xuân- Hà Tĩnh trong một gia đình khoa bảng đại quý tộc Đại bộ phận cácthành viên trong gia đình đỗ đạt làm quan to và đều là những nhà văn , nhà thơ nổitiếng trong đó tiêu biểu nhất là cha( Nguyễn Nghiễm) và người anh cả( NguyễnKhản) Người dân vùng Hà Tĩnh nói về Họ Nguyễn Tiên Điền này như sau:

“ Bao giờ ngàn Hống hết cây

Trang 6

Sông Rum hết nước, họ này hết quan”.

Gia đình Nguyễn Du có truyền thống văn học, có nề nếp sáng tác văn Háncũng như văn Nôm Nguyễn Nghiễm và Nguyễn Khản, cả hai cha con vừa giỏi vănthơ, vừa giỏi âm luật, vừa giỏi điêu khắc Nên vua Nguyễn Gia Long đã tặng haicha con câu: “ Nhị thân phụ tử” ( Muốn so sánh hai cha con nhà họ Nguyễn TiênĐiền với hai cha con Thân Nhân Chung, Thân Nhân Ký ở thế kỷ XV) Mặc dù làgia đình bề thế danh gia vọng tộc nhưng đến thời của Nguyễn Du gia đình bị cuốntheo tàn lưu chung của sự suy vong và có sự phân hóa quyết liệt ( Cha suốt đời làtrung thần tôn Lê; Nguyễn Khản gắn chặt với họ Trịnh) Đặc biệt là thái độ với nhàTây Sơn: Nguyễn Lễ, Nguyễn Nhưng làm quan cho Tây Sơn Nguyễn Quýnh,Nguyễn Du lại chống Tây Sơn

Cuộc đời của Nguyễn Du có thể chia 3 giai đoạn Giai đoạn lúc còn nhỏ là sựrủi ro bất hạnh so với những người anh khác 9 tuổi mất cha, 12 tuổi mất mẹNguyễn Du phải ở với người anh cả Nguyễn Khản trong tư dinh ( Phía nam chùaBích câu Hà Nội) Giai đoạn thanh niên gắn liền với chính kiến sai lầm và cuộc đờigian nan Nguyễn Du mang tư tưởng tôn Lê chống Tây Sơn 1789 khi Nguyễn Huệkéo quân ra Bắc diệt Mãn Thanh, Nguyễn Du chạy theo Lê Chiêu Thống nhưng bịbắt lại Sau được thả ông về quê vợ Thái Bình 1795 về quê và sống ở chân núiHồng Rất say mê phường vải, phường nón và sáng tác Đây là thời kỳ Nguyễn Dusống rất lận đận và nghèo túng, chìm nổi Như vậy cơn bão tố của xã hội đã làm đổithay một gia đình vọng tộc, biến Nguyễn Du từ một cậu ấm chiêu trở thành mộtnho sinh nghèo và chính cái không may ấy đã giúp cho ông có những thay đổi vềcách nhìn nhận cuộc sống, cuộc đời, hạn chế bớt những tư tưởng, quan điểm phongkiến chính thống Giai đoạn làm quan cho nhà Nguyễn: ở giai đoạn này là một nỗiniềm u uẩn dấu kín cho đến khi chết Con đường làm quan của Nguyễn Du kháthanh thông, giữ trọng trách lớn Hai lần ông được cử đi sứ sang Trung Quốc Mặc

dù được Nhà vua rất tin dùng song ở ông có nỗi niềm u uẩn lớn Ông im lặngkhông tỏ ra nhiệt tình, sốt xắng “ Đối với nhà vua ông chỉ giữ hết bổn phận chứkhông nói năng gì cả… vâng vâng dạ dạ cho qua” Có thể nói con người củaNguyễn Du là con người rất phức tạp Là đại thi hào của những vần thơ thống thiếtbênh vực con người nhưng lại chống Tây Sơn Điều đáng nói là con người của Ông

Trang 7

là con người lo đời, thương người rộng lớn sâu sắc, yêu ghét gắn liền nhau: yêu conngười, ghét cái ác Trái tim lớn, tấm lòng lớn “ Thiên tuế trường ưu vị tử tiền”( hễchưa chết còn lo mãi chuyện ngàn năm) Cái gốc của tấm lòng lớn ấy là lòng yêuthương con người ở mọi lớp người, mọi cảnh ngộ rất hiện thực, rất sâu sắc ( Sởkiến hành) Lòng thương ấy dành cho tất cả mọi người ở đây không phải chỉ conngười Việt Nam ( Quỷ môn quan), không chỉ ở phận sống mà còn dành cho cảnhững phận đã chết Ở ông vừa có cái nhìn hiện thực vừa có cái thương đời Chínhđiều này tạo nên tầm vóc lớn – thiên tài nơi ông.

Về sự nghiệp văn chương, Nguyễn Du đã để lại cho đời một khối lượng sángtác khá đồ sộ Cả sáng tác chữ Hán và chữ nôm Với những sáng tác bằng chữ Hánphải kể đến Thanh Hiên thi tập, Nam trung tạp ngâm, Bắc hành tạp lục Sáng tácbằng chữ nôm phải kể đến: Văn chiêu hồn, Văn tế, Thác lời trai phường nón và đặcbiệt phải kể đến Đoạn trường tân thanh ( Truyện Kiều) Truyện Kiều, có nguồn gốc

xã hội bắt nguồn từ một câu chuyện có thật trong lịch sử Trung Quốc ở đầu đờiMinh vùng Hoa Đông Hoa Nam Có đám giặc cỏ do Từ Hải đứng đầu( giặc ngụy).Triều đình nhà Minh cử tổng đốc Hồ Tôn Hiến đi dẹp Hồ Tôn Hiến lừa dẹp TừHải bằng cạm bẫy dùng vàng bạc mua chuộc hai thị nữ bên Từ Hải là Thúy Kiều vàLục Châu Từ Hải bị thua và bị chết(…) Truyện Kiều có nguồn gốc văn học ( đãđược giới thiệu trong SGK văn 9- Tập 1) Có thể nói Nguyễn Du đã dựa vào tácphẩm Kim Vân Kiều truyện để viết Truyện Kiều Nếu so sánh Truyện Kiều với

Kim Vân Kiều truyện thì ta thấy có nhiều điểm giống nhau về nội dung, chi tiết vì

Nguyễn Du đã vay mượn đề tài và cốt truyện của Kim Vân Kiều truyện Tuy nhiên giữa hai tác phẩm là khoảng cách lớn về nghệ thuật Kim Vân Kiều truyện nặng về tiểu sử rườm rà, xem thường khắc họa tính cách nhân vật Trong khi đó Truyện

Kiều của Nguyễn Du đã đưa ra một thế giới nhân vật rất phong phú, đa dạng, nhân

vật nào cũng sống động có cuộc sống nội tâm sâu sắc Chính sự khác nhau đó làm

nên số phận của mỗi tác phẩm khác nhau Kim Vân Kiều truyện không có tiếng tăm còn Truyện Kiều là một kiệt tác không chỉ của Việt Nam mà còn của cả thế giới.

Khi nói về động cơ sáng tác Truyện Kiều của Nguyễn Du, Mộng LiênĐường đã nói: Viết Truyện Kiều là để bộc lộ nỗi niềm cảm hứng đau đớn cho cuộcđời chìm nổi của chính mình Ở đây khóc người là để khóc mình Trần Trọng Kim

Trang 8

thì cho rằng: Để gửi tấm lòng cô chung với Nhà Lê Nguyễn Du một trung thần gặplúc Nhà Lê suy vong giống Kiều gặp cơn gia biến Muốn giữ mình nhưng đánh mấtmình ( Tất nhiên trong văn chương bao giờ cũng có tấm lòng của tác giả), nói nhưthế không phải là sự đồng nhất tác giả với văn chương mà đó chính là tấm lòng củaNguyễn Du đối với những số phận đau khổ của những con người trong xã hộiphong kiến “ Đau đớn thay phận đàn bà…” Tiếng lòng Nguyễn Du thốt lên vớinhững con người đau khổ mà Kiều là đại diện Về những vấn đề trong TruyệnKiều, trước hết phải chú ý đến vấn đề xã hội và con người Nói đến con người lànói đến phẩm chất và khát vọng về giá trị sống, giá trị bản thân Trong phẩm chấtphải hội tụ đầy đủ sắc tài, đấy là giá trị tự nhiên tôn vinh con người trong đó sắc tàigắn liền với xã hội Với Nguyễn Du cái đẹp của con người là sự kết hợp của 3 yếutố: Sắc, tài, tình Đấy cũng là tính chất cách tân trong quan điểm thẩm mỹ của TốNhư tiên sinh Trong đó ông muốn khắc họa cái đức, cái tình, cái ân nghĩa của cuộcđời thông qua nhân vật của mình Cũng thông qua nhân vật ông muốn phơi bày vậnmệnh bi kịch trong xã hội đen tối, nghiệt ngã khiến cho giá trị con người, giá trịcuộc sống không thể khẳng định Từ ấy thể hiện ước mơ tự do công lý ( Từ Hải).Nghệ thuật trong Truyện Kiều là sự kết tinh những tinh hoa , giá trị truyền thốngvăn học Việt Nam có sự thống nhất giữa hình thức và nội dung Hình thức đẹp đẽxứng đáng với nội dung Thành công đầu tiên trong nghệ thuật là xây dựng nhânvật Số lượng nhân vật trong truyện Kiều gồm 30 nhân vật, gồm nhiều loại người:Tiểu thư khuê các, anh hùng phản nghịch, tu hành, thư sinh, lưu manh… Các nhânvật được chia làm 2 loại: Chính diện – phản diện Để từ đó phơi bày mâu thuẫn xãhội giúp phơi bày bản chất xã hội, phát hiện vận mệnh con người trong xã hội.Nghệ thuật khắc họa ngoại hình nhân vật, ở đây chú ý đến bút pháp lý tưởng hóa( nhân vật chính diện) và bút pháp tả thực( nhân vật phản diện) Qua ngoại hình cáthể hóa nhân vật để thấy rõ từng loại người Nghệ thuật xây dựng ngôn ngữ đốithoại Truyện Kiều có 3254 câu thơ lục bát, trong đó có 1200 câu là ngôn ngữ đốithoại Vận dụng ngôn ngữ bác học và ngôn ngữ bình dân Nghệ thuật sử dụng ngônngữ độc thoại, đây là bước phát triển lớn về thi pháp trong xây dựng nhân vật củavăn học ( …) Như vậy sự kết hợp nghệ thuật và quan điểm thẩm mỹ của Nguyễn

Du đã có 2 mặt: truyền thống và cách tân Tiếp thu tinh hoa truyền thống có cả

Trang 9

nước ngoài chủ yếu Trung Quốc thông qua vận dung những điển tích điển cố, đồngthời có sự đổi mới, sáng tạo quan trọng

2.2 THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ TRƯỚC KHI ÁP DỤNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

Cấu trúc nội dung chương trình Ngữ Văn nói chung và phần Truyện Kiều nóiriêng được biên soạn đổi mới từ năm học 2004 – 2005, nhiều văn bản có tư tưởng

nội dung quá lớn so với mức độ nhận thức của học sinh Đối với giáo viên: Việc dạy

học trên thực tế ở Nhà trường THCS Thị Trấn Hậu Lộc, các thầy cô đã nắm đượcphương pháp dạy học tích cực, thầy cô đã phát huy được tính tích cực chủ động tronghoạt động dạy-học hướng tới phát huy tính sáng tạo trong học sinh Đã có nhiều cố gắngtrong vận dụng các phương pháp, kỹ thuật dạy học theo hướng đổi mới vào các giờ dạyhọc Tuy nhiên với đặc điểm của Nhà trường THCS Thị Trấn Hậu Lộc là một Nhàtrường có quy mô nhỏ, chất lượng học sinh đầu vào thấp vì thế có rất nhiều khó khăntrong đổi mới dạy học đặc biệt trong dạy học một Kiệt tác của một đại thi hào trong Vănhọc Trung đại Hơn nữa với giờ dạy đoạn trích “ Kiều ở lầu Ngưng Bích” có nhữnggiáo viên còn sử dụng phương pháp thuyết trình, không có sự kết hợp linh hoạt các

phương pháp nên mất đi sự hấp dẫn phong phú trong tiết học Đối với học sinh: phong

trào học tập của học sinh còn hạn chế, ý thức thi đua học chưa cao Các em rất ngạihọc phần Văn học Trung đại vì Tài liệu phục vụ việc học của các em còn ít, khôngphong phú Đại đa số học sinh trong khối 9 có sức học trung bình chiếm tỉ lệ cao.Mặt khác, “xu thế” hiện nay các em thích học các môn khoa học tự nhiên nhiều hơn,nên niềm say mê với bộ môn Ngữ Văn không còn nhiều như trước đây Do đó, để mộttác phẩm đến gần với học sinh, tạo niềm say mê yêu văn học và giúp các em tiếp cậnđúng tác phẩm văn chương thì giáo viên phải cung cấp, rèn luyện cho các em có thóiquen học đa chiều, tích hợp kiến thức, áp dụng các giải pháp ưu việt để giải quyết vấn

đề đặt ra trong tác phẩm

Khảo sát chất lượng học sinh

Qua một bài kiểm tra khảo sát đầu năm học (2019 – 2020), môn Ngữ Văncủa học sinh lớp 9 THCS Thị Trấn Hậu Lộc, kết quả như sau:

Trang 10

SL % SL % SL % SL %

Xuất phát từ thực trạng của vấn đề, từ cơ sở lý luận của vấn đề và từ yêu cầuđổi mới dạy-học trong bộ môn Ngữ Văn trong nhà trường THCS nói chung trườngTHCS Thị Trấn Hậu Lộc nói riêng mà trong sinh hoạt chuyên môn của nhóm dạyNgữ Văn trong nhà trường, tôi và đồng nghiệp đã lấy cách thức dạy-học hướng đếnnăng lực của các em học sinh làm đề tài sinh hoạt, chúng tôi cũng đã soạn giáo án

và lên lớp để thực nghiệm đề tài của mình và đã thu được kết quả tích cực từ các

em học sinh

2.3 CÁC GIẢI PHÁP , BIỆN PHÁP SỬ DỤNG ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

Để thực hiện thành công tôi đã tiến hành một số giải pháp sau:

Giải pháp 1: Để hướng học sinh tiếp cận tác phẩm tôi nghiên cứu về đặc

trưng thể loại của văn bản, về con người, gia đình, quê hương , phong cách sángtác của Nguyễn Du, về chủ đề, về nội dung tư tưởng của tác phẩm để từ đó xácđịnh trọng tâm của giờ dạy học

Giải pháp 2: Sử dụng các phương pháp dạy học tích cực, tích hợp cùng với

việc ứng dụng công nghệ thông tin`để bài dạy đạt kết quả cao

Giải pháp 3: Xác định hình thức tổ chức và kỹ thuật dạy-học phát huy năng

lực học tập ở học sinh

Trên cơ sở ba giải pháp lớn, tôi đã tiến hành một số biện pháp thực hiện saunhằm mục đích giúp học sinh tiếp cận một cách tích cực văn bản học từ đó pháthuy năng lực tiếp cận và xử lý thông tin, phát huy năng lực cảm thụ thẩm mỹ, nănglực trình bày và góp phần bồi dưỡng tâm hồn các em hướng tới cái đẹp trong cuộcsống

Biện pháp 1: Tìm hiểu về đặc trưng thi pháp truyện thơ nôm Trung đại từ

đó xác định cách dạy-học Đọc- Hiểu văn bản, một phương pháp dạy học tích cựctrong môn học Ngữ văn

Ngày đăng: 09/06/2022, 22:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w