Việc đổi mớiphương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh cần diễn rađồng bộ ở tất cả các bộ môn trong nhà trường đặc biệt với bộ môn Ngữ văn sẽthực sự p
Trang 11 MỞ ĐẦU.
1.1 Lí do chọn đề tài:
Từ xưa đến nay, môn Ngữ văn luôn chiếm một vị trí quan trọng trong đạohọc Văn chương giúp đời sống tinh thần của con người thêm phong phú hơn,giúp ta ứng xử lịch sự, văn minh hơn Văn chương là một phần không thể thiếutrong cuộc sống mỗi con người Chúng ta đều biết rằng môn Ngữ văn là mônhọc vô cùng quan trọng trong việc đào tạo con người, bồi dưỡng trí tuệ, tâm hồnnhân cách và phát triển năng lực cho học sinh
Trong hai năm học gần đây,chương trình giáo dục phổ thông nước ta đangthực hiện bước chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cậnnăng lực của người học Từ chỗ quan tâm tới việc học sinh học được gì đến việchọc sinh vận dụng được gì qua quá trình học tập Từ chỗ học sinh tiếp thu thụđộng những kiến thức quy định sẵn sang tự lực, tích cực lĩnh hội kiến thức Đểthực hiện được điều đó, phải thành công trong việc chuyển từ phương pháp dạy
học theo lối truyền thụ một chiều sang dạy cách học tích cực nhằm giúp học sinh
chủ động, tự lực lĩnh hội tri thức, vận dụng tri thức, rèn luyện kĩ năng để rồihình thành năng lực và phẩm chất Đồng thời phải chuyển cách đánh giá kết quảgiáo dục từ nặng về kiểm tra trí nhớ sang kiểm tra, đánh giá năng lực vận dụngkiến thức để giải quyết vấn đề thực tiễn, coi trọng kiểm tra đánh giá kết quả họctập với kiểm tra, đánh giá trong quá trình học tập để có những tác động kịp thờinhằm nâng cao chất lượng của hoạt động dạy học và giáo dục[1] Việc đổi mớiphương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh cần diễn rađồng bộ ở tất cả các bộ môn trong nhà trường đặc biệt với bộ môn Ngữ văn sẽthực sự phát huy hết vai trò trong việc giúp học sinh hình thành được các phẩmchất và năng lực
Năm học 2021-2022 diễn ra trong bối cảnh dịch bệnh diễn biến phức tạp,để đảm bảo một môi trường học tập an toàn, Bộ GD&ĐT đã ban hành công văn4040/BGDĐT-GDTrH - 2021 về hướng dẫn điều chỉnh nội dung dạy học THCS,THPT Theo công văn này, ở môn Ngữ văn, mỗi khối lớp đều duy trì dạy họctích hợp một chủ đề trong một học kì Theo tinh thần chỉ đạo, chương trình Ngữvăn 8 có hai chủ đề tích hợp ở đầu mỗi học kì
Qua thực tế dạy học chủ đề một năm qua, tôi nhận thấy việc dạy học chủ
đề Ngữ văn hầu như giáo viên chưa có sự liên kết các kiến thức bài học trongchủ đề với nhau, dạy học chủ đề vẫn nặng về truyền thụ kiến thức và bị giớihạn trong số tiết được quy định từ các bài học cộng lại.Việc tích hợp kiến thứccác môn học khác cũng chưa được chú trọng Và đặc biệt là phần vận dụng,thực hành kĩ năng chưa được thực hiện, hoặc thực hiện chưa hiệu quả
Trong khi đó, Bộ Giáo dục đã có những thay đổi để điều chỉnh chươngtrình dạy học Tuy nhiên bộ, ngành lại chưa có hướng dẫn để dạy học chủ đề
cụ thể Đặc biệt là dạy học chủ đề trong xu hướng đổi mới theo hướng pháttriển phẩm chất và năng lực như hiện nay Như vậy nếu không có những đổimới từ phía giáo viên thì dạy học chủ đề lại đi theo lối mòn trước đây, hiệuquả dạy học bộ môn Ngữ văn ít nhiều cũng bị ảnh hưởng
Trong lộ trình đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, có thể nóirằng giáo viên là yếu tố quyết định hàng đầu trong việc thực hiện đổi mới
Trang 2phương pháp giảng dạy Với kinh nghiệm dạy học nhiều năm, tôi luôn trăn trởsuy nghĩ và tìm tòi để làm sao đó trong các tiết học Ngữ văn, đặc biệt là các tiếtdạy học chủ đề đạt được kết quả cao Vì vậy năm học 2021-2022, tôi đã tiếnhành nghiên cứu và thực hiện một số biện pháp cải tiến trong dạy học chủ đề và
bước đầu đã thu đươc một số kết quả thông qua đề tài: “ Một số kinh nghiệm trong dạy học chủ đề Ngữ văn 8 theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở Trường THCS Thành Yên”
1.2 Mục đích nghiên cứu.
Khi tôi chọn nghiên cứu đề tài trên với mục đích đó là khắc phục tìnhtrạng dạy học truyền thụ kiến thức một chiều và ghi nhớ máymóc đối với học sinh, giúp giáo viên đổi mới phương pháp vàhình thức dạy học chủ đề theo hướng tổ chức các hoạt độnghọc, tăng cường tối đa khả năng vận dụng thực hành để hướngcác em học Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực Cụthể đó là hình thành, phát triển ở học sinh những phẩm chất chủ yếu và nănglực chung, cũng như năng lực đặc thù theo các mức độ phù hợp với môn họcNgữ văn như: Năng lực tự chủ và tự học; Năng lực giao tiếp và hợp tác ;Nănglực giải quyết vấn đề và sáng tạo…
Để đạt mục tiêu trên, giáo viên cần thực hiện dạy học tích hợp, nối kếtcác kiến thức trong một chủ đề, tạo một mạch thống nhất để nâng cao vai trò tựhọc của học sinh của dạy học chủ đề ở môn học Ngữ văn lớp 8 Từ đó hướngcác em đến khả năng vận dụng, thực hành, sáng tạo từ những cảm thụ văn học
1.3 Đối tượng nghiên cứu:
Đối với đề tài này, tôi nghiên cứu và tập trung vào vấn đề dạy học tíchhợp chủ đề ở bộ môn Ngữ văn lớp 8 tại trường THCS theo hướng phát triểnnăng lực của học sinh
Để giải quyết vấn đề trên trước hết giáo viên cần hiểu rõ về khái niệmnăng lực và dạy học chủ đề theo hướng phát triển năng lực của học sinh ởTrường THCS
Căn cứ vào tình hình thực tế, giáo viên tiến hành xây dựng các hoạt độngchủ đề, sử dụng những phương pháp tích cực để học sinh bộc lộ những phẩmchất năng lực trong quá trình thực hiện nhiệm vụ học tập
Tổ chức cho học sinh thực hiện các hoạt động chủ đề, phát hiện nhữngphẩm chất năng lực từ học sinh, đúc rút kinh nghiệm sau nghiên cứu
Những biện pháp này áp dụng trong phạm vi dạy học bộ môn Ngữ vănlớp 8 tại Trường THCS Thành Yên năm học 2021- 2022
1.4 Phương pháp nghiên cứu:
Trước hết là phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết: Nghiên
cứu về quan điểm về năng lực nói chung v à Chương trình giáo dục phổ thôngđịnh hướng năng lực ; Các năng lực mà môn học Ngữ văn hướng đến nói riêng
Phương pháp tích cực trong dạy học chủ đề ở bộ môn Ngữ văn 8: Thuyếttrình, đàm thoại, giải quyết vấn đề Đặc biệt là phương pháp dạy học dự án giaonhiệm vụ để học sinh hoàn thành nhiệm vụ của chủ đề
Trang 3Phương pháp điều tra, thu thập thông tin…
2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM.
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.
2.1.1 Khái niệm năng lực
Trong tài liệu tập huấn việc dạy học và kiểm tra, đánh giá theo định hướngphát triển năng lực của học sinh do Bộ giáo dục và Đào tạo phát hành năm 2014
thì năng lực được quan niệm là sự kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức kiến thức, kỹ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân,… nhằm đáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh nhất định[2].
Định hướng chương trình giáo dục phổ thông (GDPT) đã xác định một số nănglực cốt lõi mà học sinh Việt Nam cần phải có để đáp ứng với tình hình thực tếcuộc sống đang phát triển và hòa nhập với môi trường quốc tế đó là: Năng lực tựhọc; Năng lực giải quyết vấn đề; Năng lực sáng tạo ; Năng lực quản lí bảnthân ; Năng lực giao tiếp ; Năng lực hợp tác [5]
2.1.2 Chương trình giáo dục định hướng năng lực.
Chương trình giáo dục định hướng phát triển năng lực nay còn gọi là dạyhọc định hướng kết quả đầu ra được bàn đến nhiều từ những năm 90 của thế kỷ
20 và ngày nay đã trở thành xu hướng giáo dục quốc tế Giáo dục định hướngphát triển năng lực nhằm mục tiêu phát triển năng lực người học[2]
Giáo dục định hướng năng lực nhằm đảm bảo chất lượng đầu ra của việcdạy học, thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện các phẩm chất nhân cách, chútrọng năng lực vận dụng tri thức trong những tình huống thực tiễn nhằm chuẩnbị cho con người năng lực giải quyết các tình huống của cuộc sống và nghềnghiệp Chương trình này nhấn mạnh vai trò của người học với tư cách chủ thểcủa quá trình nhận thức
2.1.3 Các năng lực mà môn học Ngữ văn hướng đến
* Năng lực giải quyết vấn đề: Với môn học Ngữ văn, năng lực Giải
quyết vấn đề được hướng đến khi triển khai các nội dung dạy học của bộ môn,
do tính ứng dụng thực tiễn và quy trình hình thành năng lực có thể gắn với cácbối cảnh học tập (tiếp nhận và tạo lập văn bản) của môn học, khi nảy sinh nhữngtình huống có vấn đề Với một số nội dung dạy học trong môn Ngữ văn như:Xây dựng kế hoạch cho một hoạt động tập thể, tiếp nhận một thể loại văn họcmới, viết một kiểu loại văn bản, lí giải các hiện tượng đời sống được thể hiệnqua văn bản, thể hiện quan điểm của cá nhân khi đánh giá các hiện tượng vănhọc,… quá trình học tập các nội dung trên là quá trình giải quyết vấn đề theoquy trình đã xác định Quá trình giải quyết vấn đề trong môn Ngữ văn có thểđược vận dụng trong một tình huống dạy học cụ thể hoặc trong một chủ đề dạyhọc
*Năng lực sáng tạo; Việc hình thành và phát triển năng lực sáng tạo cũng
là một mục tiêu mà môn học Ngữ văn hướng tới Năng lực này được thể hiệntrong việc xác định các tình huống và những ý tưởng, đặc biệt những ý tưởngđược gửi gắm trong các văn bản văn học Trong các giờ đọc hiểu văn bản, mộttrong những yêu cầu cao là học sinh, với tư cách là người đọc, phải trở thành
Trang 4người đồng sáng tạo với tác phẩm (khi có được những cách cảm nhận riêng, độcđáo về nhân vật, về hình ảnh, ngôn từ của tác phẩm; có cách trình bày, diễn đạtgiàu sắc thái cá nhân trước một vấn đề,…).
*Năng lực hợp tác: Trong môn học Ngữ văn, năng lực hợp tác thể hiện ở
việc học sinh cùng chia sẻ, phối hợp với nhau trong các hoạt động học tập quaviệc thực hiện các nhiệm vụ diễn ra trong giờ học Thông qua các hoạt độngnhóm, cặp, học sinh thể hiện những suy nghĩ, cảm nhận của cá nhân về nhữngvấn đề đặt ra, đồng thời lắng nghe những ý kiến trao đổi thảo luận của nhóm đểtự điều chỉnh cá nhân mình Đây là những yếu tố rất quan trọng góp phần hìnhthành những phẩm chất và năng lực của người học trong bối cảnh mới
*Năng lực tự quản bản thân: Cũng như các môn học khác, môn Ngữ
văn cũng cần hướng đến việc rèn luyện và phát triển ở học sinh năng lực tự quảnbản thân Trong các bài học, học sinh cần biết xác định các kế hoạch hành độngcho cá nhân và chủ động điều chỉnh kế hoạch để đạt được mục tiêu đặt ra, nhậnbiết những tác động của ngoại cảnh đến việc tiếp thu kiến thức và rèn luyện kĩnăng của cá nhân để khai thác, phát huy những yếu tố tích cực, hạn chế nhữngyếu tố tiêu cực, từ đó xác định được các hành vi đúng đắn, cần thiết trong nhữngtình huống của cuộc sống
*Năng lực giao tiếp tiếng Việt: Giao tiếp là hoạt động trao đổi thông tin
giữa người nói và người nghe, nhằm đạt được một mục đích nào đó Việc traođổi thông tin được thực hiện bằng nhiều phương tiện, tuy nhiên, phương tiện sửdụng quan trọng nhất trong giao tiếp là ngôn ngữ Trong môn học Ngữ văn, việchình thành và phát triển cho học sinh năng lực giao tiếp ngôn ngữ là một mụctiêu quan trọng, cũng là mục tiêu thế mạnh mang tính đặc thù của môn học.Thông qua những bài học về sử dụng tiếng Việt, học sinh được hiểu về các quytắc của hệ thống ngôn ngữ và cách sử dụng phù hợp, hiệu quả trong các tìnhhuống giao tiếp cụ thể, học sinh được luyện tập những tình huống hội thoại theonghi thức và không nghi thức, các phương châm hội thoại, từng bước làm chủtiếng Việt trong các hoạt động giao tiếp
*Năng lực ngôn ngữ: Năng lực ngôn ngữ thể hiện trước hết ở hoạt động
đọc Ở cấp trung học cơ sở: học sinh biết vận dụng kiến thức tiếng Việt cùng vớinhững trải nghiệm và khả năng suy luận của bản thân để hiểu văn bản; biết đọcvăn bản theo kiểu, loại; hiểu được nội dung tường minh và hàm ẩn của văn bản.Học sinh viết được bài văn tự sự, miêu tả và biểu cảm; bước đầu biết viết bàivăn nghị luận, thuyết minh đúng quy trình… Năng lực ngôn ngữ là một nănglực tổng hợp trên cơ sở những biểu hiện của bốn yếu tố đọc, viết, nghe, nói cấuthành Các yếu tố đó có mối quan hệ chặt chẽ, thúc đẩy và tác động, ảnh hưởnglẫn nhau, tạo nên tính toàn diện năng lực đặc thù của môn Ngữ văn
Ngoài ra năng lực thưởng thức văn học, cảm thụ thẩm mĩ cũng là nănglực đặc thù của môn học Ngữ văn, gắn với tư duy hình tượng trong việc tiếpnhận văn bản văn học Từ việc tiếp xúc với các văn bản văn học, học sinh sẽ biếtrung động trước cái đẹp, biết sống và hành động vì cái đẹp, nhận ra cái xấu vàphê phán những hình tượng, những biểu hiện không đẹp trong cuộc sống, biếtđam mê và mơ ước cho cuộc sống tốt đẹp hơn
Trang 5Như vậy, quá trình dạy học Ngữ văn đồng thời giúp học sinh hình thànhvà phát triển các năng lực đáp ứng với yêu cầu phát triển của xã hội, thông quaviệc rèn luyện và phát triển các kĩ năng đọc, viết, nghe, nói
2.1.4 Dạy học theo chủ đề
Dạy học theo chủ đề là hình thức tìm tòi những khái niệm, tư tưởng, đơn vị
kiến thức, nội dung bài học, chủ đề,…có sự giao thoa, tương đồng lẫn nhau, dựatrên cơ sở các mối liên hệ về lí luận và thực tiễn được đề cập đến trong các môn
học hoặc các hợp phần của môn học đó (tức là con đường tích hợp những nội dung từ một số đơn vị, bài học, môn học có liên hệ với nhau) [3] làm thành nội
dung học trong một chủ đề có ý nghĩa hơn, thực tế hơn, nhờ đó học sinh có thểtự hoạt động nhiều hơn để tìm ra kiến thức và vận dụng vào thực tiễn
Dạy học theo chủ đề là sự kết hợp giữa mô hình dạy học truyền thống vàhiện đại, ở đó giáo viên không dạy học chỉ bằng cách truyền thụ (xây dựng) kiếnthức mà chủ yếu là hướng dẫn học sinh tự lực tìm kiếm thông tin, sử dụng kiếnthức vào giải quyết các nhiệm vụ có ý nghĩa thực tiễn
Dạy học theo chủ đề ở bậc trung học là sự cố gắng tăng cường tích hợp kiến thức, làm cho kiến thức có mối liên hệ mạng lưới nhiều chiều; là sự tích hợp vào nội dung những ứng dụng kĩ thuật và đời sống thông dụng làm cho nội dung học có ý nghĩa hơn, hấp dẫn hơn[ 6] Nói một cách hoa mỹ, đó là việc
“thổi hơi thở” của cuộc sống vào những kiến thức cổ điển, nâng cao chất lượng
“cuộc sống thật” trong các bài học
2.2 Cơ sở thực tiễn
Xuất phát từ thực tế giảng dạy của bản thân tôi những năm học vừa quatại trường THCS Thành Yên và tham khảo giờ dạy của các đồng nghiệp, tôinhận thấy việc dạy - học các chủ đề chưa thật sự phát huy và khơi dậy tối đacác phẩm chất, năng lực của học sinh Điều đó, thể hiện ở những tồn tại sau:
Dạy học đọc - hiểu chủ yếu vẫn theo hướng truyền thụ một chiều nhữngcảm nhận của giáo viên là văn bản, chưa hướng tới việc cung cấp cho học sinhcách đọc, cách tiếp cận, khám phá những vấn đề về nội dung và nghệ thuật củavăn bản Dạy học chú trọng đến cung cấp nội dung tư tưởng của văn bản văn, ítchú trọng đến các phương tiện nghệ thuật Tóm lại, vẫn là chú trọng dạy kiếnthức hơn là hình thành phẩm chất và năng lực cho học sinh
Dạy học tích hợp đã được chú trọng trong những năm học gần đây vàcũng đã đạt được một số kết quả bước đầu Tuy nhiên, dạy học tích hợp vẫnmang tính khiên cưỡng, thiếu tự nhiên, tức là giáo viên thường áp đặt những nộidung tích hợp vào bài học như bảo vệ môi trường, giáo dục kỹ năng sống… mộtcách lộ liễu Chưa phát huy học sinh huy động kiến thức, kỹ năng của nhiềumôn học, nhiều lĩnh vực… để giải quyết các nhiệm vụ học tập Chủ yếu tích hợpliên môn, chưa chú trọng tích hợp các phân môn… chính vì vậy chưa giúp họcsinh hình thành kiến thức, kỹ năng mới và tất nhiên các năng lực của học sinhchưa được phát triển
Việc vận dụng các phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực cũng chưachuyển biến dẫn đến mục tiêu của dạy học chưa cao Ví dụ như phương pháp
Trang 6thảo luận nhóm được tổ chức nhưng chủ yếu vẫn dựa vào một vài cá nhân hoạtđộng, các thành viên còn lại còn dựa dẫm, ỉ lại chưa thực sự chủ động Mục đíchcủa thảo luận nhóm chưa đạt được hiệu quả.
2.2.1 Thực trạng vấn đề:
2.2.1.1 Thực trạng học của học sinh
Hiện nay, số lượng học sinh yêu thích môn Ngữ văn ngày càng ít đi, sốhọc sinh giỏi văn cũng theo đó mà ngày càng giảm dần Đặc biệt, trong nhữngnăm gần đây, số lượng học sinh đăng kí thi các trường đại học, cao đẳng khối Cgiảm sút đáng kể so với khối A,B Các kỳ thi tuyển học sinh giỏi không đượchọc sinh hưởng ứng một cách tích cực
Qua thực tế dạy học, tôi thấy việc học tập của học sinh cũng có nhiềuđiểm đáng quan tâm Có thể nói nhiều học sinh vẫn ngại học môn Ngữ văn vìphải ghi chép nhiều, nghe giảng nhiều và nhiều kiến thức Hơn nữa, trong quátrình giảng dạy, giáo viên cũng không để ý tới việc nhận thức của các em mà chỉdạy làm sao cho đúng tiến độ, đủ kiến thức
Trong giờ học văn, học sinh ngồi học thụ động, chưa phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo Đặc biệt các năng lực không được bộc lộ,
đó là năng lực viết đa số các em viết theo văn mẫu hoặc ý tưởng của thầy cô.
Ở đầu năm, trước khi bước vào chủ đề của học kì I, tôi đã tiến hành khảo sát chất lượng về các năng lực được phát huy trong giờ học ngữ văn lớp 8 thì kết quả số học sinh chưa phát huy được các năng lực chiếm tỉ lệ cao: 68% Kéo theo đó là kết quả chất lượng bài kiểm tra định kì của học sinh thấp, cụ thể như sau:
Như vậy, trên thực tế tỉ lệ học sinh không thích học chủ đề cao, vì khôngthấy sự khác biệt khi học chủ đề và học các bài học độc lập Các năng lực chưathực sự được phát huy khi dạy học chủ đề trước đây Đó là điều mà giáo viênphải tìm cách để thay đổi
2.2.1.2 Thực trạng của giáo viên
Về phía giáo viên, có thể nói rằng vẫn chưa thực sự tâm huyết với việcdạy học chủ đề ở môn Ngữ văn Chưa vận dụng có hiệu quả lý luận dạy học vàothực tiễn bài giảng nên giờ dạy giáo viên vẫn chưa thực sự giúp học sinh thểhiện cái riêng trong tiếp nhận kiến thức Sự phát huy tính tích cực chủ động củahọc sinh thực ra vẫn mang tính chất nửa vời Không phát huy được năng lực tưduy sáng tạo của các em
Trang 7Trong các tiết học, nội dung bài học cũng chỉ dừng lại ở việc truyền thụnhững kiến thức đơn thuần về nội dung và nghệ thuật của các văn bản và cáckiến thức Tập làm văn hoặc tiếng Việt chứ chưa giúp học sinh hình thành được
kĩ năng tìm hiểu một văn bản và khả năng suy luận để tự mình rút ra những bàihọc thực tiễn cho bản thân Kiến thức bài học trong chủ đề còn rời rạc, chưa cósự nối kết với nhau Tóm lại, vẫn là chú trọng dạy kiến thức hơn là hình thànhnăng lực cho học sinh
Về phương pháp thì chủ yếu vẫn là thuyết trình của giáo viên và sự thụđộng ghi chép của học sinh Chủ thể của giờ học là giáo viên bởi vậy giờ họcthường rất nặng nề và áp lực, cô hỏi, trò trả lời
Theo chỉ đạo của ngành, những năm gần đây, các trường học cũng thựchiện đúng việc xây dựng và dạy học theo chủ đề Nhưng trên thực tế, giáo viênvà học sinh mới thực sự thực hiện được ba hoạt động đầu còn hoạt động vậndụng và tìm tòi, mở rộng thì giáo viên hướng dẫn học sinh thực hiện ở nhà Sở
dĩ như vậy là vì khi thực hiện các chủ đề số tiết học vẫn không thay đổi Số tiếtchủ đề là số tiết các bài học trong chủ đề cộng lại Với việc chú trọng nội dungkiến thức bài học, giáo viên mới chỉ dừng lại ở việc truyền thụ kiến thức các bàihọc liên quan đến chủ đề mà chưa có những tiết học để luyện tập vận dụng,tổng kết chủ đề, kết nối các nội dung trong chủ đề lại với nhau
Để khắc phục những thiếu sót nêu trên, trong năm học 2021-2022 bảnthân tôi đã tiến hành nghiên cứu, tìm tòi, học hỏi và tích lũy kinh nghiệm, đểphần nào tìm được giải pháp nhằm cải thiện những biện pháp trong dạy học chủ
đề ngữ văn nói chung và ngữ văn 8 ở trường THCS nói riêng và bước đầu đãthu được một số kết quả khả quan như sau:
rõ những năng lực cần có và có thể phát triển trong dạy học Trong đó gồm nănglực chung có thể phát triển ở các môn học khác nhau và năng lực riêng[6]
Bên cạnh những năng lực, bài dạy ngữ văn phải giúp học sinh hình thànhnhững phẩm chất: Yêu gia đình, yêu quê hương, đất nước Nhân ái khoan dung.Trung thực, tự trọng, chí công vô tư Từ đó có trách nhiệm với bản thân, cộngđồng, đất nước và môi trường tự nhiên
Việc xác định những năng lực cần có và năng lực hướng tới cùng nhữngphẩm chất có thể giáo dục là định hướng quan trọng, không thể thiếu của các bàidạy Ngữ văn nói chung và dạy học chủ đề nói riêng.Từ mục tiêu, người dạy sẽthiết kế chủ đề để thực hiện mục tiêu đó
2.3.2 Tiến hành thiết kế chủ đề Ngữ văn 8 và dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh.
Bước 1: Xác định chủ đề.
Trang 8Xác định nội dung, phạm vi kiến thức muốn đưa vào chủ đề: Nội dung cóthể là sự tích hợp một đơn vị kiến thức trong nhiều bài.
Bước 2: Căn cứ các chủ đề tích hợp, giáo viên tiến hành xâydựng chủ đề,
xác định nội dung kiến thức của chủ đề:
Với quy định tối thiểu là 2 chủ chủ đề trên năm học, tôi đã tiến hành xâydựng hai chủ đề ở mỗi đầu học kì ở bộ môn Ngữ văn 8 và đặt tên cho chủ đềcủa học kì I là: Truyện kí hiện đại Việt Nam Chủ đề học kì II là: Thơ mới Việt
Nam giai đoạn 1930- 1945 Mỗi chủ đề được dạy trong thời lượng 8 tiết học
Giáo viên xác định các kiến thức cần tích hợp trong hoạt động chủ đề,cách đánh giá các hoạt động chủ đề
Xây dựng nội dung kiến thức của chủ đề: Giới thiệu khái quát chủ đề, họcsinh tiếp thu kiến thức của của chủ đề Vận dụng, sáng tạo thông qua học chủ
đề, mở rộng kiến thức, tổng kết đánh giá về năng lực của học sinh thông quahoạt động chủ đề
Bước 3: Tiến hành soạn giáo án theo chủ đề đã xây dựng theo tiến trình:
Giáo vên xác định mục tiêu của chủ đề hướng đến phát triển phẩm chất vànăng lực, sau đó tiết học cần chuẩn bị những gì, tiến trình các hoạt động: Từhoạt động 1 đến hoạt động 5 ( giáo án minh họa)
Bước 4: Dựa trên các nhiệm vụ học tập được đưa ra theo kế hoạch, giáo
viên tiến hành thực hiện dự án dạy học chủ đề
Ở bước này, giáo viên cần bám sát những nhiệm vụ học của học sinh, đề
ra các phương hướng phù hợp để khai thác hiệu quả nội dung chủ đề Tiết dạyhọc theo chủ đề thường được tiến hành giống như một tiết học bình thường ngaytại lớp học Tuy nhiên, dạy học theo chủ đề thường gắn với các nhiệm vụ họctập và gắn với giải quyết các vấn đề thực tiễn nên khâu chuẩn bị có thể sẽ phảitiến hành trước tiết dạy nhiều tuần Các dự án cần có kế hoạch theo dõi tiến hànhthực hiện để có cơ sở kiểm tra, đánh giá các năng lực học sinh ngay trong quátrình thực hiện nhiệm vụ học tập
Trong khuôn khổ một sáng kiến kinh nghiệm, tôi không thể đăng tải hếtgiáo án của một chủ đề bao gồm 8 tiết học Nên chỉ đưa ra giáo án một tiết họctrong chủ đề Ngữ Văn 8 học kì II làm ví dụ minh hoạ cho việc dạy học một tiếthọc của chủ đề theo định hướng phát triển năng lực Trong chủ đề học kì 2 nàybao gồm 8 tiết từ tiết 73 đến tiết 80 Sau phần giới thiệu chủ đề ở tiết73 là đến
tiết 74 - Tiết 1 của văn bản Nhớ rừng và là tiết thứ hai của chủ đề tiến hành như
Trang 9với những người xung quanh cũng như với các nhân vật trong tác phẩm, tôntrọng sự khác biệt về hoàn cảnh, văn hóa, biết tha thứ, độ lượng với người khác
- Biết tôn trọng những giá trị văn hoá tinh thần cao đẹp của dân tộc Cótrách nhiệm, nghiêm túc trong tìm hiểu, học tập
2 Năng lực:
+ Năng lực chung: Tự học, giao tiếp, sáng tạo.
+ Năng lực chuyên biệt: Đọc - Hiểu văn bản, phân tích chi tiết, hình ảnh,nhận xét nghệ thuật, cảm thụ tác phẩm văn học
Qua bài học, HS biết:
a Đọc hiểu:
- Hiểu được thông điệp, tư tưởng, tình cảm, và thái độ của tác giả
- Nhận biết và phân tích được tác dụng của một số yếu tố hình thức vàbiện pháp nghệ thuật của thể loại thơ trữ tình
- Biết được sơ giản về phong trào thơ mới
- Hiểu được chiều sâu tư tưởng yêu nước thầm kín của lớp thế hệ tri thứcTây học chán ghét thực tại, vươn tới cuộc sống tự do
- Nhận biết được hình tượng nghệ thuật độc đáo, có nhiều ý nghĩa của bàithơ Nhớ rừng
- Nhận biết được chủ đề, thông điệp mà văn bản muốn gửi gắm đến ngườiđọc
- Nhận biết được tình cảm, cảm xúc của người viết qua phương tiện ngônngữ
- Liên hệ được nội dung nêu trong văn bản với những vấn đề của xã hộitrung đại
b Viết
- Biết viết bài văn đảm bảo các bước: Chuẩn bị trước khi viết (xác định đềtài, mục đích, thu thập tư liệu); tìm ý và lập dàn ý; viết bài; xem lại và chỉnh sửa,rút kinh nghiệm
- Viết được bài văn phân tích một tác phẩm văn học: nêu được chủ đề;dẫn ra và phân tích được tác dụng của một vài nét đặc sắc nghệ thuật được dùngtrong tác phẩm
II PHƯƠNG TIỆN VÀ HÌNH THỨC TỔ CHỨC DẠY HỌC
1 Phương tiện dạy học:
- Máy tính, máy chiếu, bộ loa
- Bài soạn
- Sách giáo khoa, sách giáo viên, phiếu học tập
Trang 102 Hình thức tổ chức dạy học:
- Dạy học cá nhân, nhóm, cả lớp;
- HS thuyết trình, giới thiệu, trao đổi thảo luận
III TIẾN TRÌNH DẠY HỌC
A VĂN BẢN NHỚ RỪNG
Hoạt động của giáo viên- học sinh Nội dung cần đạt
1 Hoạt động khởi động và tạo tâm thế
- GV tổ chức trò chơi: Đuổi hình bắt chữ
Có 2 hình ảnh tương ứng với 2 câu chuyện/
tác phẩm Em hãy đoán đó là tác phẩm
nào?
GV: Vào bài mượn hình ảnh loài vật để
giáo dục hoặc truyền tải một thông điệp
nào đó là cách dùng quen thuộc trong các
tác phẩm văn học Thế Lữ cũng chọn cách
này, thông qua hình tượng con hổ bị giam
cầm để bày tỏ nỗi niềm của mình trong bài
thơ "Nhớ rừng" Đây cũng chính là nội
dung tiết học của chúng ta ngày hôm nay
2 Hình thành kiến thức chủ đề.
1 Khởi động và tạo tâm thế
- HS quan sát, đoán tên văn bản tương ứng với các hình ảnh
Con cáo và tổ ong
Con sói và bầy cừu
2 Hình thành kiến thức chủ đề.
I Đọc và tìm hiểu chung về văn bản
- GV hướng dẫn hs đọc toàn bộ văn bản (
Phát triển năng lực đọc văn bản ở học
sinh).
+ Đoạn 1 + 4 đọc với giọng buồn, ngao
ngán, bực bội, u uất
+ Đoạn 2,3,5: Giọng vừa háo hức vừa tiếc
nuối
I Hướng dẫn đọc và tìm hiểu chung về văn bản
1.Đọc, tìm hiểu chú thích
Trang 11+ Bên cạnh đó cần đọc nhấn giọng ở những
từ ngữ miêu tả, những từ ngữ bộc lộ tâm
trạng, chú ý đọc liền mạch những câu thơ
vắt dòng (câu thơ bắc cầu)
- Đọc mẫu H đọc tiếp-> Gọi 2 - 3 học sinh
đọc bài thơ
- GV yêu cầu học sinh nêu ấn tượng nổi bật
về văn bản
- GV hướng dẫn học sinh tìm hiểu từ ngữ
khó Trao đổi với các bạn bên cạnh về
những từ ngữ mình không hiểu hoặc chưa
hiểu bằng cách dự đoán nghĩa của từ trong
ngữ cảnh, có thể tham khảo phần chú thích
trong sách giáo khoa
2 Tìm hiểu chung về văn bản
- GV chiếu chân dung Thế Lữ và yêu cầu
học sinh làm việc theo nhóm đôi: đọc chú
thích phần tác giả
Giới thiệu vài nét về nhà thơ Thế Lữ?
( Phát triển năng lực hợp tác, năng lực
tự học, khái quát vấn đề)
- HS quan sát, thảo luận và báo cáo kết quả
GV tổ chức cho học sinh tìm hiểu về tác
phẩm Nhớ rừng thông qua các hoạt động:
- Yêu cầu HS đọc chú thích, đọc văn bản,
hoạt động nhóm bàn
- Nhóm 1,3 hoàn thành phiếu học tập số 1
? Tìm hiểu về xuất xứ, hoàn cảnh ra đời,
PTBĐ chính và Thể thơ ?
( Phát triển năng lực hợp tác, năng lực
tự học, khái quát vấn đề)
- Nhóm 2,4 hoàn thành phiếu học tập số 2
+ Chia bố cục
- Nêu được ấn tượng chung vềvăn bản: nỗi niềm tiếc nuối
- Quan sát SGK, phối hợp cùngbạn bên cạnh để tìm hiểu về từngữ khó
2.Tìm hiểu chung về văn bản
- Xuất xứ, hoàn cảnh ra đời
+ Viết năm 1934, in trong tập
“Mấy vần thơ” xuất bản 1935
Trang 12+ Xác định nội dung từng phần
( Phát triển năng lực hợp tác, năng lực
tự học, khái quát vấn đề)
- Các nhóm thực hiện nhiệm vụ
- Báo cáo kết quả
- Dự kiến sản phẩm ( Phụ lục 1)
3 Đọc hiểu chi tiết văn bản
a Hình ảnh con hổ ở vườn bách thú
(Đoạn 1, 4)
GV yêu cầu HS đọc lại đoạn 1 + 4 và
hướng dẫn học sinh đọc hiểu bằng câu hỏi
gợi mở:
- Đoạn thơ thể hiện điều gì?
GV tổ chức cho hs thảo luận theo nhóm
( Phát triển năng lực hợp tác, giải quyết
vấn đề, cảm thụ thẩm mĩ văn học…)
Nhóm 1: Đọc hai câu thơ đầu và hoàn
thành PHT số 3
Gậm mội nỗi căm hờn trong cũi sắt
Ta nằm dài, trông ngày tháng dần qua
Thân phận Tâm trạng Từ ngữ thể
hiện tâm trạng
Nghệ thuật:
+ Bài thơ được khơi nguồn từ 1lần đi chơi vườn bách thú (HN).Tác giả mượn lời con Hổ bị nhốttrong vườn bách thú để nói đầyđủ tam sự u uất của 1 lớp người,
1 thế hệ những năm 1930, bấthòa với cuộc sống thực tại
-> Là một trong những bài thơtiêu biểu nhất của Thế Lữ, gópphần mở đường cho sự thắng lợicủa thơ mới
- PTBĐ: biểu cảm
- Thể thơ: 8 chữ -Bố cục:
+ Phần 1: Đoạn 1 + 4: H/ ả con
hổ ở vườn bách thú
+ Phần 2: Đoạn 2 + 3: Hình ảnhcon hổ trong chốn giang sơnhùng vĩ
+ Phần 3: Đoạn 5: Nỗi khaokhát “giấc mộng ngàn” của conhổ
3 Đọc hiểu chi tiết văn bản
a Hình ảnh con hổ ở vườn bách thú (Đoạn 1, 4)
* Hoàn cảnh, tâm trạng
Tâm trạng
Từ ngữ thể hiện tâm trạng
Bị nhốttrong cũisắt, trởthànhthứ đồchơi
tâm trạngcăm giận,uất ức,ngaongán,chán ghétcảnh sốngtầm
- Gậm khối căm hờn
- Nằm dài trông ngày
Trang 13thường, tù túng
tháng dần qua
Nghệ thuật:
- Nghệ thuật: nhân hoá, ẩn dụ, nhiều động từ, tính từ giàu sức gợi tả, biểu cảm cao, thanh điệu đặc biệt
- Tâm trạng của con hổ trong cảnh ngộ bị tù hãm ở vườn bách thú
- Thanh điệu + Câu 1: Một loạt thanh trắc tạo âm thanh chối tai, sự gậm nhấm đầy uất úc
+ Câu 2: Sử dụng một loạt thanh bằng trải rộng như một tiếng thở dài ngao ngán
b.Cảnh vườn bách thú
Nhóm 2: Hoàn thành phiếu học tập số 4:
Phiếu học tập số 4
Điền từ ngữ phù hợp chỉ đặc điểm của cảnh
vật trong vườn bách dưới mắt của con hổ:
- Lũ người:
- Bọn gấu:
- Cặp báo chuồng bên:
………
- Những cảnh vật: + Hoa, cỏ, cây, lối đi:
………
+ Dải nước đen:
………
+ Dăm vừng lá:
………
Nhận xét của em về bứa tranh cảnh vật hiện lên trong mắt con hổ:……
………
Nghệ thuật
………
b Cảnh vườn bách thú b1.Cảnh vật trong vườn bách dưới mắt của con hổ
Phiếu học tập số 4
Điền từ ngữ phù hợp chỉ đặc điểm của cảnh vật trong vườn bách dưới mắt của con hổ:
Cảnh đơn điệu, nhàm tẻ,tầm thường, giả tạo, vô hồn, tù túng đáng chán, đáng khinh, đáng ghét không phải là của thế giới tự nhiên to lớn, mạnh mẽ, bí hiểm.
- Nhịp thơ: Ngắn, dồn dập, từ ngữ liệt kê, giọng thơ giễu cợt…
Nhóm 3: Hoàn thành phiếu học tập số 5 Phiếu học tập số 5
Gạch dưới những từ ngữ bộc lộ