1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(SKKN 2022) Một số giải pháp rèn kĩ năng làm bài văn nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích) và nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ cho học sinh lớp 9, trường trung học cơ sở Hạ Trung

24 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số giải pháp rèn kỹ năng làm bài văn nghị luận về tác phẩm truyện và nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ cho học sinh lớp 9, trường trung học cơ sở Hạ Trung
Tác giả Hoàng Viết Tính
Người hướng dẫn PTs. Nguyễn Văn A
Trường học Trường trung học cơ sở Hạ Trung
Chuyên ngành Ngữ văn
Thể loại Sáng kiến kinh nghiệm
Năm xuất bản 2022
Thành phố Thanh Hóa
Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 254,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BÁ THƯỚC SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ GIẢI PHÁP RÈN KĨ NĂNG LÀM BÀI VĂN NGHỊ LUẬN VỀ MỘT TÁC PHẨM TRUYỆN HOẶC ĐOẠN TRÍCH VÀ NGHỊ LUẬN VỀ MỘT ĐOẠN THƠ, BÀI THƠ C

Trang 1

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BÁ THƯỚC

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ GIẢI PHÁP RÈN KĨ NĂNG LÀM BÀI VĂN NGHỊ LUẬN VỀ MỘT TÁC PHẨM TRUYỆN (HOẶC ĐOẠN TRÍCH)

VÀ NGHỊ LUẬN VỀ MỘT ĐOẠN THƠ, BÀI THƠ CHO HỌC SINH LỚP 9 TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ HẠ TRUNG.

Người thực hiện: Hoàng Viết Tính

Trang 2

NỘI DUNG TRANG

2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm 22.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 3

2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với Hội đồng giáo dục,

với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường

Trang 3

1 MỞ ĐẦU 1.1 Lí do chọn đề tài

Theo điều 7.2 Luật giáo dục (14/6/2019) đã ghi: “ Phương pháp giáo dụcphải khoa học, phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo củangười học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học và hợp tác, khả năng thựchành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên.” [7] Cũng chính lí do đó mà trongquá trình giảng dạy hiện nay, việc sử dụng các phương pháp dạy học đòi hỏingười thầy luôn phải đặt ra cái đích, đó là giúp HS nắm vững kiến thức cơ bản,hình thành phương pháp, kỹ năng, kỹ xảo, tạo thái độ và động cơ học tập đúngđắn

Ngữ văn là một môn học thuộc nhóm khoa học xã hội Đây là môn học cóvai trò rất quan trọng trong đời sống và trong sự phát triển tư duy của con người.Đồng thời môn học này có tầm quan trọng trong việc giáo dục quan điểm, tưtưởng, tình cảm cho học sinh Mặt khác nó cũng là môn học thuộc nhóm công

cụ, môn văn còn thể hiện rõ mối quan hệ với rất nhiều các môn học khác trongnhà trường phổ thông Học tốt môn văn sẽ tác động tích cực tới các môn họckhác và ngược lại, các môn học khác cũng góp phần học tốt môn văn Điều đóđặt ra yêu cầu tăng cường tính thực hành, giảm lí thuyết, gắn học với hành, gắnkiến thức với thực tiễn hết sức phong phú, sinh động của cuộc sống

Ngoài ra, Ngữ Văn cũng là môn học góp phần hình thành nên những kiếnthức cơ bản và hình thành nhân cách con người, chuẩn bị cho các em một hànhtrang để bước vào đời hoặc học lên những bậc học cao hơn

Văn bản nghị luận là một kiểu văn bản mà việc tạo lập là vô cùng khó đốivới học sinh trung học cơ sở Nó không chỉ đòi hỏi phải có kiến thức chính xácsâu rộng, phong phú; những suy nghĩ, quan điểm đúng đắn về văn học (nghịluận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích) và nghị luận về một đoạn thơ, bàithơ), về đời sống xã hội, mà đòi hỏi cả sự tư duy lôgíc, chặt chẽ, với những cáchlập luận sắc sảo, thấu tình đạt lí thì mới có thể hấp dẫn thuyết phục được ngườiđọc người nghe

Dạng bài mà học sinh phải tạo lập thì nhiều, mỗi dạng lại có những yêu cầucách thức nghị luận khác nhau Nào là nghị luận văn học, rồi nghị luận đời sống

xã hội Trong đó, riêng nghị luận văn học lại có những dạng cụ thể hơn nữa,kiểu bài khó so với nghị luận nói riêng và phân môn tập làm văn nói chung.Kiểu bài này đòi hỏi học sinh phải có năng lực phân tích , đánh giá từ khái quátđến cụ thể, có sự hiểu biết về xã hội, về văn học, về lịch sử và đặc biệt là kĩnăng trình bày

Đối với học sinh trung học cơ sở, đặc biệt là học sinh ở những vùng khôngđược thuận lợi như học sinh lớp 9 ở xã Hạ Trung thì kĩ năng viết văn của các emcòn nhiều hạn chế : Bài viết rời rạc, khô khan, dùng câu dùng từ chưa chính xác,

bố cục chưa rõ ràng, lập luận chưa có sức thuyết phục, vốn từ nghèo nên diễnđạt lủng củng tối nghĩa, dài dòng, không thoát ý, mắc nhiều lỗi chính tả Từ thựctrạng trên, tôi đã tìm tòi , học hỏi bạn bè, đồng nghiệp và mạnh dạn đưa ra sángkiến kinh nghiệm: “Một số giải pháp rèn kĩ năng làm bài văn nghị luận về tác

Trang 4

phẩm truyện (hoặc đoạn trích) và nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ cho họcsinh lớp 9, trường trung học cơ sở Hạ Trung”.

Xuất phát từ những lợi ích thiết thực của việc rèn kĩ năng làm bài vănnghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích) và nghị luận về một đoạn thơ, bàithơ và khắc phục những mặt còn hạn chế trong dạy học Ngữ văn hiện nay tôi đãchọn đề tài: “Một số giải pháp rèn kĩ năng làm bài văn nghị luận về tác phẩmtruyện (hoặc đoạn trích) và nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ cho học sinh lớp

9, trường trung học cơ sở Hạ Trung” Để nghiên cứu nhằm đóng góp ý kiến nhỏcủa mình trong tìm ra những giải pháp tốt nhất cho việc nâng cao chất lượng dạyhọc môn Ngữ văn nói chung và Ngữ văn 9 nói riêng

1.2 Mục đích nghiên cứu

Mục đích của tôi khi viết sáng kiến này là nhằm tìm ra những giải phápchung nhất và hiệu quả nhất trong việc dạy học phân môn văn trong chươngtrình Ngữ văn 9 Rèn luyện kĩ năng làm bài văn nghị luận văn chương cho họcsinh lớp 9 trường trung học cơ sở Hạ Trung trong đó bao gồm cả việc cung cấp

kĩ năng và rèn luyện kĩ năng nhằm đáp ứng mục tiêu, yêu cầu chương trình học

và nhu cầu phát triển của xã hội ngày nay

1.3 Đối tượng nghiên cứu:

Các giải pháp rèn kĩ năng làm bài văn nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc

đoạn trích) và nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ cho học sinh lớp 9, trườngtrung học cơ sở Hạ Trung, huyện Bá Thước

1.4 Phương pháp nghiên cứu:

Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết: Tham khảo, nghiên cứutài liệu hướng dẫn về việc rèn các kĩ năng làm bài văn nghị luận

Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin: Mục đích của thuthập số liệu (từ các tài liệu nghiên cứu khoa học có trước, từ quan sát và thựchiện thí nghiệm) là để làm cơ sơ lý luận khoa học hay luận cứ chứng minh giảthuyết hay các vấn đề mà nghiên cứu đã đặt ra Có 3 phương pháp thu thập sốliệu: Thu thập số liệu từ tài liệu tham khảo Thu thập số liệu từ những thựcnghiệm (các kết quả lâm sàng, cận lâm sàng…) Thu thập số liệu phi thựcnghiệm (lập bảng câu hỏi điều tra, phỏng vấn, thảo luận nhóm…)

Phương pháp thống kê, xử lý số liệu

2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.

Theo nghị quyết 29- NQ/TW ngày 4 tháng 11 năm 2013 của BCH TW tạihội nghị trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo

có ghi: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiệnđại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năngcủa người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tậptrung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tựcập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực Chuyển từ học chủyếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội,ngoại khóa, nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vàtruyền thông trong dạy và học” [4]

Trang 5

Trong hướng đổi mới phương pháp dạy học hiện nay là tập trung thiết kếcác hoạt động sao cho học sinh có thể tự lực khám phá, chiếm lĩnh các tri thứcmới dưới sự hướng dẫn chỉ đạo của thầy Bởi một đặc điểm cơ bản của hoạtđộng học là người học hướng vào việc cải biến chính mình, nếu người họckhông chủ động, tích cực, tự giác, không có phương pháp học tốt thì mọi nỗ lựccủa người thầy chỉ đem lại những kết quả hạn chế.

Kiểu văn nghị luận là một trong những nội dung quan trọng của môn Ngữ

văn nói chung và phân môn Tập làm văn nói riêng Bản chất của việc học thể

loại nghị luận là người viết thường vận dụng nhiều thao tác, kĩ năng (giải thích,chứng minh, phân tích, bình giảng ) để từ đó giúp các em biết trình bày mộtcách có lí lẽ, hấp dẫn những cảm nhận, suy nghĩ, đánh giá của mình về một vấn

đề văn học Học làm văn nghị luận cũng như mọi loại hình học tập khác là phảibiết xây dựng từ sự hiểu biết cơ bản đến các mức độ cao

Trong khi rèn luyện kĩ năng cách làm bài văn nghị luận văn học thì mỗimột giáo viên cần chú ý phát huy, động viên tích cực sự sáng tạo của từng họcsinh chứ không được gò ép theo những khuôn mẫu

Chúng ta cần xác định đây là tiết dạy học rèn luyện, rèn phương pháp, kĩnăng làm văn chứ không phải là giảng văn Vì thế cần tránh sa vào bình giảng vàphân tích một tác phẩm cụ thể Việc học sinh học tốt môn Ngữ văn nói chung vàviết tốt bài tập làm văn nghị luận nói riêng sẽ giúp các em rất nhiều trong việchình thành tính cách, bồi dưỡng tinh thần đoàn kết, lòng nhân ái … Nó giúp các

em có tư duy lôgic hơn cũng đồng thời giúp các em cảm thụ văn chương sâuhơn Việc giúp học sinh viết tốt bài tập làm văn lớp 9 đòi hỏi người thầy phải cókiến thức sâu rộng ở nhiều mặt, cả những kiến thức trong sách và thực tế ở ngoàiđời Nó cũng đòi hỏi sự tâm huyết ở người thầy, người thầy cần phải kiên trì, tậntâm và cần có các phương pháp linh hoạt cho các cách hướng dẫn cho từng dạngbài cụ thể

Rèn kĩ năng làm bài văn nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích)

và nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ cho học sinh vẫn theo đuổi quan điểm “lấyhọc sinh làm trung tâm” tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh trong mọimặt mọi khâu của quá trình dạy học; tìm mọi cách phát huy năng lực tự họcnăng lực sáng tạo của học sinh Đặt học sinh vào trung tâm của quá trình dạy

học để học sinh trực tiếp tham gia rèn các kĩ năng

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 2.2.1 Về nội dung kiểu bài nghị luận trong chương trình Ngữ văn 9.

Hiện nay trong sách giáo khoa Ngữ văn từ lớp 6 đến lớp 9 hầu như khôngtrình bày cụ thể các bố cục dàn ý, dàn bài đại cương của các kiểu bài (Chỉ có 4dàn ý mẫu trong 4 tiết: Cách làm bài nghị luận về một sự việc, hiện tượng đờisống, cách làm bài nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lí, cách làm bài nghịluận về tác phẩm truyện, cách làm bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ – sáchgiáo khoa Ngữ văn 9 tập II), điều này cũng gây khó khăn cho học sinh trong quátrình học tập nắm vững kiến thức, nhất là đối với học sinh yếu, kém

Việc tìm và đưa ngữ liệu vào việc viết văn cũng còn nhiều hạn chế Đó làhiện nay học sinh ít quan tâm đến việc đọc văn bản, hoặc chỉ đọc qua loa đối

Trang 6

phó; một bộ phận học sinh lại quá ỷ lại sách tham khảo, sách bài văn mẫu Cóthể thấy chỉ cần trên dưới vài chục nghìn đồng là các em có ngay sách bài vănmẫu để làm “ bảo bối” trong các tiết viết bài tập làm văn, kiểm tra học kì.

2.2.2 Thực trạng nhận thức của giáo viên về kĩ năng làm bài văn nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích) và nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ.

Đối với người dạy, đa số giáo viên đều tận tụy với công tác giảng dạy,

chăm lo quan tâm đến học sinh nhưng vẫn còn những mặt hạn chế sau :

Giáo viên khó có thể thực hiện đầy đủ, trọn vẹn việc truyền đạt kiến thức

- kĩ năng cho từng đối tượng học sinh về cách viết bài văn, xây dựng đoạn văn,tách đoạn văn, liên kết đoạn văn bởi vì thời lượng không cho phép Ở các tiết

“Trả bài viết Tập làm văn”, tiết “Ôn tập”, tiết “Luyện nói” nhiều khi giáo viên

chưa hướng dẫn chưa được cụ thể cho các em xây dựng được bố cục của cácdạng bài viết cụ thể

Việc ứng dụng Công nghệ thông tin vào việc giảng dạy tập làm văn cũngcòn hạn chế, chưa hợp lí… nên ít nhiều cũng ảnh hưởng đến viếc gây hứng thú

và việc tiếp thu kiến thức của học sinh

Trước đây khi dạy văn nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích) và

nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ cho các em, tôi mới chỉ giúp các em nắm bắtđược những nội dung cơ bản trong sách giáo khoa Trong quá trình dạy chỉ dạytập làm văn ở những tiết học về tập làm văn, chưa tận dụng được thời gian ở cácphân môn khác để tích hợp với phần tập làm văn Đặc biệt chưa chú trọng luyệntập và ra bài tập về các dạng bài văn nghị luận về nhà cho các em để từ đó hìnhthành kĩ năng làm bài

2.2.3 Thực trạng nhận thức của học sinh về kĩ năng làm bài văn nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích) và nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ.

Đời sống còn nhiều khó khăn, đa số các em phải lao động hàng ngày ởngoài ruộng nương nên ít có thời gian để đọc các tài liệu tham khảo, mở rộnghiểu biết

Xa trung tâm, nhà trường lại chưa đủ cơ sở vật chất để phục vụ việc dạyhọc nên các em không có đủ tài liệu để tham khảo Vì vậy chỉ có thể nắm bắtđược những gì sách giáo khoa cung cấp

Học văn đòi hỏi viết nhiều (đọc nhiều) nhưng học sinh lớp 9 trường trunghọc cơ sở Hạ Trung lại ít có điều kiện cũng như thời gian để thực hành, học sinhchủ yếu là người dân tộc thiểu số (có tới 19 em là người dân tộc Mường dẫn tớivốn từ không phong phú do về nhà các em thường giao tiếp bằng tiếng của dântộc mình) kết hợp với những điều kiện trên làm cho các em chua phong phú vềvốn từ nên khi viết cũng thêm phần khó khăn

Học sinh hiện nay, đa số không ham muốn học tập môn Ngữ văn, nhất làngại làm những bài văn Thời gian các em chủ yếu đầu tư cho việc các mônthuộc khoa học tự nhiên Có lẽ ngoài nguyên nhân khách quan từ xã hội, thì mộtphần cũng do làm văn quá khó, lại mất nhiều thời gian nhất là văn nghị luận

“Công thức” làm văn cho các em lại không được hình thành cụ thể Các em

Trang 7

không phân biệt rõ các thao tác nghị luận chính mà mình sử dụng Càng ngày, kĩnăng tạo lập văn bản của học sinh càng kém hơn, và rất hiếm có những bài vănnghị luận có được sức hấp dẫn, thuyết phục bởi cách lập luận rõ ràng, chính xác,đầy đủ và chặt chẽ từng luận điểm, luận cứ…Bài viết của các em khi thì sai vềyêu cầu thao tác nghị luận, khi lại không sát, không đúng với nội dung nghị luậncủa đề bài Ví dụ, đề bài yêu cầu cảm nhận các em lại làm như một bài phântích, thiếu cảm xúc, thái độ tình cảm; đề bài yêu cầu nghị luận về một nội dungcủa tác phẩm các em lại nghị luận về toàn bộ tác phẩm đó; các em không khôngphân biệt được viết như thế nào là bài bình giảng, viết như thế nào là bài phântích một đoạn thơ bài thơ; hoặc khi nghị luận kết hợp giải quyết một ý kiến nào

đó liên quan tới tác phẩm, các em lại quên mất việc giải quyết ý kiến đó.Nguyên nhân mấu chốt là học sinh thiếu kĩ năng hoặc còn non kém về kĩ nănglàm các dạng bài văn nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích) và nghịluận về một đoạn thơ, bài thơ

Trong thực tế, quá trình giảng dạy kĩ năng làm các dạng bài văn nghị luận

về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích) và nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ ở bộmôn Ngữ văn lớp 9 ở trường trung học cơ sở Hạ Trung năm học 2018-2019,

2019-2020, trước khi áp dụng đề tài nghiên cứu này là :

Bảng số 1 Kết quả điểm kiểm tra học kì 2 (bài tổng hợp), năm học 2018- 2019 và năm học 2019 – 2020:

số

Điểm dưới trung bình Điểm trung bình Điểm khá Điểm giỏi Số

số trung bình Điểm dưới Điểm trung bình Điểm khá Điểm giỏi

Số lượng % lượng Số % lượng Số % lượng Số %

Từ kết quả điểm kiểm tra học kì 2 (bài tổng hợp), năm học 2018- 2019 vànăm học 2019 – 2020, kết quả khảo sát phần văn nghị luận về tác phẩm truyện(hoặc đoạn trích) và nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ của học sinh lớp 9trường trung học cơ sở Hạ Trung (phần tạo lập văn bản) trong môn Ngữ văn tôinhận thấy học sinh nhiều em chưa biết cách làm bài nghị luận văn học, hầu hếtbài làm của các em thiếu ý, các ý sắp xếp theo trình tự chưa hợp lí, hết một ý -một luận điểm học sinh không chuyển ý chuyển đoạn và tách ý, tách đoạn Vềhành văn thì chưa lưu loát, lí lẽ dẫn chứng chưa đủ tính thuyết phục, chưa biếtliên hệ và nêu bài học cho bản thân…Cá biệt còn có em không hiểu trước đề bài

đó thì cần triển khai những ý chính nào Xuất phát từ thực tế đó tôi xin đưa ramột số giải pháp giúp các em có kĩ năng làm bài văn nghị luận

Trang 8

2.3 Các giải pháp thực hiện rèn luyện kĩ năng làm bài văn nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích) và nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ cho học sinh lớp 9 trường trung học cơ sở Hạ Trung.

2.3.1 Giải pháp 1: Rèn luyện kĩ năng làm bài nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ.

2.3.1.1 Kĩ năng chung về rèn luyện làm bài nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ.

Đọc kĩ bài thơ, đoạn thơ để nắm được nội dung và nghệ thuật cơ bản

Nắm được những thông tin xuất xứ: tác giả, hoàn cảnh ra đời bài thơ Đặcbiệt phải thấy được sự chi phối của phong cách nghệ thuật của tác giả và hoàncảnh ra đời đến giá trị bài thơ, đoạn thơ

Nghị luận về bài thơ, đoạn thơ thường phải bám vào các đặc điểm riêng củathơ ca nhất là đặc trưng về nghệ thuật để khai thác làm rõ nội dung nghị luận

Đó là thể thơ, là hình ảnh, ngôn từ, giọng điệu, các biện pháp tu từ…Vì vậy, cóthể đặt các câu hỏi sau để định hướng cho việc nghị luận

Nội dung chủ yếu của bài thơ, đoạn thơ là gì ?

Có thể chia bố cục của bài thơ, đoạn thơ không ?

Bài thơ, đoạn thơ sử dụng những từ ngữ nào hay, độc đáo? Giá trị biểu đạt làgì?

Biện pháp tu từ nào được sử dụng có hiệu quả và hiệu quả như thế nào ?Trong bài thơ, đoạn thơ có những hình ảnh nào cần phân tích ? Phân tích rasao ?

Giọng điệu chủ đạo của bài thơ, đoạn thơ như thế nào?

Bài thơ, đoạn thơ gợi liên tưởng đến đoạn thơ, bài thơ nào ?

Tuỳ theo yêu cầu về thao tác nghị luận và đối tượng nghị luận cụ thể để cócách khai thác, lập luận và diễn đạt phù hợp Khi làm bài có thể vận dụng phép

so sánh đối chiếu với những câu thơ, đoạn thơ khác của tác giả hoặc của tác giảkhác Nếu là đề mở, cần vận dụng linh hoạt các thao tác nghị luận phù hợp, cóhiệu quả, nhất là thao tác giảng bình

2.3.1.2 Rèn luyện kĩ năng làm bài nghị luận về một đoạn thơ.

Khi nghị luận cần đặt đoạn thơ trong mạch cảm xúc chung của toàn bài để

có những lí giải phù hợp

Sau khi phân tích, bình giá những khía cạnh nội dung và nghệ thuật, cầnđánh giá vẻ đẹp riêng của đoạn thơ đó và vai trò vị trí của đoạn thơ đối với cảbài Thậm chí từ một đoạn thơ, cần bước đầu thấy được phong cách nghệ thuậtcủa tác giả

Dàn bài :

a Mở bài:

Giới thiệu khái quát về tác giả (chỉ nên giới thiệu vị trí văn học của tác giả,không đi sâu vào các phương diện khác)

Giới thiệu về bài thơ

Dẫn đoạn thơ cần nghị luận và nêu khái quát những ấn tượng chung vềđoạn thơ đó ( hoặc nên khái quát nội dung đoạn thơ)

Trang 9

cảm của mình về đoạn thơ cần có sự điều chỉnh cho phù hợp với yêu cầu về thaotác nghị luận cơ bản của từng đề ra.

c Kết bài: Đánh giá vai trò ý nghĩa của đoạn thơ trong việc thể hiện chủ đề

tư tưởng của toàn bài Nêu những cảm nghĩ, ấn tượng sâu đậm nhất về đoạn thơ.

VD : Cho đoạn thơ:

“ Vẫn còn bao nhiêu nắng

Đã vơi dần cơn mưa

Sấm cũng bớt bất ngờ

Trên hàng cây đứng tuổi”

(Sang thu – Hữu Thỉnh)

Đặt câu hỏi để định hướng khai thác đoạn thơ ?

Giọng điệu đoạn thơ như thế nào ? (nhẹ nhàng, sâu lắng, đậm chất suy tư,bài học ý nghĩa càng trở nên thấm thía sâu sắc với người đọc, người nghe)

Nội dung bao trùm đoạn thơ là gì ? (diễn tả tinh tế những biến chuyển rõ rệtcủa thời tiết, khí hậu lúc sang thu và đưa ra bài học triết lí về con người, về cuộcđời)

Vai trò, vị trí của đoạn thơ đối với bài thơ như thế nào ? (đoạn thơ không chỉgóp phần bổ sung, hoàn chỉnh bức tranh sang thu của thiên nhiên đất trời và sựsang thu của đời người mà còn thể hiện những bài học chiêm nghiệm quý giá vềcuộc đời con người Với nội dung ấy đoạn thơ đã góp phần không nhỏ đối vớithành công và giá trị, sức sống lâu bền của toàn bài thơ…)

2.3.1.3 Dạng 1: Rèn luyện kĩ năng làm bài nghị luận về toàn bộ bài thơ.

Cần phát hiện mạch cảm xúc của bài thơ và mạch cảm xúc ấy chi phối bốcục bài thơ như thế nào ? Nắm vững nội dung từng phần, từng đoạn một cách cụthể Vì là nghị luận cả bài nên ở nhiều câu, nhiều đoạn không bắt buộc phải khaithác kĩ như nghị luận về một đoạn Người viết cần biết lướt qua, tóm lược ởnhững đoạn, những câu không góp phần nhiều vào việc thể hiện giá trị của bàithơ

Cần thấy được vị trí của bài thơ đối với sự nghiệp của tác giả, cũng như của

cả một giai đoạn văn học, một thời kì văn học, thậm chí là cả của nền văn họcdân tộc

Có những bài thơ, nhất là những bài thơ dài, người viết có thể trình bàycách cảm, cách hiểu của mình theo chiều dọc (về từng phương diện nội dung củabài) Khi khai thác từng phương diện cũng yêu cầu khai thác cả những tín hiệunghệ thuật đặc sắc góp phần diễn đạt nội dung ấy

Dàn bài chung:

a Mở bài.

Trang 10

Giới thiệu khái quát về tác giả (vị trí văn học, phong cách nghệ thuật củatác giả mà không đi sâu vào những phương diện khác).

Giới thiệu bài thơ, nội dung bao trùm bài thơ

Bước đầu đánh giá về bài thơ đó (tuỳ theo đề bài và nội dung cụ thể của bàithơ mà đưa ra những đánh giá, nêu ấn tượng cho phù hợp…)

b Thân bài.

Có thể nêu sơ qua hoàn cảnh ra đời của bài thơ

Tiến hành thuyết minh, phân tích, bình giảng, nêu cảm xúc về lần lượt từngkhổ thơ đoạn thơ (theo bố cục) các phương diện cụ thể của bài thơ Chú ý, làmnổi bật được những đặc sắc về nội dung và nghệ thuật Trong khi trình bày, cóthể liên hệ so sánh với những bài thơ, đoạn thơ, câu thơ khác để ý được nổi bật,thuyết phục

c Kết bài:

Đánh giá vai trò vị trí của bài thơ đối với sự nghiệp văn học của tác giả, đốivới văn học dân tộc nói chung

Khẳng định lại những cảm xúc, những suy nghĩ tâm đắc nhất về bài thơ

Ví dụ: Cảm nhận về bài thơ “ Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ” của Nguyễn Khoa Điềm.

a Mở bài: Giới thiệu bài thơ và nêu những ấn tượng chung về bài thơ

b Thân bài:

Cảm nhận chung về hình thức kết cấu bố cục của bài thơ: chia ba đoạn, với

ba khúc ru, ba khúc ru có sự đan xen lời ru của tác giả và lời ru của người mẹdành cho em bé Ba khúc ru được lặp lại những câu đầu, được sắp xếp theo trình

tự tăng tiến, với sự mở rộng về không gian, về tính chất công việc người mẹlàm, đặc biệt về sự nâng cao phát triển trong tình cảm, ước mơ của người mẹ…Nhờ thế vẻ đẹp của hình tượng người mẹ cũng như tình cảm của tác giả dànhcho mẹ cũng được nhấn mạnh, tô đậm hơn lên

Lần lượt cảm nhận cụ thể:

Vẻ đẹp của người mẹ Tà Ôi: một người phụ nữ giàu tình yêu thương, giàuước mơ và giàu nghị lực… Đó là vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam trong cuộcsống lao động và chiến đấu, vẻ đẹp của những người mẹ anh hùng

Tình cảm thái độ của tác giả dành cho mẹ: sự thấu hiểu, cảm thương, niềmtrân trọng, khâm phục, ngợi ca tự hào…

c Kết bài: Khẳng định giá trị của bài thơ về cả nội dung và nghệ thuật; nângcao, mở rộng

2.3.1.4 Dạng 2: Rèn luyện kĩ năng làm bài nghị luận về một phương diện của bài thơ

Vì chỉ cảm nhận về một phương diện nội dung hay nghệ thuật của bài thơ,nên khi làm bài tránh phân tích, cảm nhận cả bài Và như vậy không thể khaithác theo bố cục bài thơ được

Nếu nghị luận về một phương diện nội dung bài thơ thì người viết phải biếtchọn những biểu hiện như hình ảnh, câu từ nào trong bài thơ liên quan đếnphương diện cần nghị luận để phân tích, chứng minh

Nếu nghị luận về phương diện nghệ thuật thì phải phát hiện và phân tích tất

cả những yếu tố nghệ thuật tiêu biểu Sau đó phải tìm hiểu xem vẻ đẹp nghệthuật ấy thể hiện tập trung nhất ở những yếu tố nào như hình ảnh thơ, nhạc điệu,

từ ngữ, các biện pháp tu từ… Nhưng không phải chỉ đơn thuần là nghị luận vềnghệ thuật mà điều cần thiết, quan trọng ở dạng bài này là người viết phải biết

Trang 11

phân tích đánh giá được những nghệ thuật ấy nhắm biểu đạt nội dung, tư tưởngnào mà tác giả gửi gắm Nếu không nghệ thuật có hay có đặc sắc đến mấy cũngthành vô nghĩa.

Sau khi làm xong phải biết đánh giá giá trị, vai trò của phương diện nộidung hay nghệ thuật vừa nghị luận đối với giá trị của toàn bài thơ

Dàn bài :

Mở bài: Giới thiệu bài thơ và phương diện nội dung hay nghệ thuật mà đề

bài yêu cầu nghị luận Đồng thời nêu ấn tượng chung về giá trị của phương diện

đó trong toàn bài thơ

Thân bài: Bám vào bài thơ để tìm các hình ảnh, câu từ liên quan đến vấn

đề nghị luận để khai thác trình bày

Kết bài: Khẳng định giá trị chung của cả bài thơ nói chung và của nộidung vừa nghị luận nói riêng Có thể liên hệ mở rộng

Ví dụ: Vẻ đẹp của tình bà cháu trong bài thơ “Bếp lửa” (Bằng Việt).

a Mở bài: Giới thiệu tình bà cháu trong bài thơ và ấn tượng chung về tìnhcảm đó

b Thân bài:

Vẻ đẹp của tình bà thiêng liêng, cao cả:

Bà đã hết lòng yêu thương, dạy bảo, chăm sóc cháu, sẻ chia những buồn vuicùng cháu bà vừa là người bà của cháu, đồng thời cũng là người mẹ người cha,người bạn của cháu vậy Bà đã thắp sáng lên ngọn lửa của tình yêu thương

Bà là người chuẩn bị cho cháu đầy đủ hành trang để vào đời, để cháu lớnkhôn trưởng thành; là người nhóm lửa, giữ lửa, truyền lửa cho bao thế hệ

Vẻ đẹp của tình cháu dành cho bà: Sâu nặng, chân thành, cháu thương bàvất vả, khó nhọc, lo lắng và quan tâm bà, biết nghe lời bà

Cháu yêu quý, tự hào, ngợi ca, biết ơn bà Khi xa bà cháu đã nhớ bà da diếtkhôn nguôi, nỗi nhớ mang nặng cả tình thương yêu, lòng biết ơn, quý trọng…

Để diễn tả tình bà cháu cao đẹp như vậy nhà thơ đã thành công trong việclựa chọn thể thơ 8 chữ, trong xây dựng hình ảnh mang nhiều ý nghĩa, cách dùngđiệp từ, điệp ngữ

Tình bà cháu đựơc thể hiện trong bài thơ rất chân thành cảm động Càngcảm động và thiêng liêng hơn khi tình cảm ấy được gắn liền hoà quyện với tìnhyêu quê hương đất nước Mỗi chúng ta cần biết trân trọng nâng niu, bồi đắp tìnhcảm gia đình cho mình

c Kết bài: Khẳng định vẻ đẹp của tình bà cháu trong bài thơ Liên hệ tình

bà trong những tác phẩm khác và trong thực tế cuộc sống

2.3.1.5 Dạng 3: Rèn luyện kĩ năng làm bài nghị luận về nhân vật trữ tình trong bài thơ.

- Nhân vật trữ tình ở đây là người bày tỏ thể hiện cảm xúc, chứ không phải

là nhân vật là đối tượng trữ tình trong bài thơ Vậy nên, nghị luận về nhân vậtnày là nghị luận về diễn biến tâm trạng, tình cảm cảm xúc của nhân vật thể hiệntrong bài thơ Có nhân vật trữ tình trực tiếp (thường là tác giả, tự xưng) và nhânvật trữ tình nhập vai (nhập vai vào một nhân vật khác, nhưng đằng sau đó vẫn làtâm tư tình cảm của tác giả gửi gắm thể hiện)

Tâm trạng cảm xúc của nhân vật trữ tình luôn có sự vận động, phát triểnthay đổi Muốn nắm bắt được điều này, thường chúng ta nên phân chia bài thơ ratừng phần đoạn tương ứng với tính chất, đặc điểm và ý nghĩa của tâm trạng đượcthể hiện trong đó

Trang 12

Lần theo mạch cảm xúc đó để phân tích, trình bày những suy nghĩ, nhận xétcủa mình Khi trình bày cần cùng lúc phải chú ý hai điểm: Một là các tín hiệunghệ thuật tiêu biểu (chi tiết, hình ảnh, cách ngắt nhịp, cách dùng từ, biện pháp

tu từ…) Hai là, tâm tư tình cảm mà tác giả thể hiện qua những tín hiệu nghệthuật đó

Sau khi phân tích cần tổng hợp, khái quát nâng cao theo cách định danh,gọi tên cho tâm trạng, cảm xúc, tình cảm Có thể liên hệ tới tâm trạng của nhữngnhân vật khác tương đồng hoặc tương phản để bài viết sâu sắc hơn Nên cónhững lời bình, bày tỏ thái độ nhận xét của mình về nhân vật để bài viết có dấu

ấn riêng

Tóm lại, có thể đặt ra và trả lời những câu hỏi sau:

Nhân vật trữ tình trong bài thơ thuộc kiểu nhân vật nào ?

Bài thơ có thể chia những phần đoạn như thế nào ? Mỗi phần đoạn ấy thể hiệntâm trạng cảm xúc gì của nhân vật ? Những tín hiệu nghệ thuật nào góp phần diễn

tả tâm trạng, cảm xúc ấy ? Tình cảm cảm xúc của nhân vật đó gợi liên tưởng đếnnhân vật nào ?

Tâm trạng cảm xúc của nhân vật trữ tình có thể là tiểu biểu cho thế hệ, tầnglớp nào không ?

c Kết bài: Đặt trong hoàn cảnh ra đời của bài thơ để khẳng định lại tâm

trạng, cảm xúc của nhân vật và đánh giá về vai trò ý nghĩa của việc thể hiệnnhững tâm trạng ấy trong giá trị chung của toàn bộ bài thơ Suy nghĩ và rút rabài học…

Ví dụ: Những cảm xúc, suy nghĩ của nhà thơ Thanh Hải thể hiện qua bài thơ “ Mùa xuân nho nhỏ”.

Dàn bài:

a Mở bài: Giới thiệu bài thơ “ Mùa xuân nho nhỏ” của nhà thơ Thanh Hải.Nhấn mạnh: đọc bài thơ, ta xúc động, trân trọng biết bao trước những cảmxúc, tình cảm chân thành mà thi nhân gửi gắm thể hiện

b Thân bài: Lần lượt trình bày các luận điểm nhỏ sau:

Trước hết đó là niềm say mê, ngây ngất, là tình yêu thiết tha của Thanh Hảitrước vẻ đẹp của mùa xuân thiên nhiên, đất trời (phân tích tín hiệu nghệ thuậtlàm rõ)

Không chỉ vậy nhà thơ còn hết sức tự hào, hạnh phúc, sướng vui trước mùaxuân của đất nước, trước sức trỗi dậy vươn lên, sự phát triển mạnh mẽ của dântộc ta trong thời kì đổi mới.( phân tích dẫn chứng)

Càng yêu mến, tự hào về quê hương đất nước, nhà thơ càng thiết tha, khaokhát được cống hiến, đóng góp một phần nhỏ bé của mình- một mùa xuân nhonhỏ, mong muốn nhắn nhủ mọi thế hệ chúng ta hãy chung tay vào góp sức xâydựng đất nước để cho mùa xuân đất nước sẽ càng tươi đẹp hơn (phân tích dẫnchứng)

Ngày đăng: 09/06/2022, 22:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w