1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(SKKN 2022) một số biện pháp nâng cao kỹ năng vận dụng phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực nhằm phát triển phẩm chất, năng lực học sinh trong môn ngữ văn lớp 9 ở trường THCS lê lợi, TP thanh hóa

22 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 2,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ quan điểm trên, cũng như kinh nghiệm trong quá trình giảngdạy qua nhiều năm đối với bộ môn Ngữ văn nói chung và lớp 9 ở trường THCS Lê Lợi, TP Thanh Hóa nói riêng, bản thân

Trang 1

MỤC LỤC Mục Nội dung Trang

1.5 Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm: 3

2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm 52.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 52.3 Giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề 62.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với các hoạt động

giáo dục, với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường 16

1 Mở đầu 1.1 Lí do chọn đề tài:

Trang 2

Trong chương trình giáo dục phổ thông (CT GDPT) nói chung và ở cấpTHCS nói riêng ta thấy nội dung các môn học rất đa dạng và phong phú Mỗimôn học, mỗi một lĩnh vực đều có một sứ mệnh riêng của nó Đặc biệt môn Ngữvăn ta vẫn quan niệm “ Văn học là nhân học” học văn là học làm người, học văngiúp cho con người ngày một hoàn thiện nhân cách Chính vì vậy, dạy học văn làquá trình đào sâu, tìm tòi để cảm nhận cái hay, cái đẹp trong tác phẩm văn chương Đối với bộ môn Ngữ văn ở trường THCS việc vận dụng phương pháp và

kỹ thuật dạy học tích cực cũng có những yêu cầu mới Dạy học môn Ngữ vănkhông chỉ đơn giản là truyền thụ tri thức mà còn hình thành tình yêu thích mônhọc, yêu tiếng mẹ đẻ, tự hào về truyền thống văn học của dân tộc, rèn kĩ năngđọc, viết, nói và nghe… Muốn được như thế, người thầy phải biết áp dụngphương pháp và kỹ thuật dạy học mới vào trong từng tiết học, tránh cách dạynghiêng về lí thuyết khô khan xa rời thực tế

Xuất phát từ quan điểm trên, cũng như kinh nghiệm trong quá trình giảngdạy qua nhiều năm đối với bộ môn Ngữ văn nói chung và lớp 9 ở trường THCS

Lê Lợi, TP Thanh Hóa nói riêng, bản thân tôi đã cố gắng tìm tòi, đổi mớiphương pháp dạy học theo hướng tích cực để làm sao học sinh hứng thú pháthuy tính tích cực, sáng tạo chiếm lĩnh kiến thức ở mỗi bài học, tôi mạnh dạn

chia sẻ với đồng nghiệp ‘‘Biện pháp nâng cao kỹ năng vận dụng một số phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực nhằm phát triển phẩm chất, năng lực học sinh trong môn Ngữ văn lớp 9 ở trường THCS Lê Lợi ” mà bản thân tôi đã

áp dụng trong nhiều năm qua và đang áp dụng trong năm học 2021- 2022

1.2 Mục đích nghiên cứu:

Giúp học sinh tiếp thu kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo Học sinh có ý thức thamgia các hoạt động học tập dưới sự hướng dẫn, chỉ đạo của giáo viên Giúp xâydựng và phát triển tình yêu với môn văn học trong nhà trường cho học sinh

1.3 Đối tượng nghiên cứu:

HS lớp 9 trường THCS Lê Lợi, TP Thanh Hóa

1.4 Phương pháp nghiên cứu:

Phương pháp quan sát: Trực tiếp quan sát hoạt động dạy và học của giáo

viên và học sinh thông qua việc dự giờ một số tiết học ngữ văn ở lớp 9 THCS để

bổ sung thông tin cho việc điều tra thực tế

Phương pháp phỏng vấn đàm thoại: Tiến hành trao đổi phỏng vấn một sốđối tượng giáo viên, học sinh để tìm hiểu thêm về nhận thức, ý kiến đánh giá củagiáo viên và học sinh về học ngữ văn ở lớp 9 THCS: Nhằm bổ sung thông tin,tăng độ chính xác, tính khách quan và bổ trợ cho những phương pháp khác

Phương pháp thống kê từ nguồn tài liệu có được, tôi xem xét tập hợpphân loại để tìm ra mối quan hệ bản chất của các nội dung kiến thức có tác dụnglàm sáng tỏ đề tài nghiên cứu

Trang 3

Phương pháp phân tích: Sau khi thống kê đi vào phân tích từng nội dung

cụ thể để thấy được sự liên quan và đóng góp những nội dung tri thức đối với đềtài nghiên cứu

Phương pháp tổng hợp: Đi kèm với việc phân tích là quá trình tổng hợptập hợp nguồn tài liệu cần thiết đã phân tích được vào trong một chỉnh thể thốngnhất phục vụ cho việc triển khai đề tài

1.5 Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm:

Trong thời gian thực hiện “Biện pháp nâng cao kỹ năng vận dụng một số phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực nhằm phát triển phẩm chất, năng lực học sinh trong môn Ngữ văn lớp 9 ở trường Lê Lợi” so với phương pháp dạy học

truyền thống tôi rút ra được một số điểm mới, điểm sáng tạo như sau:

Tính mới:

Thứ nhất: Năm học 2021-2022 áp dụng phương pháp, kĩ thuật dạy họctích cực theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực đối với học sinh lớp 6theo CT GDPT 2018 Các lớp 7,8,9 dạy học đảm bảo yêu cầu về kiến thức, kĩnăng theo CT GDPT 2006 Với giải pháp này tôi đã vận kĩ thuật dạy học tíchcực theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực trong môn Ngữ văn 9 theo

CT GDPT 2018 để hướng dẫn học sinh khai thác kiến thức, bám sát theo cácbước, các yêu cầu trong từng mục theo văn bản 5512/BGDĐT về việc xây dựng

kế hoạch giáo dục môn học

Thứ hai: Khi vận dụng kĩ thuật dạy học tích cực này vào giờ học tôi thấy

đã tạo được không khí thoải mái cho học sinh trong giờ học, các em có sự hợptác với nhau để phát triển tư duy, mạnh dạn phát biểu ý kiến, phát huy tinh thầntập thể, tính tự giác của cá nhân

Thứ ba: Giáo viên đóng vai trò là người tổ chức, định hướng Học sinh chủđộng khám phá, lĩnh hội tri thức

Thứ tư: Khi áp dụng giải pháp này làm cho tiết học sinh động, gây đượchứng thú cho học sinh, các em tiếp thu bài một cách dễ dàng và nhanh hơn, yêuthích môn học hơn

Thứ năm: Giúp học sinh hình thành và phát triển các năng lực chung,năng lực chuyên biệt trong học tập bộ môn Ngữ văn Từ đó cũng hình thành chocác em những phẩm chất như chăm chỉ, nhân ái, trung thực, trách nhiệm Giúpcác em có kĩ năng sống tốt hơn như nâng cao kĩ năng giao tiếp, hợp tác, biếtcách trình bày một vấn đề một cách tự tin, tự chủ trước tập thể

Tính sáng tạo:

Sử dụng các kĩ thuật dạy học tích cực sẽ làm thay đổi phương pháp dạyhọc của giáo viên trong nhà trường Giáo viên không còn thực hiện các giờ họctruyền thụ kiến thức một chiều là thầy đọc - trò chép, thầy nói - trò ghi màchuyển sang dạy học phát huy phẩm chất năng lực qua các kĩ năng đọc, viết, nói

và nghe

Để một giờ học có chất lượng thì giáo viên đóng vai trò là người thiết kế,

tổ chức các hoạt động kích thích tư duy sáng tạo trong nhiều tiết học Từ đó

Trang 4

nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, đòi hỏi giáo viên phải có tính sáng tạo,biết thiết kế một giờ học phù hợp với năng lực học sinh để thích ứng với việcnâng cao chất lượng dạy học trong thời kì mới.

Qua mỗi hoạt động giáo viên sẽ kịp thời phát hiện những điểm mạnh vàđiểm yếu của học sinh Từ đó có hình thức dạy học phân hoá đối tượng, biết lựachọn đội tuyển ôn học sinh giỏi cũng như giúp học sinh phát huy điểm mạnh vàkhắc phục điểm yếu tạo niềm say mê, hứng thú học tập môn Ngữ văn

Việc sử dụng các kĩ thuật dạy học tích cực sẽ giúp học sinh trau dồi kiếnthức, kĩ năng và phát triển các phẩm chất, năng lực chung và năng lực đặc thùcủa bộ môn như năng lực hợp tác, năng lực cảm thụ văn học, năng lực thẩm mĩ.Giúp học sinh chủ động nghiên cứu, phát hiện kiến thức, bộc lộ suy nghĩ củabản thân góp phần tạo sự thành công cho một giờ học theo định hướng phát triểnphẩm chất, năng lực người học

Trang 5

2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm 2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến:

Để đáp ứng yêu cầu dạy học theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lựcngười học thì năm học 2021-2022 Bộ GD&ĐT đã thực hiện đổi mới nội dung,chương trình, sách giáo khoa và tăng cường vận dụng các phương pháp, kỹ thuậtdạy học tích cực là xu thế tất yếu nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diệncho học sinh, đáp ứng nhu cầu giáo dục theo xu thế mới

Mục tiêu của chương trình giáo dục phổ thông hình thành và phát triểncho học sinh những phẩm chất chủ yếu như: yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trungthực, trách nhiệm

Chính vì thế nên việc đổi mới và vận dụng các phương pháp kĩ thuật dạyhọc tích cực sẽ là yếu tố căn bản giúp cải thiện được chất lượng giáo dục, hìnhthành ở học sinh những phẩm chất và năng lực đáp ứng được với sự phát triểnkhông ngừng của nền kinh tế tri thức

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm: 2.2.1 Thuận lợi

Nhà trường đã tạo điều kiện cho giáo viên và học sinh có được môitrường học tập tốt với đầy đủ trang thiết bị phục vụ cho dạy và học

Giáo viên có trình độ chuyên môn nghiệp vụ vững vàng, thích ứng với sựđổi mới của thời đại để phù hợp với sự phát triển của xã hội

Đa số các em có ý thức tham gia vào các hoạt động học tập dưới sự hướngdẫn, chỉ đạo của giáo viên

2.2.2 Khó khăn

*Về phía học sinh:

Do học sinh chưa có hứng thú trong học tập bộ môn nên các em chưa có

sự đầu tư thích đáng ngay từ ban đầu dẫn tới nghèo nàn về kiến thức, chưa cóvốn hiểu biết sâu rộng, chưa chịu đọc sách báo để mở rộng vốn hiểu biết về Vănhọc

* Về phía giáo viên:

- Giáo viên đa số chỉ trú trọng cung cấp tri thức, kĩ năng, kĩ xảo Chưa trútrọng hình thành các năng lực như sáng tạo, hợp tác

- Chưa mạnh dạn áp dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực đểphát huy năng lực, phẩm chất của học sinh

Chính vì những khó khăn mà học sinh và giáo viên đã từng gặp phải trongquá trình tổ chức dạy học theo chương trình GDPT 2006 như trên Để nâng caochất lượng và hiệu quả trong công tác giảng dạy đáp ứng yêu cầu đổi mới theochương trình GDPT 2018 đòi hỏi mỗi người thầy phải tìm ra các giải pháp khắcphục được những hạn chế và đưa ra được cách thức thực hiện sáng tạo, hiệu quả

Thực tế giảng dạy theo CT GDPT 2006 cũng cho thấy rất nhiều giáo viênquen phương pháp dạy học truyền thống, nặng về thuyết trình, ngại đưa cácphương pháp kĩ thuật mới vào quá trình dạy học

Trang 6

Trước tình hình đó, đầu năm học 2021-2022 cùng với sự thay đổi mụctiêu của CT GDPT 2018 với yêu cầu là dạy học theo hướng phát triển phẩmchất, năng lực người học, tôi đã tiến hành phát phiếu thăm dò cho 36 em họcsinh lớp 9 trường THCS Lê Lợi mà tôi trực tiếp giảng dạy để nắm bắt được thựctrạng mà các em đang gặp phải Từ đó có sự điều chỉnh, áp dụng các phươngpháp, kĩ thuật dạy học tích cực để nâng cao chất lượng học tập bộ môn Ngữ văn.

PHIẾU KHẢO SÁT, THĂM DÒ Ý KIẾN

Họ và tên:……… Lớp:………

1 Hãy đánh dấu X vào ô tương ứng trong bảng sau:

Trong các giờ học Ngữ văn, em có hứng thú với môn học không?

Rất thích Bình thường Không thích lắm Chán, không hứngthú

2 Khi lĩnh hội kiến thức văn học em thường gặp những khó khăn, vướng mắc nào?

……….……… ………

Từ kết quả và ý kiến thu được, tôi nhận thấy thực trạng về kỹ năng vậndụng các phương pháp, kĩ thuật học tập môn Ngữ văn của các em còn nhiều hạnchế, điều đó được thể hiện ở một số nội dung cụ thể như sau:

- Thứ nhất: Đa số học sinh chưa có hứng thú học tập môn Ngữ văn, xem đó làmôn không quan trọng trong xu thế của xã hội hiện đại chạy theo các môn họcthời thượng như Toán, Ngoại ngữ…

- Thứ hai: Học sinh cho rằng trong các giờ học, các em chưa phát huy được vaitrò của cá nhân trong mỗi hoạt động do giáo viên tổ chức, cũng như chưa tự tin bộc lộhết được các suy nghĩ của bản thân bởi các hình thức hoạt động trên lớp chưa phongphú, đa dạng

- Thứ ba: Học sinh tiếp thu kiến thức một cách thụ động, bởi giáo viên chỉ trútrọng truyền đạt kiến thức, khiến cho giờ học luôn căng thẳng và mệt mỏi

Thứ tư: Đa số học sinh chưa phát huy được kỹ năng sống như kĩ năng nói nghe thông qua việc vận dụng các phẩm chất yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trungthực, trách nhiệm trong mỗi văn bản vào cuộc sống mà chỉ mới dừng lại ở việc học

-để đáp ứng yêu cầu thi cử

Chính từ thực trạng như trên, trong quá trình giảng dạy tôi phải tìm ra cácbiện pháp để giúp học sinh có định hướng học tập nhằm phát triển phẩm chất vànăng lực người học

2.3 Các biện pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề:

Để vận dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực vào giảng dạy bộmôn Ngữ văn thì trước hết người thầy phải hiểu được phương pháp, kĩ thuật dạyhọc tích cực là gì Phương pháp và kĩ thuật dạy học này tập trung vào việc pháthuy được tư duy sáng tạo, chủ động, tích cực của học sinh làm nền tảng, trong

đó giáo viên sẽ không đưa ra kết luận cuối cùng mà thay vào đó là việc đưa ranhững gợi ý mang tính gợi mở vấn đề để cùng học sinh thảo luận, tìm ra kết quảcuối cùng Từ các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực đó sẽ tác động làmcho học sinh có khao khát, tự nguyện tham gia vào các hoạt động cá nhân, nhóm

Trang 7

do giáo viên tổ chức Mạnh dạn, tự tin tham gia đóng góp ý kiến cho bạn, thíchbày tỏ suy nghĩ của mình về vấn đề được nêu ra

Thực tế khi vận dụng các phương pháp, kĩ thuật trong dạy học môn Ngữvăn nói chung, trong chương trình lớp 9 nói riêng, người thầy phải nhận thức rõđược sự khác nhau giữa phương pháp dạy học truyền thống và phương pháp dạy họctích cực để vận dụng cho phù hợp với dạy học phát triển năng lực người học:

Phương pháp dạy học truyền thống Phương pháp dạy học tích cực

1 Lấy giáo viên làm trung tâm của

hoạt động dạy học

2 GV cung cấp thông tin qua hình

thức thuyết giảng Học sinh thụ động

tiếp thu kiến thức một chiều từ giáo

viên

3 Các hoạt động trong giờ học chủ

yếu là của giáo viên thực hiện Học

sinh bị áp đặt kiến thức, không phát

huy được năng lực của bản thân khiến

giờ học căng thẳng mệt mỏi

4 Kiểm tra bài cũ dưới hình thức học

thuộc lòng, học vẹt

5 Sử dụng phương pháp diễn giảng

thuyết trình đơn thuần

1 Lấy học sinh làm trung tâm củahoạt động học

2 Tăng cường các hoạt động giữa họcsinh với giáo viên, giữa học sinh vớihọc sinh để khai thác kiến thức Họcsinh chủ động khai thác lĩnh hội kiếnthức

3 Giáo viên là người tổ chức, hướngdẫn, học sinh tăng cường các hoạtđộng hợp tác, thảo luận Kích thíchgây hứng thú trong giờ học khiến giờhọc sinh động, hấp dẫn

1 4 Tăng cường kiểm tra tình huống cóvấn đề, trắc nghiệm tư duy

5 Sử dụng các phương pháp, kĩ thuậtdạy học tích cực nhằm phát huy nănglực, phẩm chất người học

Trong quá trình dạy học, người thầy có thể vận dụng linh hoạt rất nhiềucác phương pháp, kĩ thuật dạy học Tuy nhiên cũng cần phải căn cứ vào nộidung kiến thức từng bài để có định hướng khai thác, vận dụng một cách phùhợp Ngoài những phương pháp dạy học phổ biến như dạy học nêu vấn đề, gợi

mở, đàm thoại, vấn đáp… thì hiện nay một số phương pháp dạy học mới phùhợp với phát triển năng lực và phẩm chất học sinh đã và đang được sử dụng phổbiến trong các giờ học Để có được kỹ năng sử dụng một số phương pháp, kĩthuật dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong mônNgữ văn 9, tôi tập trung vận dụng một số phương pháp, kĩ thuật cơ bản như sau:

2.3.1 Các phương pháp dạy học tích cực.

Để phát huy được năng lực, phẩm chất người học thì trong một giờ họcgiáo viên phải vận dụng kết hợp một trong các phương pháp dạy học tích cực.Việc làm đó phải được tiến hành thường xuyên và liên tục tạo thành kỹ năng khilên lớp Để phát huy được năng lực của học sinh, giáo viên có thể vận dụng một

số phương pháp điển hình như sau:

A Sử dụng phương pháp đàm thoại gợi mở (Phương pháp kích thích

tư duy)

Ðàm thoại là phương pháp GV xây dựng hệ thống câu hỏi cho HS trả lờihoặc trao đổi, tranh luận với nhau dưới sự chỉ đạo của thầy, qua đó tiếp nhận kiến

Trang 8

thức Trong điều kiện thiếu phương tiện, đồ dùng dạy học thì việc sử dụng câuhỏi là một trong những cách thức tiện lợi nhất để kích thích học sinh học tập mộtcách tích cực

Với phương pháp này các câu hỏi được đặt ra thường tập chung vào các dạng:

Câu hỏi yêu cầu tái hiện kiến thức, kinh nghiệm

Câu hỏi yêu cầu giải thích, minh họa;

Câu hỏi yêu cầu tìm tòi, phát hiện;

Câu hỏi yêu cầu thực hành, vận dụng

Hệ thống câu hỏi của giáo viên giữ vai trò định hướng hoạt động nhậnthức và khả năng thực hành, vận dụng của học sinh

Việc sử dụng phương pháp này giáo viên chỉ đóng vai trò là người hướngdẫn, còn kết quả là do học sinh bộc lộ Căn cứ vào đối tượng học sinh giáo viên

có thể đưa ra nhiều mức độ yêu cầu của câu hỏi như câu hỏi yêu cầu thấp và câuhỏi yêu cầu cao

* Đối với câu hỏi gợi mở ở mức độ yêu cầu thấp giáo viên có thể xây dựng hệ thống nhiều câu hỏi riêng rẽ.

* Đối với câu hỏi đàm thoại gợi mở ở mức yêu cầu cao, GV đặt ra một câu hỏi chính kèm những câu hỏi gợi ý.

a Cách thực hiện

Bước 1 Lựa chọn đơn vị kiến thức

Bước 2 Xây dựng hệ thống câu hỏi

Bước 3 Tổ chức cho học sinh hoạt động.

+ Học sinh đang tham gia giải quyết vấn đề

+ Học sinh đang bị cuốn hút vào cuộc thảo luận sôi nổi và sáng tạo

Bước 4 Báo cáo kết quả.

b Ví dụ minh họa:

Ngữ liệu chọn: Văn bản “ Bài thơ về tiểu đội xe không kính” – Phạm Tiến

Duật (Ngữ văn 9 – tập I)

- Mục tiêu:

+ Phát hiện những chi tiết nói về những chiếc xe không kính

+ Nhận xét về hiện thực chiến tranh

- Nội dung: HS lắng nghe câu hỏi

- Sản phẩm: HS suy nghĩ trả lời.

- Tổ chức thực hiện:

Bước 1: Chuyển giao nhiệm vụ

GV đặt ra một câu hỏi chính kèm những câu hỏi gợi ý: Tìm những chi tiết tái hiện lại những chiếc xe không kính? Từ đó em có nhận xét gì về hiện thực chiến tranh?

Câu hỏi gợi mở:

? Nguyên nhân nào dẫn đến những chiếc xe thiếu đi rất nhiều bộ phận?

- Bước 2: Thực hiện nhiệm vụ:

- Cá nhân suy nghĩ

Trang 9

- Bước 3: Báo cáo, thảo luận: GV gọi một số HS trả lời, HS khác nhận

xét, bổ sung

- Bước 4: Kết luận, nhận định: Học sinh dễ dàng nhận thấy những chiếc

xe thiếu đi rất nhiều bộ phận là do “Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi” Tuy

nhiên vì mục đích làm nhiệm vụ là hậu phương lớn cho chiến trường miền Namnên những chiếc xe đó vẫn hiên ngang vượt qua bom đạn để hoàn thành nhiệm

vụ Từ đó học sinh đi đến khẳng định hiện thực chiến tranh vô cùng khốc liệt

Gv gợi ý cho học sinh mở rộng: Em có suy nghĩ gì về tuyến đường Trường Sơn trong thời kì đó?

Học sinh dễ dàng nhận thấy tuyến đường Trường Sơn là mạch máu thông suốt nối liền hai miền Nam - Bắc Việc Mĩ ném bom xuống tuyến đường Trường Sơn nhằm mục đích cắt đứt sự chi viện của miền Bắc cho miền Nam

Như vậy việc sử dụng phương pháp gợi mở vấn đáp giúp lôi cuốn HS tham gia vào bài học, làm cho không khí lớp học sôi nổi, sinh động, kích thích hứng thú học tập và lòng tự tin của HS, rèn luyện cho HS năng lực diễn đạt sự hiểu biết của mình và hiểu ý diễn đạt của người khác Tạo môi trường để HS giúp đỡ nhau tronghọc tập HS yếu kém có điều kiện học tập các bạn trong nhóm, có điều kiện tiến

bộ trong quá trình hoàn thành các nhiệm vụ được giao

Từ đó học sinh sẽ cảm thấy mình có vai trò trong việc khai thác kiến thứctrong văn bản cùng giáo viên chứ không phải là người ngồi nghe rồi ghi chépkiến thức do giáo viên áp đặt Giúp giáo viên và học sinh thu được thông tinphản hồi về quá trình học tập để kịp thời điều chỉnh hoạt động dạy và học.Phương pháp này rất phù hợp trong giờ đọc hiểu văn bản vì đó vốn dĩ là nhữngcuộc đối thoại giữa học sinh với văn bản, học sinh với giáo viên và với nhữnghọc sinh khác

B Sử dụng phương pháp giải quyết vấn đề (Phương pháp kích thích

tư duy, giải quyết vấn đề)

Dạy học giải quyết vấn đề là con đường quan trọng để phát huy tính tíchcực của học sinh, là một trong những vấn đề giáo viên chúng ta cần phải làm đểđổi mới phương pháp giảng dạy

a Cách thực hiện

Bước 1 Tạo tình huống có vấn đề (nhận biết vấn đề);

Bước 2 Lập kế hoạch giải quyết (tìm phương án giải quyết);

Bước 3 Thực hiện kế hoạch (giải quyết vấn đề);

Bước 4 Vận dụng (vận dụng cách GQVĐ trong những tình huống khác nhau) Giải quyết vấn đề có thể phân biệt bốn mức độ từ thấp đến cao:

Mức độ 1: Giáo viên đặt vấn đề, nêu cách giải quyết, học sinh thực hiệncách giải quyết theo hướng dẫn của giáo viên, giáo viên đánh giá kết quả làmviệc của học sinh

Mức độ 2: Giáo viên nêu vấn đề gợi ý, học sinh tìm cách giải quyết Họcsinh thực hiện cách giải quyết, giáo viên, học sinh cùng đánh giá

Mức độ 3: Giáo viên cung cấp thông tin tạo tình huống, học sinh pháthiện và xác định vấn đề nảy sinh, tự đề xuất các giả thuyết và chọn giải pháp

Trang 10

Học sinh thực hiện cách giải quyết vấn đề với sự giúp đỡ của giáo viên, khi cầnhọc sinh cùng giáo viên đánh giá.

Mức độ 4: Học sinh tự phát hiện vấn đề nảy sinh trong hoàn cảnh củamình hoặc của cộng đồng, lựa chọn vấn đề giải quyết, học sinh giải quyết vấn

đề, tự đánh giá chất lượng, hiệu quả của vấn đề

b Ví dụ minh họa mức độ 2:

Khi dạy văn bản: Chuyện người con gái Nam Xương của tác giả Nguyễn

Dữ ( Ngữ văn 9 – tập 1) Hoạt động hình thành kiến thức Mục 1 Nhân vật Vũ Nương

- Mục tiêu: Học sinh thấy được những phẩm chất cao đẹp của Vũ Nương và

cách lựa chọn cái chết để bảo toàn danh dự và nhân phẩm

- Nội dung: Chỉ ra được cách lựa chọn của bản thân nếu đặt vào nhân vật Vũ Nương

- Sản phẩm: Suy nghĩ sáng tạo của học sinh

- Tổ chức thực hiện: Hoạt động bằng phương pháp kích thích tư duy, giải quyết vấn đề

- Bước 1 Chuyền giao nhiệm vụ

Tình huống: Giáo viên tạo tình huống có vấn đề sau khi phân tích xongnhân vật Vũ Nương bằng cách cho các em trả lời câu hỏi với nội dung như sau:

Câu 2 Qua cái chết của nhân vật Vũ Nương tác giả muốn nói lên điều gì?

- Bước 2: Thực hiện nhiệm vụ:

- Cá nhân suy nghĩ

- Bước 3: Báo cáo, thảo luận: GV gọi một số HS trả lời, HS khác nhận

xét, bổ sung

Cách giải quyết vấn đề của học sinh khi đặt vào nhân vật Vũ Nương tronghoàn cảnh đó có thể có rất nhiều cách lựa chọn khác như:

DỰ KIẾN SẢN PHẨM

Câu 1 Các cách lựa chọn khác ngoài cách lựa chọn của Vũ Nương

+Về nhà cha mẹ đẻ một thời gian để chờ Trương Sinh tỉnh ngộ.

+ Sẽ rời khỏi làng đến một nơi khác để sinh sống.

+ Không đi đâu mà vẫn ở cùng nhà với Trương Sinh.

Câu 2 Qua cái chết của nhân vật Vũ Nương tác giả muốn lên án, tố cáo xã hội phong kiến bất công, một xã hội trọng nam khinh nữ Tố cáo thói đa nghi, ghen tuông mù quáng của một bộ phận người trong xã hội phong kiến.

- Bước 4: Kết luận, nhận định: GV đánh giá kết quả của HS

Tóm lại việc sử dụng phương pháp này sẽ rèn cho học sinh kỹ năng tư duy,phân tích, đánh giá nội dung kiến thức Từ đó học sinh sẽ chủ động hơn trong việclĩnh hội kiến thức, các em sẽ phát huy được năng lực của bản thân trong giải quyếtvấn đề

Trang 11

Như vậy khi khai thác kiến thức mới, giáo viên có thể sử dụng phương phápdạy học giải quyết vấn đề để khai thác nhiều nội dung trong văn bản nhằm phát huynăng lực tư duy, óc sáng tạo, năng lực giao tiếp, năng lực giải quyết vấn đề để các

em được bộc lộ những suy nghĩ của cá nhân và từ đó các phẩm chất như chăm chỉ,trách nhiệm, trung thực cũng sẽ được hình thành cho học sinh

C Sử dụng phương pháp hợp tác (thảo luận nhóm)

Đây là phương pháp sử dụng để phát huy tính tích cực của học sinh.Trong một lớp mà trình độ kiến thức, tư duy của học sinh không thể đồng đềutuyệt đối thì khi áp dụng phương pháp tích cực phải có sự phân hóa về cường

độ, tiến độ hoàn thành nhiệm vụ học tập, nhất là khi bài học được thiết kế thànhmột chuỗi hoạt động độc lập Áp dụng phương pháp tích cực ở trình độ càng caothì sự phân hóa này càng lớn Tuy nhiên trong học tập, không phải mọi tri thức,kĩ năng, thái độ đều được hình thành bằng những hoạt động độc lập, cá nhân.Lớp học là môi trường giao tiếp giáo viên – học sinh và học sinh – học sinh, tạonên mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân trên con đường chiếm lĩnh nội dunghọc tập

a Cách thực hiện:

- Phân công nhóm học tập và bố trí vị trí nhóm phù hợp theo thiết kế:Giáo viên có thể chia lớp hoạt động hóm dưới nhiều hình thức: hoạt động nhómđôi, nhóm 4, nhóm 6, nhóm 8 học sinh Tùy mục đích, yêu cầu của vấn đề họctập, các nhóm được giáo viên giao cùng nhiệm vụ hoặc các nhiệm vụ khác nhau

- Giáo viên giao nhiệm vụ (phiếu học tập) cho từng nhóm và yêu cầu thảoluận trong một khoảng thời gian nhất định

- Hướng dẫn hoạt động của nhóm: Ngoài cách thức hoạt động nhóm thôngthường, giáo viên cũng có thể xây dựng một nhóm “chim đầu đàn”, nhóm nàysau khi hoàn thành nhiệm vụ thảo luận của nhóm, các thành viên trong nhóm sẽ

có nhiệm vụ tỏa ra nhóm khác để giúp đỡ các nhóm khác hoàn thiện nhiệm vụtrong phiếu học tập

- Báo cáo kết quả thảo luận: Khi hết thời gian thảo luận, đại diện cácnhóm báo cáo kết quả của nhóm mình Các nhóm khác theo dõi, đóng góp, bổxung ý kiến cho hoàn thiện nội dung

- Giáo viên đánh giá và chốt lại kiến thức cần lĩnh hội

b Ví dụ minh hoạ:

Khi dạy văn bản: Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật

(Ngữ văn 9 – tập 1) Mục 2 Tìm hiểu hình ảnh những chiến sĩ lái xe Trường

Sơn

- Mục tiêu: Học sinh thấy được tư thế, tinh thần, tình đồng đội và ý chí của những người

lính lái trên tuyến đường Trường Sơn Nhận xét được từng khía cạnh của vấn đề

- Nội dung: Chỉ ra được các chi tiết, nghệ thuật, nêu cảm nhận của bản thân về

vấn đề thảo luận của nhóm

- Sản phẩm: Phiếu học tập của nhóm

- Tổ chức thực hiện: Hoạt động nhóm bằng phương pháp hợp tác

- Bước 1: Chuyển giao nhiệm vụ

Ngày đăng: 09/06/2022, 22:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w