Đổi mới phương pháp dạy học đối với phân môn Tập làm văn thì hiện nay các trường tổ chức các chuyên đề, hội thảo để đưa ra các phương pháp dạy phân môn Tập làm văn mà đặc biệt là phần lậ
Trang 11 MỞ ĐẦU 1.1 Lí do chọn đề tài.
Ngữ văn là một môn học thuộc nhóm khoa học xã hội cho nên có tầm quan trọng trong việc giáo dục quan điểm, tư tưởng, tình cảm cho học sinh, đồng thời còn là một môn học thuộc nhóm công cụ, môn Ngữ văn còn thể hiện rõ mối quan hệ với các môn học khác Học văn là học cách nói lời hay, làm việc tốt trong cuộc sống Cấu trúc của môn Ngữ văn các cấp gồm 3 phân môn: Văn học, Tiếng việt, Tập làm văn Phân môn Tập làm văn trong chương trình Trung học
cơ sở giữ vai trò quan trọng Đây là môn học mang tính thực hành để tạo lập một văn bản viết và văn bản nói Mỗi bài Tập làm văn mà các em viết ra, nói ra là sản phẩm sáng tạo của chính các em Làm tốt Tập làm văn để các em thành thạo
và vững vàng tự tin trước mọi tình huống trong cuộc sống
Khi dạy phân môn Tập làm văn giáo viên thường ngại dạy vì nó là một
đề tài khó, khô, cứng; học sinh hường hay nhàm chán vì thế giờ dạy khó thành công Đổi mới phương pháp dạy học đối với phân môn Tập làm văn thì hiện nay các trường tổ chức các chuyên đề, hội thảo để đưa ra các phương pháp dạy phân môn Tập làm văn mà đặc biệt là phần lập dàn ý cho bài văn chưa nhiều Cho nên việc bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên còn hạn chế
Lập dàn ý là thao tác quan trọng vì nó là khâu quyết định hướng dẫn cho học sinh viết được một bài văn đầy đủ, hoàn chỉnh, chặt chẽ Việc lập dàn ý còn thể hiện khả năng tư duy của từng cá nhân người học Giáo viên là người hướng dẫn chỉ đạo để học sinh hình thành kỹ năng tạo lập văn bản Từ thực tế giảng dạy của bản thân và thực tế giảng dạy môn Ngữ văn đặc biệt là phần lập dàn ý cho bài văn tự sự đây là phần mà bản thân người dạy thường ngại dạy, chưa chú trọng, chưa quan tâm đầu tư, còn học sinh do xu thế xã hội môn Ngữ văn đang dần mất đi vị thế của nó cho nên học sinh chưa chú trọng đến việc học môn Ngữ văn mà đặc biệt là thường bỏ qua khâu lập dàn ý khi viết bài cho nên chất lượng bài viết của học sinh còn kém
Hơn nữa, phụ huynh trên địa bàn xã Mỹ Lộc điều kiện kinh tế còn khó khăn cho nên chưa quan tâm sát sao, chăm sóc đến con em mình, học sinh ít mặn mà với bộ môn Ngữ văn và chỉ coi đó là môn học bắt buộc để thi vào lớp 10
Đó là những lí do mà bản thân tôi đã trăn trở trong mỗi giờ lên lớp là làm sao để phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh Và từ việc tìm tòi, học hỏi, rút kinh nghiệm từ bạn bè, đồng nghiệp rồi rút ra cho mình những giảp pháp rèn luyện kĩ năng lập dàn ý cho bài văn tự sự cho học sinh đã đem lại kết quả khả quan, chất lượng phân môn Tập làm văn nói riêng và môn Ngữ văn nói chung có những bước tiến triển Vì thế tôi mạnh dạn chọn đề tài
Trang 2nghiên cứu: “ Một số giải pháp rèn kỹ năng lập dàn ý cho bài văn tự sự lớp 6 ở trường TH& THCS Mỹ Lộc”.
1.2 Mục đích nghiên cứu.
Việc lập dàn ý trước khi viết bài văn tự sự sẽ:
- Hướng dẫn các em có sự suy nghĩ, động não, có sự cân nhắc suy tính và chọn lựa những kiến thức cần thiết trọng tâm để triển khai trong văn bản
- Hệ thống được các ý chính để có định hướng đúng khi viết bài, tránh thiếu ý, trùng lặp ý
- Sắp xếp các ý theo một trình tự hợp lí khi viết bài
Để từ đó giúp các em tạo lập được một bài văn hoàn chỉnh đạt hiệu quả cao đáp ứng yêu cầu của đổi mới phương pháp dạy học hiện nay mà ngành Giáo dục đã đề ra
1.3 Đối tượng nghiên cứu.
Đề tài hướng tới đem lại hiệu quả cho việc làm văn của học sinh lớp 6 nên
Một số giải pháp rèn kỹ năng lập dàn ý cho bài văn tự sự lớp 6 ở trường TH
& THCS Mỹ Lộc chính là đối tượng nghiên cứu của đề tài
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp dạy học lấy học sinh làm trung tâm: Thầy là người hướng dẫn đưa ra những vấn đề, trò chủ động tìm tòi kiến thức
Phương pháp quan sát
Phương pháp thống kê: Xử lý kết quả thực nghiệm lên biểu mẫu thống kê phân tích kết quả thu được, rút ra nhận xét
Khảo sát, thực nghiệm, phương pháp nêu ví dụ, phương pháp tổng phân hợp, vận dụng một số phương pháp chung của bộ môn Từ đó đưa ra các kỹ năng đã áp dụng trong thực tế giảng dạy và đã đạt hiệu quả trong giảng dạy
2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.
Trong những năm gần đây vấn đề dạy học theo phương pháp đổi mới đã
và đang thực hiện một cách đồng bộ ở tất cả các cấp học, các môn học.Nằm trong hệ thống các môn văn hóa cơ bản của cấp học Trung học cơ sở, bộ môn Ngữ văn cũng đã đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng” Phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh”.Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của người học Tuy nhiên trong quá trình dạy học một phần bị ảnh hưởng bởi thực trạng của đối tượng học sinh theo từng lớp, từng môn
Đối với việc học môn Ngữ văn của học sinh Trung học cơ sở cần phải phát huy tối đa sự sáng tạo cho các em nhất là kỹ năng cảm thụ sáng tạo một văn bản nghệ thuật, từ việc tìm hiểu văn bản nghệ thuật học sinh tiếp tục phải chủ động và sáng tạo trong việc tạo lập một văn bản nghệ thuật (Tập làm văn) như
Trang 3thế mới phát huy được kỹ năng vận dụng lý thuyết vào thực hành Nhưng đối với học sinh lớp 6 thì việc tạo lập một văn bản trọn vẹn về nội dung và hoàn chỉnh về hình thức là rất khó Bởi vậy rất cần thiết định hướng cho các em biết cách xây dựng một dàn ý hoàn hảo trước khi tạo lập một văn bản theo yêu cầu Bài tập làm văn thực chất vẫn là một văn bản giao tiếp gián tiếp với một đối tượng cụ thể Nó vẫn phải trả lời được các câu hỏi như: Viết cái gì? Viết cho ai? Viết để làm gì? Tất cả các lý thuyết và kinh nghiệm tạo lập văn bản được đưa vào một kế hoạch làm văn, trong kế hoạch đó nhất thiết phải trải qua bước lập dàn ý để thâu tóm hết những phần lý thuyết và kinh nghiệm của người viết Qua dàn ý học sinh có thể kiểm tra xem định hướng viết bài của mình đã phù hợp, đã trả lời được các câu hỏi ở trên chưa Như vậy để phân môn Tập làm văn thực sự
là môn học thực hành, để bài viết của học sinh thực sự có chất lượng chúng ta cần hướng dẫn học sinh từ nhận thức về mục đích đến giải quyết các vấn đề về phương pháp lập dàn ý trước khi viết bài văn
Bản thân là giáo viên trực tiếp giảng dạy môn Ngữ văn 6 tôi nhận thấy rằng khi dạy các tiết về phân môn Tập làm văn đặc biệt là phần lập dàn ý trong bài văn tự sự các em chưa thể vận dụng lý thuyết để rèn luyện kỹ năng, chưa biết lựa chọn chi tiết, xây dựng nhân vật, dàn ý còn mắc nhiều lỗi
2.2 Thực trạng của vấn đề nghiên cứu.
2.2.1 Kết quả khảo sát thực trạng khi chưa thực hiện đề tài
Qua khảo sát chất lượng bộ môn Ngữ văn cuối học kì 2 đối với học sinh lớp 6 trường TH và THCS Mỹ Lộc qua năm học trước tôi thấy:
Lớp Sĩ
số
Qua đó cho thấy, tỷ lệ học sinh ở mức khá còn ít, tỷ lệ học sinh đạt điểm yếu còn cao
Từ kết quả bài làm của học sinh, hầu hết các em mắc chung lỗi chủ yếu là
kỹ năng lập dàn ý chưa tốt, còn lúng túng, các ý sắp xếp còn lộn xộn… Số học sinh lập dàn ý tốt chủ yếu chỉ tập trung vào một số học sinh khá giỏi môn Ngữ văn
Đây là những con số đáng lo ngại Qua quá trình chấm bài tôi nhận thấy học sinh thường mắc phải những lỗi:
- Về khả năng nhận thức yêu cầu của đề: Nhiều học sinh không xác định đúng yêu cầu của đề bài, thậm chí không đọc kĩ đề bài, chỉ cần đọc qua loa,
Trang 4không cần lập dàn ý thường đặt bút viết luôn dẫn đến đề yêu cầu một đằng nhưng nội dung bài viết lại trình bày một nẻo
- Về việc tuân thủ cách làm bài: Nhiều học sinh không tuân thủ cách làm bài, tỏ ra không nắm vững cấu trúc mà kiểu bài quy định, một số học sinh thường viết theo cảm tính và suy nghĩ chủ quan, điều này dẫn đến kết qủa thường không cao, cho dù diễn đạt tốt cũng vậy
- Tình trạng phổ biến nhất đối với học sinh lớp 6 hiện nay là vấn đề nhận thức rất đơn giản và sơ lược khi tiến hành làm bài văn tự sự không cần thiết lập dàn ý dẫn đến sắp xếp ý lộn xộn, lặp ý hoặc thiếu ý, thiếu thời gian và chưa có động cơ thái độ đúng đắn trong học tập
- Trong bài viết của các em, lỗi chính tả còn nhiều, lỗi dùng từ và đặt câu còn rất phổ biến Cá biệt có những học sinh không có ý thức về việc chấm câu
và nguyên tắc viết hoa Nhiều học sinh chưa biết dựa vào dàn ý để phát triển đoạn văn, bài văn, tình trạng sử dụng văn nói trong bài viết rất nhiều Đa số các
em theo cảm tính chưa phối hợp các thao tác làm bài một cách nhuần nhuyễn để bài viết có sức thuyết phục hơn
Từ những thực trạng nói trên có thể coi là rào cản hạn chế chất lượng bộ môn Ngữ văn 6 những năm gần đây, đòi hỏi giáo viên cấp thiết giúp học sinh tìm cách khắc phục
2.2.2 Nguyên nhân.
Thực trạng nói trên là do nhiều nguyên nhân, ở phạm vi đề tài này, tôi chỉ nêu một số nguyên nhân cơ bản sau:
Trong chương trình Ngữ văn 6 hiện nay việc lập dàn ý cho đề văn tự sự -môn Ngữ văn 6 không được tách ra riêng từng tiết dạy cụ thể mà chỉ gộp vào trong các bài cách làm bài văn
- Khả năng tư duy và yếu cầu kĩ năng lập dàn ý ở Tiểu học không được hướng dẫn cụ thể dẫn đến lên cấp Trung học cơ sở cò nhiều em ngày càng đuối sức khi tiến hành làm bài văn tự sự
- Sự hướng dẫn của Sách giáo khoa chưa cụ thể khiến học sinh còn lúng túng
- Học sinh nhận xét đề văn chưa đầy đủ, đọc đề chỉ lướt qua mà không tìm được ý; thiếu sự tưởng tượng, sáng tạo, ít cảm xúc, nghèo vốn từ Đồng thời một
số em chưa ý thức góp phần xây dựng bài chưa tích cực, độc lập
- Giáo viên cũng chưa thực sự coi trọng việc rèn luyện kĩ năng lập dàn ý cho học sinh
Trang 5- Một số học sinh chưa thực sự quan sát thực tế hoặc ước lượng thiếu chính xác, dẫn đến khi làm bài sẽ bị lệch, dùng từ thiếu chính xác, sắp xếp các ý không theo trình tự Vì thế để có thể thấy được năng lực lập dàn ý của học sinh cũng như phát hiện ra lỗi mà các em thường gặp tôi đã tiến hành tìm hiểu thực tế
ở khối 6
Trên đây là những khó khăn cơ bản đối với giáo viên dạy môn Ngữ văn Trung học cơ sở nói chung và phân môn Tập làm văn 6 nói riêng hiện nay, đòi hỏi phải có những giải pháp tháo gỡ nhằm nâng cao chất lượng bộ môn
2.3 Các giải pháp sử dụng để giải quyết vấn đề.
2.3.1.Hệ thống kiến thức cơ bản liên quan đến lập dàn ý cho bài văn tự sự ở lớp 6.
Trước khi rèn luyện kỹ năng lập dàn ý cho bài văn tự sự môn Ngữ văn 6
giáo viên cần giúp học sinh hiểu được khái niệm, vai trò, đặc đểm và các kiều bài văn tự sự.
a Khái niệm văn tự sự.
Tự sự còn gọi là kể chuyện, là một thể loại văn khá thông dụng và là một hoạt động nghệ thuật có từ xa xưa
Tự sự là phương thức chủ yếu để nhận thức được sự việc Tự chữ Hán nghĩa là “kể”, sự là “việc”, “chuyện” Như vậy mục đích kể chuyện là để biết, để nhận thức con người và cuộc sống
Sách Ngữ văn 6 được biên soạn theo chương trình cải tiến của Bộ giáo dục và đào tạo năm 2002 đã định nghĩa văn tự sự như sau: Tự sự (kể chuyện) là phương thức trình bày một chuỗi các sự việc, sự việc này dẫn đến sự việc kia, cuối cùng dẫn đến một kết thúc thể hiện một ý nghĩa Mục đích của tự sự là trình bày diễn biến sự việc nhằm giải thích sự việc, tìm hiểu con người, nêu vấn đề và bày tỏ thái độ khen chê của người kể
Trong đề tài này tôi căn cứ vào định nghĩa này
b Vai trò: Không ngẫu nhiên mà văn tự sự lại chiếm một vị trí quan trọng
như vậy trong chương trình Ngữ văn 6 cấp Trung học cơ sở Trong văn học tự sự được xem là một thể loại văn sáng tác Phương thức tự sự có mặt ở hầu hết các thể loại như: Thơ, truyện ngắn, phóng sự, kịch…Vì vậy tự sự đã trở thành yếu
tố của thi pháp trong nhà trường Trung học cơ sở cùng với thể loại khác, văn tự
sự giúp học sinh rèn luyện ngôn ngữ một cách toàn diện Lý thuyết về Tập làm văn là lý thuyết về kỹ năng, lý thuyết các hoạt động giao tiếp, và các phương thức biểu đạt, về các kiểu bài thực hành để đáp ứng giao tiếp và biểu đạt Từ đó
Trang 6các em sẽ được nâng cao nhận thức về tư tưởng, tình cảm để thực hiện tốt các chức năng giáo dục, giáo dưỡng của quy trình đào tạo
c Đặc điểm của văn tự sự:
- Có chuyện để kể: Hai yếu tố tạo nên câu chuyện là sự việc có diễn biến
và ý nghĩa – điều muốn nói qua sự việc được kể lại Sự việc là yếu tố quan trọng
là cốt lõi của văn tự sự, không có sự việc là không có tự sự Sự việc có diễn biến
là các sự kiện, tình tiết, chi tiết, nhân vật có quan hệ với nhau tạo nên sự phát triển liên tục từ khi bắt đầu câu chuyện cho đến khi kết thúc câu chuyện Sự việc
có diễn biến tạo nên phần xác của câu chuyện Đúng như tác giả Phạm Hổ đã
nói: Sự việc có diễn biến chỉ là phương tiện còn ý nghĩa – điều muốn nói mới là mục đich của câu chuyện.
- Có nhân vật, tình huống, tình tiết Tạo nên sự việc có diễn biến trong câu chuyện là các nhân vật và hành trạng của nhân vật Các nhân vật trong câu chuyện thường được miêu tả trong nhiều mối quan hệ với những người xung quanh, với thiên nhiên và cuộc sống xã hội…
- Bên cạnh đó câu chuyện bao gồm nhiều tình huống Có tình huống tạo
sự xung đột gay gắt, có tình huống tạo sự tương phản làm nổi bật tính cách nhân vật hoặc hoàn cảnh xã hội
- Dựa trên một cách kể nhất định Cách kể chuyện do nhiều yếu tố tạo nên Cách sắp xếp câu chuyện, cách mở đầu, kết thúc, cách thắt nút, cách lựa chọn ngôi kể, giọng kể, lựa chọn chi tiết, tình huống
d Các kiểu bài văn tự sự
Hiện nay ở cấp Trung học cơ sở người ta chia văn tự sự ra thành 2 loại:
- Kể chuyện đời sống, người thực việc thực
Chuyện đời sống chỉ là những chuyện đời thường, đời thực Gồm chuyện
kể về người thực, việc thực hay chuyện thuộc loại danh nhân của những người nổi tiếng Chuyện từ đời sống bao hàm cả những câu chuyện hư cấu, tưởng tượng nhưng phản ánh cuộc sống bình thường hàng ngày, nhìn chung từ đời sống là chuyện phản ánh đời sống hàng ngày có thực
Ví dụ: Kể một kỉ niệm về thầy cô giáo làm em nhớ mãi
- Kể chuyện tưởng tượng.
Tái hiện để nhớ lại sự việc cho sinh động và đầy đủ như vốn có của nó, hoặc tưởng tượng sáng tạo để tạo ra những người, những sự việc chưa bao giờ
có Trong tưởng tượng sáng tạo lại có nhiều cách: Hoặc là tưởng tượng một câu chuyện hệt như có thật hoặc là tưởng tượng một câu chuyện mà tính chất tưởng tượng rất lộ liễu, không che đậy…
Trang 7Ví dụ: Tưởng tượng một cuộc đọ sức giữa Sơn Tinh - Thủy Tinh.
2.3.2 Rèn kỹ năng lập dàn ý kiểu bài văn tự s ự trong chương trình Ngữ văn 6
Hướng dẫn học sinh hình thành kỹ năng lập dàn ý tốt cần thực hiện các giải pháp sau:
Giải pháp thứ 1:Giáo viên hướng dẫn học sinh nắm vững các bước
tiến hành làm bài văn tự sự.
a Bước Tìm hiểu đề
Đề bài văn kể chuyện thường phức tạp hơn nhiều so với đề bài văn tường thuật hay miêu tả
Đề bài văn kể chuyện nội dung thường không có sẵn nhiều khi người làm bài phải sáng tác ra Vì vậy đề bài kể chuyện phải cung cấp đề tài, chủ đề, có khi cung cấp cả cái sườn, sự việc để người làm phát triển thêm Thiếu sự cung cấp các dữ kiện, không thể triển khai làm bài tốt
Ví dụ : Đã lâu lắm rồi em mới có dịp gặp cô giáo cũ, người đã tận tình
dạy dỗ, chăm sóc hồi em vừa mới bắt đầu đi học Hãy kể lại cuộc gặp gỡ đầy xúc động đó.
Đây là đề bài kể chuyện từ đời sống
Đề bài yêu cầu kể lại cuộc gặp gỡ xúc động giữa học trò với cô giáo cũ (thể hiện tình cảm thân thiết giữa cô giáo và học sinh)
- Cô giáo có đặc điểm gì khiến cuộc gặp gỡ xúc động?
+ Đã lâu lắm không gặp lại
+ Cô giáo dạy lúc mới bắt đầu đi học tức là cô giáo lớp Một nay em đã học lớp 6 thì cách nhau đã 5- 6 năm
- Đã tận tình dạy dỗ, chăm sóc em, có nghĩa là em đã từng có khó khăn, phải nhờ cô tận tình dạy dỗ, chăm sóc mới vượt qua được, điều đó đã thành kỷ niệm khó quên Trường hợp nào khiến em cảm thấy được cô tận tình dạy dỗ và chăm sóc em? Thế nào là cuộc gặp gỡ đầy xúc động? Chào hỏi đôi câu, hỏi thăm một vài câu chuyện chưa thể là cuộc gặp gỡ đầy xúc động
Như vậy tìm hiểu đề là lý giải đầy đủ, sâu sắc các dữ kiện mà đề đã cung cấp để kể ra một câu chuyện phù hợp
Tóm lại: Trong khâu tìm hiểu đề của bài kể chuyện, điều quan trọng nhất
là tìm hiểu sự quy định về chủ đề, tình huống, cách kể Tìm hiểu hời hợt thì các
sự việc, chi tiết lựa chọn không đắt và câu chuyện định kể sẽ lạc đề, xa đề
b Bước 2: Tìm ý, chọn ý và xác định ý nghĩa cho câu chuyện.
* Xác định cốt truyện và ý nghĩa câu chuyện.
- Khi xây dựng cốt truyện, cần trình bày toàn bộ diễn biến câu chuyện Câu chuyện bắt đầu từ lúc nào? Các sự việc diễn biến ra sao? Lúc nào là cao trào? Lúc nào là kết thúc?
Trang 8Ví dụ: Khi làm đề bài: “Em đã học truyện cổ tích Thạch Sanh.(
SGK-Ngữ văn 6, Tập 1), em hãy kể lại chuyện mẹ con Lý Thông lừa Thạch Sanh đi giết Trăn Tinh.”
Với đề này khi xác định cố truyện người viết cần làm rõ:
- Câu chuyện bắt đầu khi mẹ con Lý Thông được tin báo đến lượt Lý Thông phải ra miếu Trằn Tinh để nộp mạng Chúng đã bàn mưu lừa Thạch Sanh
đi thay
- Cao trào nhất là lúc Thạch Sanh gọi cửa báo tin đã giết được Trăn Tinh
Mẹ con Lý Thông khấn lạy rối rít Nhưng sau khi biết được sự thật lại dọa và đuổi Thạch Sanh đi
- Câu chuyện kết thúc khi Thạch Sanh ra đi
* Xây dựng nhân vật.
Nhân vật trong văn kể chuyện có thể được miêu tả cả ngoại hình lẫn nội tâm, có tính cách, có tên tuổi, có tiểu sử Trong câu chuyện có thể có nhiều nhân vật: Nhân vật chính, nhân vật phụ, nhân vật chính diện, nhân vật phản diện Mối quan hệ giữa nhân vật và cốt chuyện là mối quan hệ hữu cơ gắn bó với nhau
Xây dựng nhân vật là yếu tố cơ bản trong văn tự sự Nhưng còn phải biết miêu tả nhân vật, có như thể người đọc mới hình dung rõ hành động nhân vật từ
đó giúp người đọc hình dung được tính cách nhân vật, ý nghĩa câu chuyện
* Xây dựng tình tiết
Xác định được tình tiết là quan trọng, nhưng điều quan trọng hơn nữa là phải liên kết các sự kiện, sự việc thành một hệ thống hoàn chỉnh thống nhất để bộc lộ được ý nghĩa tư tưởng của chuyện Một cốt chuyện bao gồm rất nhiều tình tiết Tình tiết phải được sắp xếp theo một trình tự nhất định Từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp
c Bước 3: Lập dàn ý
Lập dàn ý hay gọi là xây dựng bố cục cho bài văn, tức là làm kết cấu của bài văn thể hiện trọng tâm, trọng điểm của bài văn đó Kêt cấu là sự sắp xếp các nhân tố nội dung Với văn bản nghị luận thì bố cục của nó gồm 3 phần: Đặt vấn
đề, giải quyết vấn đề, kết thúc vấn đề
- Phần mở bài: Thông thường khi kể một câu chuyện người ta thường bắt
đầu từ việc giới thiệu nhân vật và tình huống phát sinh câu chuyện gây sự chú ý cho người đọc
- Phần thân bài: Kể diễn biến các sự việc để thể hiện phẩm chất, tính
cách, con người hay ý nghĩa của sự việc Sự việc này có thể được sắp xếp theo nhiều cách
- Phần kết thúc: Kết thúc sự việc, khép lại câu chuyện, nêu suy nghĩ, cảm
tưởng về câu chuyện hoặc nhân vật được kể
d Bước 4: Viết bài văn tự sự.
Trang 9Đối với văn bản tự sự khó nhất là phần mở bài và phần kết thúc câu chuyện Có người ví mở đầu là mở cửa mời người đọc vào sống với câu chuyện Còn kết thúc là tiễn người đọc ra về, khép cửa lại Nếu người đọc không muốn bước chân qua cửa để vào nhà hoặc người đọc ra về mà không nhớ gì, không suy nghĩ vui buồn một chút nào cùng câu chuyện vừa được nghe, kể hay vừa đọc thì có nghĩa là người viết đã thất bại Có rất nhiều cách mở bài và cũng có rất nhiều cách kết thúc câu chuyện Cách kết thúc chuyện thường hay gắn với chủ
đề của chuyện
e Bước 5: Đọc và sửa chữa
Để đánh giá bài văn, chúng ta cần thực hiện giai đoạn kiểm tra, sửa chữa, hoàn thiện văn bản Đồng thời tiến hành phân loại lỗi, gọi tên những thiếu sót hoặc lỗi đã mắc trong bài Một điều cần chú ý nữa là việc hoàn thiện và điều chỉnh có thể tiến hành, thực hiện ngay sau khi học sinh viết bài xong
Giải pháp thứ 2: Hướng dẫn học sinh lập dàn ý cho bài văn tự sự
a Những yêu cầu cơ bản của kỹ năng lập dàn ý
Muốn lập dàn ý cho bài văn phải nắm được các yêu cầu cơ bản của dàn ý
- Dàn ý phải đáp ứng đúng yêu cầu về nội dung, hình thức, thể loại, mục đích, đối tượng và về cả những giới hạn mà đề bài xác định
- Dàn ý phải đảm bảo tính chặt chẽ và hợp lô gic
- Dàn ý phải cân xứng, hài hòa giữa các phần, các mục
- Dàn ý cần trình bày sáng sủa, mạch lạc, dễ hiểu thông qua các từ ngữ và các ký hiệu thích hợp
- Đối với dàn ý bài văn tự sự ở lớp 6 phải phù hợp với đối tượng học sinh đầu cấp cơ sở Nghĩa là dàn ý phải được trình bày rõ ràng, mạch lạc, dễ hiểu và đúng thể loại
b Mục đích của dàn ý: Giúp học sinh hệ thống được toàn bộ nội dung và
phạm vi vấn đề do đề bài nêu ra Trên cơ sở đó, học sinh xác định được các ý lớn của bài và từ đó các em dựa vào cái sườn của dàn bài để phát triển đoạn; đồng thời giúp người viết phân bố thời gian hợp lí trong quá trình làm bài Tất
cả đều phụ thuộc vào bố cục bởi dàn ý là cái tự xây dựng, mang tính sáng tạo, rèn luyện được kĩ năng cho mỗi học sinh Chắc chắn rằng các em sẽ thành công trong việc tạo lập văn bản
c Mô hình lập dàn ý của bài văn tự sự
Các tài liệu dạy học, làm văn thường đưa ra nhiều loại dàn ý trong đó có 2 loại cơ bản:
- Dàn ý đại cương ( sơ lược )
- Dàn ý chi tiết
+ Dàn ý đại cương: Là loại dàn ý nêu lên những ý chính, ý lớn và những ý
bộ phận triển khai cho các ý chính đó
Trang 10+ Dàn ý chi tiết: Là loại dàn ý được phát triển tiếp tục các ý bộ phận ở dàn
ý sơ lược thành các ý chi tiết hơn, phong phú hơn
Đối với bài văn tự sự, do đặc trưng của loại hình, việc lập dàn ý có thể được trình bày theo nhiều cách khác nhau tùy theo quan niệm của mỗi người và theo từng loại sách khác nhau Sau khi tham khảo ở một số tài liệu tôi nêu ra
* Mô hình tổng quát như sau:
- Mở bài:
+ Giới thiệu hoàn cảnh phát sinh câu chuyện
+ Giới thiệu nhân vật chính của chuyện
- Thân bài: Trình bày diễn biến các sự việc.
+ Sự việc 1: Sự việc mở đầu
+ Sự việc 2: Sự việc cao trào
+ Sự việc 3: Sự việc thắt nút.( Hay sự việc đỉnh điểm)
+ Sự việc 4: Sự việc mở nút ( sự việc kết thúc )
- Kết luận:
+ Khép lại câu chuyện
+ Nêu ý nghĩa của chuyện
Từ mô hình tổng quát chúng ta có các mô hình dàn ý sơ lược và dàn ý chi tiết như sau:
* Mô hình dàn ý đại cương ( sơ lược):
- Mở bài: Giới thiệu hoàn cảnh, nhân vật, sự việc.
- Thân bài: Diễn biến sự việc.
+ Sự việc 1:…
+ Sự việc 2:…
+ Sự việc n:…
- Kết luận: Kết thúc chuyện – nêu cảm nghĩ.
Ví dụ : Lập dàn ý đại cương cho đề bài: Kể lại truyện truyền thuyết mà
em yêu thích bằng lời văn của em.
Đầu tiên giáo viên phải định hướng cho học sinh xác định yêu cầu đề: + Chọn một truyền thuyết để kể lại bằng ngôn ngữ của mình
+ Bám sát chủ đề, bố cục, cốt truyện của truyện dân gian cần kể
+ Có thể chọn ngôi kể và thứ tự kể
Giáo viên vận dụng phương pháp gợi ý:
+ Giới thiệu truyện em định kể là truyện gì, vì sao em lại thích kể lại truyện đó
+ Kể lại câu chuyện theo cảm xúc, mục đích giao tiếp và dụng ý của em
Có thể lồng ghép thêm những nhận xét, cảm nghĩ của cá nhân vào lời kể, kết hợp giải thích ý nghĩa lịch sử xã hội của truyện
Trên cơ sở đó, giáo viên yêu cầu HS lập dàn ý đại cương