SÁNG KIẾN KINH NGHIỆMMỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NGÔN NGỮ QUA VIỆC RÈN LUYỆN KĨ NĂNG NÓI CHO HỌC SINH LỚP 6 Ở TRƯỜNG THCS XUÂN CAO Người thực hiện: Lê Thị Oanh Chức vụ:
Trang 1SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NGÔN NGỮ QUA VIỆC RÈN LUYỆN KĨ NĂNG NÓI CHO HỌC SINH LỚP 6 Ở TRƯỜNG THCS XUÂN CAO
Người thực hiện: Lê Thị Oanh Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường THCS Xuân Cao SKKN thuộc môn: Ngữ văn
Trang 21 Mở đầu 1
1.1 Lí do chon đề tài 1
1.2 Mục đích nghiên cứu 2
1.3 Đối tượng nghiên cứu 2
1.4 Phương pháp nghiên cứu 2
2 Nội dung của sáng kiến kinh nghiệm 2
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm 2
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 4
2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề 4
2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục của bản thân, đồng nghiệp, nhà trường 14
3 Kết luận, kiến nghị 15
3.1 Kết luận 15
3.2 Kiến nghị 16
Trang 3Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn 6 thay thế cho chương trình năm 2006 được xây dựng theo định hướng phát triển phẩm chất và năng lực học sinh, trong đó phải kể đến năng lực ngôn ngữ và năng lực văn học Tuy nhiên, cho đến nay, dạy học theo định hướng phát triển năng lực nói chung, năng lực ngôn ngữ nói riêng vẫn là một thử thách đối với giáo viên Ngữ văn ở trường phổ thông Vì thế, việc tìm ra những biện pháp dạy học Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực người học, trong đó có năng lực ngôn ngữ, đáp ứng yêu cầu của chương trình 2018 là điều vô cùng cần thiết
Chương trình 2018 môn Ngữ văn lấy việc rèn luyện các kĩ năng giao tiếp (đọc, viết, nói và nghe) là yêu cầu trọng tâm nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển năng lực và bảo đảm tính chỉnh thể, sự nhất quán liên tục trong tất cả các cấp học, lớp học Các kiến thức phổ thông cơ bản, nền tảng về tiếng Việt và văn học được hình thành qua hoạt động dạy học tiếp nhận và tạo lập văn bản; phục vụ trực tiếp cho yêu cầu rèn luyện các kĩ năng đọc, viết, nói và nghe của học sinh Trong các kĩ năng trên, nói là kĩ năng quan trọng và cần được đầu tư nhiều
về thời gian, công sức Qua tiết luyện nói, giáo viên luyện cho học sinh biết vận dụng từ ngữ và các quy tắc ngữ pháp cơ bản đã học để nói đúng, viết đúng, biết diễn đạt ý tưởng chính xác, rõ ràng, trong sáng Hơn nữa, giáo viên còn rèn cho học sinh các vấn đề liên qua đến lời nói (phải rõ nghĩa, rõ ý), giọng nói (phải vừa nghe, vừa cố gắng truyền cảm) và tư thế nói (phải mạnh dạn, tự tin giúp cho lời nói có sức thuyết phục hơn) Nói năng tốt có ý nghĩa rất quan trọng đối với các em không chỉ trong thời gian học ở trường mà còn trong suốt cuộc đời, đặc biệt là khi các em trưởng thành gắn với hoạt động giao tiếp thực tế Rèn luyện kĩ năng nói cho học sinh là một việc làm khó, nhưng dù khó thế nào, yêu cầu của
kĩ năng nói cũng phải luôn luôn được coi trọng Nếu như nghe và đọc là hai kĩ năng quan trọng của hoạt động tiếp nhận thông tin, thì nói và viết là hai kĩ năng quan trọng của hoạt động bộc lộ, truyền đạt thông tin cần được rèn luyện và phát triển trong nhà trường
Luyện nói trong nhà trường góp phần phát triển năng lực ngôn ngữ và năng lực văn học, giúp học sinh có thói quen nói trong những môi trường giao tiếp khác nhau Nó được thực hiện một cách có hệ thống, theo những chủ đề nhất định, gắn với những vấn đề quen thuộc trong cuộc sống hàng ngày Văn nói phát triển cho học sinh kĩ năng lựa chọn từ ngữ, kiểu câu mang phong cách khẩu ngữ Tập làm văn nói rất có ích cho người đọc, người học, giúp học sinh có khả năng độc thoại theo đề tài thường gặp trong đời sống (như phát biểu ý kiến của mình
về một vấn đề nào đó, hay trong thảo luận hoặc trong giao tiếp hằng ngày) Giáo viên quan tâm đến việc luyện nói cho học sinh là đã góp phần phát triển ngôn ngữ cho các em thực hành giao tiếp Với các em lớp 6, việc rèn kĩ năng nói là việc làm vô cùng quan trọng giúp các em phát âm chuẩn, diễn đạt đúng ý định của bản thân Nếu đọc, nói không đúng, không rõ ràng thì quá trình giao tiếp sẽ gặp khó khăn, người nghe khó hiểu trọn vẹn được ý định của người nói Nhiệm
Trang 4vụ đặt ra cho người giáo viên là để thực hiện các bài luyện nói cho các em cần lựa chọn phương pháp nào? Biện pháp nào giúp các em mạnh dạn hơn trước tập thể lớp, trước thầy cô và trước mọi người xung quanh, biết diễn đạt được những điều mình muốn nói Làm thế nào để các bài luyện nói theo sách giáo khoa Ngữ văn sẽ góp phần dạy các em giao tiếp hàng ngày trong cuộc sống Những trăn
trở này chính là lí do tôi chọn đề tài: “Một số giải pháp góp phần phát triển năng lực ngôn ngữ qua việc rèn luyện kĩ năng nói cho học sinh lớp 6 ở trường trung học cơ sở Xuân Cao”.
1.2 Mục đích nghiên cứu
Việc rèn kĩ năng nói cho học sinh lớp 6 là rất cần thiết, góp phần phát
triển ngôn ngữ cho các em vào việc thực hành giao tiếp Các tiết rèn luyện kĩ năng nói sẽ giúp các em phát âm chuẩn, diễn đạt đúng ý định của bản thân Bởi
vì nếu đọc, nói không đúng thì quá trình giao tiếp sẽ gặp nhiều khó khăn, người nghe khó hiểu trọn vẹn ý định người nói Vậy phát triền năng lực nói cho học sinh
là việc làm thiết thực vừa góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ văn vừa hình thành phong cách cho học sinh giúp các em mạnh dạn trước tập thể, có kỹ năng giao tiếp trong cuộc sống Nói tốt cũng là cơ sở quan trọng cho việc tạo lập văn bản tốt
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Rèn luyện kĩ năng nói cho học sinh là đối tượng chính Nhưng để đạt hiệu quả cao, vấn đề đặt ra còn là các kĩ năng khác như tìm hiểu đề, tìm ý, xây đựng đoạn văn, diễn đạt bằng lời trong bài văn nói
1.4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết: trên cơ sở lý thuyết chung về đặc trưng bộ môn Ngữ văn trong nhà trường phổ thông, đặc biệt là dựa vào đặc trưng của kiểu bài văn nói thực hiện trong một tiết học
- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin: Khảo sát thực tế qua bài văn nói cho đối tượng học sinh khối 6 tại trường Ngoài ra có sự thu thập thông tin, tham khảo thêm kinh nghiệm của đồng nghiệp trong trường
và ngoài nhà trường
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Dùng phương pháp này để phân tích các tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu, từ đó xác lập các lý thuyết liên quan đến đề tài
- Phương pháp thống kê, xử lý số liệu: cụ thể qua các bài luyện nói của học sinh khối 6 qua các mặt cụ thể và yêu cầu cần đạt khi thực hiện tiết học
- Phương pháp so sánh: từ việc điều tra, khảo sát thực tế để có số liệu đến tiến hành xử lí số liệu để có phép so sánh bằng con số cụ thể Thông qua đó để thấy được tác dụng thực tiễn của đề tài nghiên cứu
2 Nội dung của sáng kiến kinh nghiệm
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
Nói đến ngôn ngữ là nói đến công cụ dùng để giao tiếp trong cuộc sống
Có ngôn ngữ thì mới có quan hệ xã hội và quan hệ xã hội chính là nơi để phát triển ngôn ngữ Hằng ngày, người Việt Nam ta nói với nhau bằng tiếng Việt và
Trang 5cũng hằng ngày, báo chí, đài phát thanh, truyền hình và các thông tin đại chúng của chúng ta phát ra khắp thế giới chữ viết, tiếng nói giàu đẹp của chúng ta Tiếng nói ấy lâu đời như dòng giống của chúng ta, nó đã trở nên thứ “Của cải vô cùng quý báu” (Hồ Chủ tịch) của dân tộc Môn học Ngữ văn trong nhà trường
có vai trò quan trọng trong việc phát triển năng lực ngôn ngữ người học
Năng lực ngôn ngữ là một năng lực tổng hợp trên cơ sở những biểu hiện của bốn yếu tố đọc, viết, nghe, nói cấu thành Các yếu tố đó có mối quan hệ chặt chẽ, thúc đẩy và tác động, ảnh hưởng lẫn nhau, tạo nên tính toàn diện năng lực đặc thù của môn Ngữ văn Năng lực ngôn ngữ là một trong hai năng lực đặc thù
của bộ môn Ngữ văn Nói một cách đơn giản, năng lực ngôn ngữ là năng lực
biểu đạt rõ ràng và mạch lạc ý nghĩ và tình cảm của mình bằng lời nói, cũng như nét mặt, cử chỉ, và điệu bộ Người có năng lực ngôn ngữ là người giỏi về tiếng
mẹ đẻ (tiếng Việt) và thành thạo tiếng nước ngoài Ở đây chỉ bàn đến năng lực
ngôn ngữ tiếng Việt của học sinh qua việc học môn Ngữ văn.
Tiếp nối môn Tiếng Việt ở cấp tiểu học, môn Ngữ văn ở trung học cơ sở
được xem là môn học chủ đạo có thể giúp học sinh phát triển năng lực ngôn
ngữ Năng lực ngôn ngữ của học sinh gồm 3 năng lực sau: Năng lực làm chủ ngôn ngữ tiếng Việt đòi hỏi học sinh phải có một vốn từ nhất định, hiểu và cảm
nhận được sự giàu đẹp của tiếng Việt, nắm được quy tắc về từ ngữ, ngữ pháp,
chính tả; Năng lực sử dụng tiếng Việt để giao tiếp đòi hỏi học sinh phải biết sử
dụng thuần thục tiếng Việt trong nhiều tình huống khác nhau, môi trường khác
nhau và đối tượng khác nhau; Năng lực sử dụng ngôn ngữ để tạo lập văn bản là
năng lực rất quan trọng đối với học sinh trong nhà trường phổ thông Rèn luyện
kĩ năng nói là phương pháp ưu thế nhằm phát triển năng lực ngôn ngữ cho học sinh
Chương trình sách giáo khoa hiện nay và Ngữ văn 6 nói riêng đặc biệt chú trọng “Trọng tâm của việc rèn luyện kỹ năng Ngữ văn cho học sinh là làm cho học sinh có kỹ năng nghe, nói, đọc, viết tiếng Việt khá thành thạo theo kiểu văn bản và có kỹ năng sơ giản về phân tích tác phẩm văn học, bước đầu có năng lực cảm nhận và bình giảng văn học” Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng nói: “Dạy làm văn là chủ yếu dạy cho học sinh diễn tả cái gì mình suy nghĩ, mình cần bày tỏ một cách trung thành, sáng tỏ chính xác, làm nổi bật điều mình muốn nói ” Như vậy, phát huy được tính tích cực trong học tập cho học sinh thông qua việc luyện nói chính là cách để các em rèn luyện ngôn ngữ, cách diễn đạt trước tập thể và trước đám đông tạo nên tâm thế tự tin cần thiết Việc rèn luyện năng lực nói chính là giúp các em phát triển tốt ngôn ngữ tiếng Việt trong thực hành giao tiếp
Qua việc trang bị và rèn luyện các phẩm chất và năng lực cho học sinh, môn học này góp phần quan trọng vào mục tiêu chung của nhà trường phổ thông: hình thành, phát triển nhân cách, tư tưởng và tâm hồn con người Qua mỗi giờ Ngữ văn, người học có ý thức sống ngày một tốt hơn, đẹp hơn, đúng như nhà văn Nga, M Gorơki đã viết: “Mỗi cuốn sách là một bậc thang nhỏ, giúp tôi tách khỏi con thú để tiến dần đến với con người”
Trang 62.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
Học sinh ở trường trung học cơ sở Xuân Cao là một xã ở xa trung tâm, các
em đều xuất thân và sinh sống ở vùng nông thôn, ít có dịp đi đây, đi đó để mở rộng tầm nhìn nên thường có tâm lí e dè, ngại nói hoặc không tự tin khi nói trước đông người Không những thế ngoài giờ học, các em quen nói tự do, còn trong giờ tập nói, các em phải trả lời, phải suy nghĩ, trình bày lời nói của mình dưới sự giám sát của giáo viên
Học sinh phát âm chưa tốt, nói sai nhiều, do ảnh hưởng của từ ngữ địa phương Khi trả lời học sinh có thói quen lặp lại từ, diễn đạt vụng về, thiếu mạch lạc, tác phong chưa mạnh dạn, không dựa vào đề cương để nói mà thường là đọc
Vốn từ ngữ ở học sinh còn hạn chế nên các em lúng túng trong việc diễn đạt, nhiều em hiểu đề nhưng khi vận dụng vào việc tạo lập văn bản thì không diễn đạt được vì nghèo vốn từ
Thời gian cho một tiết rèn luyện kĩ năng nói không đủ để giáo viên có thể cho số lượng học sinh lên nói được nhiều, vì lớp có sĩ số học sinh khá đông cho yêu cầu của một tiết luyện nói Việc áp dụng khi tổ chức giờ dạy cụ thể cho đối tượng học sinh trong trường còn nhiều khó khăn
2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
2.3.1 Giáo viên phải nắm vững yêu cầu của tiết dạy
Chúng ta phải hiểu rằng đây là tiết giúp học sinh “rèn luyện kĩ năng nói” thì học sinh phải được nói Phải thực sự luyện trên lớp cho từng em được nói Trước khi luyện nói theo tôi, giáo viên phải nêu thật rõ yêu cầu của tiết học Khi học sinh lên bảng trình bày, giáo viên phải đứng ở vị trí cuối lớp để nắm bắt và nhận xét đúng khả năng thành tích đạt được của các em trong quá trình luyện nói (trình bày một vấn đề bằng miệng) Đồng thời cần định hướng cho học sinh
đi đúng yêu cầu, nói chứ không phải là đọc Đã nói thì phải vận dụng đúng ngôn ngữ, nói thể hiện rõ nhất là ngữ điệu trong sử dụng thành văn Ngoài ra, các em còn thể hiện qua cử chỉ, nét mặt, sắc thái tình cảm, thái độ khi trình bày
Ví dụ: Kể về một chuyến đi thăm di tích lịch sử
Khi cho học sinh luyện nói đề bài này, giáo viên cần phải cho các em xác định và nắm vững các bước làm một bài văn tự sự, cần cho học sinh xác định được phần tìm hiểu đề, tìm ý; giáo viên có thể đặt câu hỏi cho học sinh định hướng nội dung bài luyện nói Chẳng hạn: đề yêu cầu các em làm gì? Với đề này các em cần trình bày những nội dung nào? Bố cục của bài luyện nói gồm mấy phần? Sau đó giáo viên sẽ chỉnh sửa lại cho phù hợp và yêu cầu học sinh trình bày bài luyện nói của mình
2.3.2 Hướng dẫn việc chuẩn bị bài ở nhà cho học sinh
Muốn một giờ luyện nói đạt kết quả tốt, ngoài việc hướng dẫn cho học sinh đi đúng yêu cầu của một giờ luyện tập trên lớp thì việc cho các em chuẩn bị bài ở nhà cũng rất quan trọng Muốn các em chuẩn bị bài tốt, có chất lượng thì
sự chuẩn bị, hướng dẫn của giáo viên cũng phải chu đáo Giáo viên cần hướng dãn học sinh chọn chủ đề phù hợp với bản thân Khi đã chọn được chủ đề phù
Trang 7hợp rồi, giáo viên phải phân việc cụ thể cho từng đối tượng học sinh (có thể phân theo dãy bàn, tổ, nhóm) để học sinh chuẩn bị kĩ lưỡng, tránh đối phó qua loa, đại khái
Ví dụ: Trong tiết 12, 13 rèn luyện kĩ năng nói ở lớp 6 có đề bài: Kể lại một trải nghiệm Học sinh có thể chọn trải nghiệm: “Một chuyến đi thành phố
của em.”
Với đề bài này dàn ý có thể lập như sau:
a, Mở bài
Lí do ra thành phố
b, Thân bài
- Lòng háo hức khi được ra thành phố
- Những điều tai nghe, mắt thấy ở thành phố
+ Quang cảnh chung của thành phố (xe cộ, nhà cửa, người đi lại…)
+ Quang cảnh của một khu phố cụ thể đã đi qua
+ Cảnh một siêu thị hiện đại, sang trọng, người mua bán tấp nập
+ Cảnh một công viên đẹp đẽ, trẻ em đông vui nhộn nhịp
+ Em được chụp ảnh kỉ niệm, mua sách vở, đồ dùng học tập
c Kết bài:
Chia tay- cảm xúc về chuyến đi
Giáo viên phải phân nhóm cho học sinh (mỗi nhóm từ 4-5 em) như sau: + Nhóm chuẩn bị phần mở bài
+ Nhóm chuẩn bị phần kết bài
+ Năm nhóm chuẩn bị phần thân bài với năm ý
Giáo viên có thể sử dụng Bảng kiểm bài nói để hướng dẫn và đánh giá bài nói của học sinh
Bảng kiểm bài nói kể lại trải nghiệm của bản thân
Các phần của bài
nói Nội dung kiểm tra
Đạt/ Chưa đạt
Mở bài
Dùng ngôi thứ nhất để kể
Giới thiệu sơ lược về trải nghiệm
Dẫn dắt chuyển ý, gợi sự tò mò, hấp dẫn với người đọc
Trình bày chi tiết về thời gian, không gian, hoàn cảnh xảy ra câu chuyện
Thân bài
Trình bày chi tiết những nhân vật liên quan
Trình bày các sự việc theo trình tự hợp lí, rõ ràng
Kết hợp kể và tả
Kết bài Nêu ý nghĩa của trải nghiệm đối với bản thân
Trang 82.3.3 Cả lớp đều tham gia luyện nói
Làm thế nào để cả lớp tham gia luyện nói theo đúng nghĩa của nó? Đó là yêu cầu quan trọng của tiết dạy Thường thì những giờ luyện nói như thế này giáo viên không khéo léo thì một số em lơ là, không tham gia luyện tập, ỷ lại chỉ chờ kết quả của các thành viên khác trong nhóm mà không chịu tư duy Vì vậy tôi cần phải tìm ra những biện pháp tốt nhất mà trong đó không thể bỏ qua việc các em tham gia nhận xét, đánh giá sự trình bày của bạn Vấn đề đặt ra là giáo viên phải hướng cho học sinh biết đánh giá thế nào là đúng Tôi có thể yêu cầu các em như sau:
Ví dụ:
? Em hãy nhận xét phần trình bày của bạn? Theo em bạn nói đã đúng nội dung bài hay chưa? (bạn đọc hay nói?) Phần trình bày nội dung có cần bổ sung thêm những ý nào không?
? Cử chỉ, thái độ, giọng điệu của bạn trình bày đã phù hợp hay chưa? (cử chỉ, thái độ, giọng điệu biểu hiện như thế nào?)
Muốn đạt được những yêu cầu này, trước hết tôi phải đặt ra những yêu cầu đối với các em như: biết nhận xét đúng, sai của bạn tức là mình đã có sự chuẩn bị bài ở nhà hoặc tôi có thể khuyến khích các em về những lời khen đã có
sự chuẩn bị bài tốt hoặc có thể dùng phần thưởng bằng điểm số hoặc quà cho cả
em được tham gia nói và cả em tham gia nhận xét
2.3.4 Rèn luyện nội dung và hình thức nói
Trước khi dạy bài này, giáo viên có thể cho các em được xem trên ti vi một bài văn nói làm mẫu Sau đó, tổ chức cho học sinh xung phong trình bày các vấn đề hoặc có thể gọi các đối tượng giỏi, khá, trung bình, yếu, kém trình bày Giáo viên căn cứ vào bài nói của học sinh để rút kinh nghiệm cho các em lần sau nói tốt hơn lần trước
* Rèn luyện nội dung nói
- Học sinh nói phải có nội dung, nói có suy nghĩ, điều chỉnh kịp thời nội dung để đáp ứng yêu cầu người nghe
- Nói theo đề cương mà nội dung đã chuẩn bị
- Nói tập trung vào vấn đề, chọn dẫn chứng tiêu biểu
- Điều chỉnh nội dung nói: nhắc lại điều người nghe chưa hiểu, lướt những điều người nghe đã rõ
- Kết hợp đúng mực nội dung và ngữ điệu, không để cho ngữ điệu lấn át nội dung
Ví dụ: Trình bày ý kiến về một vấn đề trong đời sống gia đình
Với đề bài này, các em cần phải trình bày được:
a, Mở bài
- Vai trò của gia đình trong đời sống mỗi người
- Vấn đề em quan tâm trong đời sống gia đình
b, Thân bài
- Một gia đình luôn yêu thương, đầm ấm thì sẽ tạo ra những thành viên tích cực
Trang 9- Tình cảm gia đình là thứ thiêng liêng nhất không gì có thể sánh được Nhưng để có một gia đình bình yên, hạnh phúc phải có sự cố gắng của các thành viên trong gia đình
+ Cha mẹ không chỉ là tấm gương để con học tập theo, mà cần trở thành một người bạn của con
+ Còn con cái thì cần biết vâng lời, lễ phép và học tập những đức tính tốt đẹp của cha mẹ
+ Đối với anh chị em trong một gia đình cần sống hòa thiện, nhường nhịn, chia sẻ và giúp đỡ nhau
+ Có đôi khi, tình yêu thương lại xuất phát từ những hành động vô cùng nhỏ bé
c, Kết bài:
- Duy chỉ có gia đình là đem đến cho con người tình yêu thương chân thành nhất
- Bởi vậy chúng ta cần phải biết quý trọng những người thân yêu Mỗi thành viên trong gia đình hãy cùng nhau xây dựng một tổ ấm hạnh phúc
* Rèn luyện hình thức nói
- Nắm vững đề tài cần nói, huy động nhanh vốn từ đúng, từ hay, đặt câu đúng và hay, cách dựng đoạn
- Bài nói phải rõ ràng, mạch lạc, phát âm chuẩn, tránh dùng từ ngữ địa phương
- Vận dụng nét mặt, cử chỉ, dáng điệu phù hợp với nội dung nói
- Có thái độ khiêm tốn, chân tình với người nghe, quán xuyến theo dõi thái độ người nghe
+ Tạo cho các em có nhu cầu muốn nói, muốn được bộc lộ
Khi tiếp xúc với các em lần đầu tiên, tôi thấy cần thiết lập tốt mối quan
hệ, giúp học sinh thấy được sự gần gũi, thân tình nơi giáo viên điều này là cơ sở giúp học sinh dễ dàng bộc lộ với giáo viên hơn trong những giờ sau Giáo viên
có thể làm quen với các em bằng cách giới thiệu về mình cũng là cơ sở để các
em theo đó mà tự giới thiệu bản thân về những điều đơn giản như họ, tên, tuổi,
sở thích Điều này không kém phần quan trọng, vì nếu làm được như vậy thì giáo viên đã góp phần vào giúp học sinh bắt đầu tập làm quen với việc phát biểu miệng
+ Phát huy kĩ năng nói trong các giờ học, kết hợp với việc rèn luyện các
kĩ năng khác
Trong các tiết học, giáo viên nên chú trọng kĩ năng nói cho học sinh thông qua những lần phát biểu đóng góp xây dựng bài Đặt những câu hỏi kích thích tư duy và sự phản xạ của học sinh Câu hỏi nên đi từ đơn giản đến phức tạp để tập cho các em biết suy nghĩ trước khi nói, nói đúng vấn đề cần trao đổi, khi nói cần bình tĩnh, tự tin Giáo viên cần khuyến khích, động viên học sinh phát biểu suy nghĩ trong khi phát biểu và cả trong khi thảo luận, ngay cả khi ý kiến đó là sai hoặc chưa hoàn toàn chính xác Bên cạnh đánh giá việc trình bày của học sinh, giáo viên cũng nên lưu ý cho học sinh những lỗi cần tránh về chính tả và hướng
Trang 10dẫn cách nói diễn cảm, ngắn gọn, súc tích, hấp dẫn cho người nghe Do đó giáo viên phải giúp học sinh chuẩn bị tốt nội dung bài nói, bao gồm các vấn đề:
- Nói cái gì? (Xác định đề tài)
- Nói với ai? (Xác định đối tượng giao tiếp)
- Nói trong hoàn cảnh nào? (Xác định hoàn cảnh giao tiếp)
- Nói như thế nào? (Cách thức giao tiếp để thuyết phục người nghe)
Có lời chào khi bắt đầu nói, giới thiệu đề tài sắp nói, tránh đọc lại hoặc thuộc lòng để đọc lại bài văn chi tiết đã chuẩn bị
Giọng nói rõ ràng, cao độ vừa phải, đúng chuẩn ngữ âm, truyền cảm và thuyết phục người nghe (thể hiện cảm xúc chân thành, tự nhiên, không gò bó, áp đặt) Tác phong tự nhiên, phản xạ ngôn ngữ nhanh nhạy, mắt nhìn thẳng mọi người Không nói ra ngoài những gì mà đề bài yêu cầu Có lời chào khi kết thúc bài nói
+ Tạo cho học sinh hoàn cảnh giao tiếp thuận lợi trong giờ luyện nói
Trước mỗi giờ luyện nói, tôi cần cho học sinh chuẩn bị đề tài trước khoảng một tuần Có thể giao cho các em cùng một đề tài hay chia lớp từ 3 đến
4 nhóm, mỗi nhóm một đề tài (nếu tiết học có đề tài nhiều)
Vào giờ học, tôi cho thời gian để các em có thể chuẩn bị tư thế trước khi lên nói Có thể là cá nhân tự chuẩn bị, có thể là cho nhóm thảo luận để chọn đại diện lên nói, nên hướng cho học sinh có thái độ cùng nhau hợp tác, thời gian thảo luận là 5 phút
Không khí của giờ luyện nói nên tạo được sự hào hứng cho lớp học, cho từng em học sinh, làm cho các em phấn khởi, mong muốn được lên trình bày bài nói của mình Để tạo hứng thú cho học sinh học tập tôi đã đánh giá khen ngợi, khuyến khích bằng cách cho điểm, tặng những tràng pháo tay động viên sau mỗi bài nói tốt
2.3.5 Sử dụng trò chơi trong tiết luyện nói
* Hái hoa tìm ý
Có thể dùng hình thức này đối với lớp dạy có nhiều HS yếu kém, chưa thành thạo kĩ năng tạo lập kiểu văn bản đang học, chưa quen nói trước tập thể; lại ít có (hay không có) nhân tố tích cực (học sinh khá, giỏi, lanh lợi, hoạt bát) làm nòng cốt
Cách thực hiện
+ Khâu chuẩn bị
- Lựa chọn một bài tập (không ôm đồm nhiều về số lượng bài tập)
- Thông báo bài tập đã chọn cho học sinh biết trước để chuẩn bị
- Định hướng cho học sinh bằng một số câu hỏi (để giải quyết bài tập) Những câu hỏi này được cung cấp từ trước tiết học để học sinh suy nghĩ, chuẩn
bị lời
- Một bảng phụ- mô hình dàn ý phù hợp với bài tập
- Các câu hỏi gắn với mô hình dàn ý (mỗi câu hỏi được trình bày về hình thức tựa như những bông hoa
- Học sinh tự trình bày dàn ý vào vở soạn theo gợi ý từ các câu hỏi cho