1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(SKKN 2022) kỹ năng làm bài đọc hiểu môn ngữ văn THCS

30 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kỹ Năng Làm Bài Đọc Hiểu Môn Ngữ Văn THCS
Trường học Trường THCS Nguyễn Du
Chuyên ngành Ngữ văn
Thể loại sáng kiến kinh nghiệm
Năm xuất bản 2022
Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 1,69 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay, việcđánh giá năng lực đọc hiểu của học sinh thường diễn ra dưới hai hình thức:kiểm tra miệng yêu cầu học sinh nhắc lại một nội dung nào đó của bài học đãghi chép trong vở và ki

Trang 1

1 Mở đầu 1.1 Lí do chọn đề tài

Trong những năm gần đây, đề thi môn Ngữ văn đã có sự thay đổi mạnh

mẽ với hai phần: đọc hiểu và làm văn Trong đó, phần đọc hiểu văn bản làđiểm mới nhất của đề thi và nó chiếm một tỉ lệ điểm khá lớn Đây là phần mớiđược đưa vào trong các bài kiểm tra từ 90 phút, bài kiểm tra giữa học kì, kiểmtra cuối năm nhằm đánh giá năng lực đọc hiểu của học sinh Hiện nay, việcđánh giá năng lực đọc hiểu của học sinh thường diễn ra dưới hai hình thức:kiểm tra miệng (yêu cầu học sinh nhắc lại một nội dung nào đó của bài học đãghi chép trong vở) và kiểm tra viết (viết về một vấn đề thuộc phương diện nộidung hoặc nghệ thuật của văn bản đã học) Những nhiệm vụ này chưa đánhgiá được năng lực đọc hiểu các loại văn bản khác nhau của học sinh Vì vậy,vấn đề đặt ra là cần đổi mới đánh giá năng lực đọc hiểu của học sinh bằngviệc sử dụng những văn bản mới (bao gồm cả văn bản văn học và văn bảnthông tin, có cùng đề tài, chủ đề hoặc thể loại với văn bản đã học trongchương trình, sách giáo khoa), yêu cầu học sinh vận dụng những kiến thức, kĩnăng đã có vào việc đọc hiểu và cảm thụ văn bản mới này Như vậy, thầy côkhông thể giúp các em đọc hộ, cảm hộ, hiểu hộ như trước đây nữa mà các emphải tự mình khám phá, tìm hiểu văn bản Chính vì vậy, học sinh gặp rấtnhiều khó khăn khi làm bài Thế nhưng, trong sách giáo khoa, sách bài tập,sách tham khảo đều không có các dạng bài này Các em không biết phải bắtđầu từ đâu, trình bày bài như thế nào, vận dụng những kiến thức gì nhất là đốivới học sinh có học lực trung bình, yếu Còn đối với học sinh khá giỏi, đây làmột trong những dạng bài phát huy được khả năng cảm thụ văn học của các

em Các em rất hứng thú khi được tìm hiểu, khám phá nhiều văn bản văn họcmới không có trong chương trình và sách giáo khoa Từ đó các em lĩnh hộiđược nhiều kiến thức bổ ích, nhiều bài học có giá trị nhân văn sâu sắc

Trong quá trình giảng dạy môn Ngữ văn, tôi nhận thấy năng lực cảmthụ, đọc hiểu văn bản của học sinh còn rất hạn chế Trong các giờ dạy học đọchiểu văn bản, học sinh thường nghe và ghi chép lại bài giảng của giáo viênchứ chưa tự mình cảm thụ, tìm hiểu, khám phá văn bản Càng lên lớp caohơn, việc đọc hiểu và cảm thụ văn bản lại càng bất cập Do áp lực thi cử, tìnhtrạng thầy cô đọc hộ, hiểu hộ, cảm thụ hộ học sinh diễn ra khá phổ biến.Chính vì thế, để làm được dạng bài này học sinh phải có một năng lực đọchiểu văn bản nhất định trên một nền tảng kiến thức cơ bản Vì vậy, tôi đã

mạnh dạn nghiên cứu các giải pháp để “Rèn kỹ năng làm bài đọc hiểu trong các đề thi vào lớp 10 PTTH ” Qua đây, tôi muốn chia sẻ với đồng nghiệp

1

Trang 2

nhằm nâng cao chất lượng môn Ngữ văn nói chung và đặc biệt là nâng caochất lượng thi vào lớp 10 Trung học phổ thông.

1.2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài này, tôi muốn đưa ra phương pháp hướng dẫn họcsinh làm tốt phần đọc hiểu văn bản để nâng cao chất lượng môn Ngữ văn, đặcbiệt là nâng cao chất lượng thi vào lớp 10 Trung học phổ thông

1.3 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là: Kĩ năng làm bài phần đọc hiểuvăn bản cho học sinh lớp 9 bậc Trung học cơ sở

- Học sinh lớp 9 Trường THCS Nguyễn Du

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

- Khảo sát, phân loại;

- Xây dựng cơ sở lí thuyết;

- Phương pháp thực nghiệm;

- Phương pháp kiểm tra, đánh giá học sinh;

- Tổng hợp, rút kinh nghiệm

Trang 3

2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm

2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm

Do chi phối bởi mục tiêu môn học và điều kiện thực hiện, đánh giá kếtquả học tập của học sinh trong môn Ngữ văn hiện nay tập trung chủ yếu vàohai năng lực đọc và viết Trong đó, đọc hiểu là một năng lực tiếp nhận vănbản, thông qua hoạt động của con người đọc chữ, xem các kí hiệu bảng biểu,hình ảnh trong nhiều loại văn bản khác nhau, nhằm xử lí thông tin trong vănbản để phục vụ những mục đích cụ thể trong học tập hoặc giải quyết cácnhiệm vụ thực tiễn của cuộc sống Đọc hiểu luôn là một nội dung trọng tâmtrong chương trình môn Ngữ văn (bậc Tiểu học là môn Tiếng Việt), vì vậyđọc hiểu là một năng lực đặc thù của môn học này

Trong dạy học môn Ngữ văn, năng lực đọc hiểu văn bản văn học rấtđược coi trọng Phần lớn bài học trong chương trình và sách giáo khoa hiệnnay là bài học về văn bản văn học Vì thế, để học tốt môn Ngữ văn bắt buộchọc sinh phải có năng lực đọc hiểu văn bản

2.2 Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm

2.2.1 Về phía giáo viên

- Thuận lợi: Là giáo viên trẻ, tâm huyết với nghề, có chuyên môn vữngvàng, luôn có ý thức học hỏi, tìm tòi đổi mới phương pháp giảng dạy, được 10năm trực tiếp giảng dạy môn Ngữ văn 9 và ôn thi vào lớp 10 Trung học phổthông, nên trong quá trình dạy, bản thân nắm bắt được năng lực đọc hiểu vănbản của học sinh như thế nào, học sinh đã làm được những gì, các em còn gặpkhó khăn ở đâu Vì vậy, tôi đã thấy được sự liên quan của kiểu bài này vớicác kiểu bài khác

- Khó khăn: Dạng bài đọc hiểu văn bản sẽ là một dạng bài hoàn toànmới trong các đề kiểm tra, đề thi năm nay Phần đọc hiểu thường xoay quanhnhiều vấn đề với rất nhiều câu hỏi phong phú và đa dạng nhưng trong sáchgiáo khoa Ngữ văn 9 và sách bài tập Ngữ văn 9 không có một bài tập nào ởdạng này Hơn nữa những văn bản đọc hiểu thường là các văn bản ngoàichương trình và sách giáo khoa Chính vì vậy đòi hỏi người giáo viên phải tựtìm tòi, nghiên cứu trong rất nhiều tài liệu, sắp xếp theo từng chủ đề, từngdạng theo từng mức độ để cung cấp cho học sinh

2.2.2 Về phía học sinh

- Thuận lợi: Đa số học sinh lớp 9 trường tôi đều ngoan, có ý thức vươnlên trong học tập Phụ huynh học sinh quan tâm tạo điều kiện mua đầy đủsách giáo khoa, sách bài tập, sách tham khảo cho các em học

3

Trang 4

- Khó khăn: Số học sinh thật sự có năng lực đọc hiểu văn bản rất ít;năng lực cảm thụ, năng lực đọc hiểu văn bản của học sinh hiện nay còn rấthạn chế Thậm chí các em còn rất lười đọc văn bản, kể cả các văn bản trongsách giáo khoa Một số em khi đọc còn lơ mơ, không nắm vững được nộidung văn bản Do không có năng lực đọc hiểu, nên khi phải tiếp cận với mộtvăn bản mới ngoài và sách giáo khoa sẽ mất rất nhiều thời gian để đọc hiểuvăn bản, dẫn đến không còn đủ thời gian để làm các phần còn lại Điều đó ảnhhưởng không nhỏ đến kết quả làm bài của các em Những học sinh trung bình

và yếu, lười học, lười đọc, ngại suy nghĩ, làm việc rập khuôn, khi giao bài tập

về nhà thường không tự mình đọc văn bản, suy nghĩ để làm bài mà các emthường tìm kiếm câu trả lời trên mạng, hoặc chép bài của bạn Chính vì vậy,

kĩ năng làm bài của các em rất hạn chế, nhiều em chưa nắm vững kiến thứcnên khó vận dụng để làm bài tập, đặc biệt đây lại là một dạng bài tập khó, đòihỏi sự vận dụng linh hoạt các kiến thức, kĩ năng, phân tích tổng hợp, tư duy

2.3 Các giải pháp đã thực hiện để giải quyết vấn đề

Từ các nguyên nhân, thực trạng trên, tôi đã cố gắng tìm hiểu cấu trúc,phạm vi, yêu cầu của dạng bài này để giúp các em nắm được Sau đó, củng cốlại những kiến thức cần có để thực hiện việc đọc hiểu văn bản Hướng dẫn các

em các bước khi làm dạng bài này Tìm tòi các bài tập, sắp xếp bài tập theocác mức độ (nhận biết, thông hiểu, vận dụng thấp và vận dụng cao), quy vềcác dạng bài cụ thể, mỗi mức độ, mỗi dạng bài cụ thể hướng dẫn học sinhcách làm có ví dụ minh họa Sau mỗi dạng, tôi đưa ra bài tập củng cố để họcsinh tự rèn luyện

2.3.1 Khảo sát, phân loại đối tượng

Trước khi áp dụng đề tài, tôi đã khảo sát học sinh lớp 9 năm học 2019 - 2020với đề bài như sau:

I ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)

Đọc văn bản sau:

NHÀ LÀ NƠI ĐỂ VỀ

Nhà, một tiếng gọi thân thương với rất nhiều tình yêu và sự quan tâm, chia

sẻ Hai tuần cách ly giúp chúng con thấu hiểu rằng chúng ta luôn có nhiều hơn một Mái Nhà, nơi luôn dang rộng vòng tay chào đón, chân thành yêu thương và cùng chung bước đi qua những thăng trầm cuộc sống.

Sau bao nhiêu khát vọng bay nhảy của tuổi trẻ, những biến cố cuộc sống giúp chúng con càng thêm yêu và trân quý sự thiêng liêng, ấm áp của hai tiếng

“Gia đình”, “Tổ quốc” và sự biết ơn dành cho những người đã yêu thương chúng con vô điều kiện.

Trang 5

(Con đã về nhà, Tăng Quang, NXB Phụ nữ Việt Nam, 2020, tr 71)Thực hiện các yêu cầu:

Câu 1.(0.5 đ) Xác định các phương thức biểu đạt trong đoạn văn?

Câu 2 (0.5 đ) Chỉ ra thành phần phụ chú trong câu văn sau:

Hai tuần cách ly giúp chúng con thấu hiểu rằng chúng ta luôn có nhiều hơn một Mái Nhà, nơi luôn dang rộng vòng tay chào đón, chân thành yêu thương và cùng chung bước đi qua những thăng trầm cuộc sống.

Câu 3 (1.0 đ) Theo em, việc viết hoa từ “Mái Nhà” trong văn bản trên có ý

nghĩa gì?

Câu 4 (1.0 đ) “Hai tuần cách ly” gợi nhắc đến những ngày cả nước phòng

chống đại dịch COVID-19 Trong biến cố ấy, việc tốt nào của người ViệtNam để lại ấn tượng nhất trong em? Vì sao?

2 - Thành phần biệt lập: nơi luôn dang rộng vòng tay chào

đón, chân thành yêu thương và cùng chung bước đi qua

những thăng trầm cuộc sống.

-> Thành phần phụ chú

0.5

3 - Thể hiện sự trân trọng, đề cao tầm quan trọng và giá trị

thiêng liên của ngôi nhà đối với mỗi con người

1.0

4 - Việc tốt làm em ấn tượng nhất của người Việt Nam

chính là việc các y bác sĩ, phi công sẵn sàng bay vào vùng

dịch để đón đồng bào ta trở về nước Vì đây là hành động

vô cùng cao cả, quên thân mình, bất chấp nguy hiểm, thể

hiện tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái của dân tộc ta

Vô cùng cảm động, đáng để tuyên dương và biết ơn

2.3.2 Rèn kỹ năng phân tích cấu trúc, phạm vi, yêu cầu của đề

* Cấu trúc của phần đọc hiểu

Cấu trúc của dạng bài đọc hiểu gồm hai phần:

5

Trang 6

- Phần 1: Ngữ liệu mở trong hoặc ngoài chương trình và sách giáo khoa(đoạn văn, đoạn thơ, bài thơ ngắn, mẩu truyện) Nhưng xu hướng sẽ là mộtvăn bản mới hoàn toàn, không có trong chương trình và sách giáo khoa

- Phần 2: Thực hiện trả lời yêu cầu 4 câu hỏi dựa trên chuẩn kiến thức

và kĩ năng hiện hành, mức độ từ dễ đến khó

* Phạm vi của phần đọc hiểu

- Văn bản văn học (Văn bản nghệ thuật):

+ Văn bản trong chương trình (Nghiêng nhiều về các văn bản đọcthêm)

+ Văn bản ngoài chương trình (Các văn bản cùng loại với các văn bảnđược học trong chương trình)

- Văn bản nhật dụng (Loại văn bản có nội dung gần gũi, bức thiết đốivới cuộc sống trước mắt của con người và cộng đồng trong xã hội hiện đạinhư: Vấn đề chủ quyền biển đảo, thiên nhiên, môi trường, năng lượng, dân số,quyền trẻ em, ma tuý, Văn bản nhật dụng có thể dùng tất cả các thể loại cũngnhư các kiểu văn bản song có thể nghiêng nhiều về loại văn bản nghị luận vàvăn bản báo chí)

* Yêu cầu cơ bản của phần đọc hiểu

- Hình thức: trả lời ngắn gọn, câu văn, đoạn văn 3-5 dòng, trình bàyđúng thứ tự câu hỏi

- Nội dung:

+ Đầy đủ thông tin

+ Trọng tâm, tránh lan man

- Viết ra giấy nháp những ý xuất hiện đầu tiên trong suy nghĩ

2.3.3 Rèn kỹ cách trả lời các dạng câu hỏi đọc hiểu

Dạng 1: Dạng câu hỏi xác định các phương thức biểu đạt/ thể thơ.

- Cần xác định nội dung chính của văn bản để tìm ra mục đích giao tiếp

- Câu hỏi phương thức biểu đạt chính: chỉ trả lời một phương thức, đề yêu cầu

Trang 7

các phương thức biểu đạt thì trả lời hơn một phương thức có nghĩa là cácphương thức có sử dụng trong văn bản.

- Thể thơ: nắm vững dặc điểm của các thể thơ, đếm hết số chữ mỗidòng thơ, số dòng trong đoạn thơ

Dạng 2: Dạng câu hỏi nêu chủ đề, nội dung chính của văn bản;

- xác định câu chủ đề của đoạn văn ở vị trí đầu đoạn hoặc cuối đoạn

- Chú ý đến các từ ngữ, hình ảnh xuyên suốt ở trong nội dung của vănbản vì đó là những hình ảnh, từ ngữ tập trung thể hiện chủ đề của văn bản

- Đối với những văn bản gồm nhiều đoạn văn, mỗi đoạn văn thể hiệnmột nội dung thì phải sắp sếp gần nhau để xem xét các nội dung đó có liênquan đến nhau không để tìm ra được chủ đề chính của văn bản

- Yêu cầu trả lời viết dưới dạng câu văn có đầy đủ chủ vị

Dạng 3: Dạng câu hỏi xác định các biện pháp tu từ và nêu tác dụng

- Cách làm: gọi tên chính xác biện pháp tu từ, kèm theo các dẫn chứng,phân tích hiệu quả về nội dung và hình thức

- Cách diễn đạt: Biện pháp tu từ này làm cho lời thơ, lời văn thêm sinh động, gợi hình, gợi cảm, hấp dẫn/ thứ vị/ dễ hiểu/ có hồn/ nhấn mạnh nội dung ( ) đồng thời thể hiện tình cảm, cảm xúc/ tài năng ( ) của tác giả.

Dạng 4: Dạng câu hỏi giải thích ý nghĩa từ ngữ, hình ảnh, lời nhận định, quan điểm.

- Giải thích từ ngữ, hình ảnh, chi tiết cần dựa vào nội dung văn bản đểgiải thích, áp dụng đúng vào văn cảnh đề bài ra để trình bày đầy đủ các nétnghĩa

- Nếu có nhiều vế thì giải thích từng vế, nếu có một vế thì chọn từ khóa

để giải thích rồi rút ra ý nghĩa cả câu nói

Dạng 5: Dạng câu hỏi liên quan đến kiến thức Tiếng việt lớp 9 như: xác định các phép liên kết câu, các thành phần biệt lập, khởi ngữ, nghĩa tường minh và hàm ý, các phương châm hội thoại, lời dẫn trực tiếp và lời dẫn gián tiếp.

- Đây là dạng câu hỏi dễ, yêu cầu học sinh phải nắm chắc kiến thứcTiếng việt để trả lời một cách chính xác nhất, tránh mất điểm không đáng có

Dạng 6: Dạng câu hỏi rút ra 1 bài học, một thông điệp, một ý nghĩa

- Bài học là những gì người đọc nhận thức được rút ra cho mình quanhững điều mà tác giả phản ánh trong văn bản

- Thông điệp lại là những điều mà tác giả muốn gửi đến người đọc Đểlàm câu hỏi này cần phải căn cứ vào nội dung cảu văn bản để có cơ sở lí luậnhợp lí

7

Trang 8

- Nêu rút ra một hoặc hơn một bài học/ thông điệp có tầm khái quát.

- Ghi lại ngắn gọn không cần dài dòng

- Cách diễn đạt như sau:

+ Thông điệp/ bài học sâu sắc mà tác giả gửi gắm là Chúng ta cần/ nên/ phải/ đừng Đây là những thông điệp có ý nghĩa nhất đối với em vì nó giúp em nhận ra rằng/ hiểu rằng Thiết nghĩ thông điệp này không thể chỉ có

ý nghĩa đối với em mà còn hữu ích đối với mọi người.

Dạng 7: Dạng câu hỏi trình bày hoặc nêu ý kiến, đồng tình hay không đồng tình, đúng hay sai về một vấn đề.

- Đồng tình, không đồng tình hoặc đồng tình một phàn, phải chuẩn đạođức, pháp luật

- Cách diễn đạt: Em đồng tình/ không đồng tình với Vì Nếu không thì sẽ Vì vậy (kết luận lại)

2.3.4 Đề kiểm tra minh họa phần đọc hiểu văn bản

Đề số 1: Đề thi vào lớp 10 môn Văn tỉnh Thanh Hóa năm 2019

Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi.

(1) Một chàng trai trẻ đến gặp một chuyên gia đá quý và đề nghị ông ta dạy cho anh trở thành một nhà nghiên cứu về đá quý Chuyên gia nọ từ chối vì ông sợ rằng chàng trai không đủ kiên nhẫn để theo học Chàng trai cầu xin một cơ hội Cuối cùng, vị chuyên gia đồng ý và bảo chàng trai "Ngày mai hãy đến đây".

(2) Sáng hôm sau, vị chuyên gia đặt một hòn ngọc bích vào tay chàng trai và bảo chàng hãy cầm nó Rồi ông tiếp tục công việc của mình: mài đá, cân và phân loại đá quý Chàng trai ngồi yên lặng và chờ đợi.

(3) Buổi sáng tiếp theo, vị chuyên gia lại đặt hòn ngọc bích vào tay chàng trai và bảo chàng cầm nó Ngày thứ ba, thứ tư, thứ năm sau đó vị chuyên gia vẫn lặp lại hành động trên.

(4) Đến ngày thứ sáu, chàng trai vẫn cầm hòn ngọc bích nhưng chàng không thể im lặng được nữa.

- Thưa thầy - chàng trai hỏi - khi nào thì em sẽ bắt đầu học ạ?

- Con sẽ được học - vị chuyên gia trả lời và tiếp tục công việc của mình.

(3) Vài ngày nữa lại trôi qua và sự thất vọng của chàng trai càng tăng Một ngày kia, khi vị chuyên gia bảo chàng trai đưa tay ra, chàng định nói với ông

Trang 9

ta rằng chàng chẳng muốn tiếp tục việc này nữa Nhưng khi vị chuyên gia đặt hòn ngọc bích lên tay chàng trai, chàng nói mà không cần nhìn viên đá:

- Đây không phải là hòn đá con vẫn cầm!

- Con đã bắt đầu học rồi đấy - vị chuyên gia nói.

(Theo Quà tặng cuộc sống NXB Trẻ, 2013)

Câu 1 (0.5 đ) Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong văn

bản trên

Câu 2 (0.5 đ) Vì sao ban đầu vị chuyên gia lại từ chối lời đề nghị của chàng

trai?

Câu 3 (1.0 đ)Tìm câu văn có lời dẫn trực tiếp trong đoạn (1), sau đó chuyển

thành lời dẫn gián tiếp

Câu 4 (1.0 đ) Anh/chị có đồng tình với quan điểm được gợi ra từ phần đọc

hiểu "tự học là cách học tập hiệu quả nhất" không? Vì sao? (Trình bày từ 7đến 10 câu)

HƯỚNG DẪN CHẤM

1 Phương thức biểu đạt chính của văn bản là: tự sự 0.5

2 Ban đầu vị chuyên gia lại từ chối lời đề nghị của chàng

trai vì ông sợ rằng chàng trai không đủ kiên nhẫn để theo

học

0.5

3 Lời dẫn trực tiếp trong đoạn (1): "Ngày mai hãy đến đây"

Chuyển thành lời dẫn gián tiếp:

Cuối cùng, vị chuyên gia đồng ý và bảo chàng trai hãy đến

đây và ngày mai

1.0

4 Tự học là cách học tập hiệu quả nhất là quan điểm đúng

đắn bởi:

- Tự học giúp ta chủ động tiếp thu kiến thức thoải mái

hơn, có sự cầu tiến

- Thúc đẩy con người tự chủ hơn trong mọi công việc, có

động lực tìm kiếm đam mê của mình

- Giúp kiến thức nhớ lâu hơn, khắc ghi trong suy nghĩ để

áp dụng vào thực tế

1.0

Bài làm của học sinh:

9

Trang 12

Đề số 2:

Đề thi vào lớp 10 môn Văn tỉnh Thanh Hóa năm 2020

Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi

“Mỗi một người đều có vai trò trong cuộc đời này và đều đáng được ghi nhận Đó là lí do để chúng ta không vì thèm khát vị thế cao sang này mà

rẻ rúng công việc bình thường khác Cha mẹ ta, phần đông, đều làm công việc rất đỗi bình thường Và đó là một thực tế mà chúng ta cần nhìn thấy Để trân trọng Không phải để mặc cảm Để bình thản tiến bước Không phải để

tự ti Nếu tất cả đều là doanh nhân thành đạt thì ai sẽ quét rác trên những đường phố? Nếu tất cả đều là bác sĩ nổi tiếng thì ai sẽ là người dọn vệ sinh bệnh viện? Nếu tất cả đều là nhà khoa học thì ai sẽ là người tưới nước những luống rau? Nếu tất cả đều là kĩ sư phần mềm thì ai sẽ gắn những con chíp vào trong máy tính? Phần đông chúng ta cũng sẽ là người bình thường Nhưng điều đó không thể ngăn cản chúng ta vươn lên từng ngày”.

(Trích Nếu biết trăm năm là hữu hạn, Phạm Lữ Ân, NXB Hội Nhà văn, 2020)

Câu 3 (1.0 đ)

Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ trong những câu sau:

“Nếu tất cả đều là doanh nhân thành đạt thì ai sẽ quét rác trên những đường phố? Nếu tất cả đều là bác sĩ nổi tiếng thì ai sẽ là người dọn vệ sinh bệnh viện? Nếu tất cả đều là nhà khoa học thì ai sẽ là người tưới nước những luống rau? Nếu tất cả đều là kĩ sư phần mềm thì ai sẽ gắn những con chíp vào trong máy tính?”

Câu 4 (1.0 đ) Theo em, tại sao “Phần đông chúng ta cũng sẽ là người bình

thường Nhưng điều đó không thể ngăn cản chúng ta vươn lên từng ngày” ?

Để vươn lên từng ngày em cần làm gì?

HƯỚNG DẪN CHẤM

1 Phương thức biểu đạt chính của văn bản là: Nghị luận 0.5

Trang 13

- Việc sử dụng cấu trúc nhằm nhấn mạnh các ý sau:

+ Xã hội phân công nhiệm vụ rất rõ ràng người lao động

trí óc – người lao động chân tay;

+ Bất cứ một công việc nào, con người nào cũng đều có

những vai trò nhất định để góp phần giúp ích cho cuộc

sống và xây dựng xã hội;

+ Thái độ trân trọng nghề nghiệp, trân trọng con người

4 Học sinh có nhiều cách diễn đạt khác nhau nhưng cần hợp

lí và có sức thuyết phục Giám khảo tham khảo những gợi

ý sau để đánh giá câu trả lời:

- Chúng ta cần vươn lên từng ngày vì:

+ Cuộc sống luôn vận động và phát triển đòi hỏi con

người phải có ý thức sống tích cực;

+ Vươn lên trong cuộc sống để khẳng định giá trị sống

của bản thân, hoàn thành vai trò trách nhiệm công dân

trong việc xây dựng và phát triển đất nước

- Để vươn lên từng ngày cần phải:

+ Có ý thức sống: Tôn trọng bản thân và xã hội;

+ Tích cực học tập, có tinh thần học hỏi, trau dồi các

chuẩn mực đạo đức, kỹ năng sống;

+ Có nghị lực, bản lĩnh vượt qua những khó khăn, trở

ngại trong cuộc sống;

+ Có ước mơ, mục tiêu sống tốt đẹp

1.0

Đề số 3:

Đề thi vào lớp 10 môn Văn tỉnh Thanh Hóa năm 2021

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 4

Tình yêu thương chân thật thường rất vị tha Người có tình yêu thương chân thật thường nghĩ nhiều đến hạnh phúc của người khác hơn là của bản thân mình Tình yêu ấy làm cho chúng ta thay đổi bản thân và ngày một trưởng thành hơn Tình yêu thương chân thành và sâu sắc bao giờ cũng trường tồn ngay cả sau khi người đó đã từ giã cõi đời Tuy nhiên, yêu thương không được bày tỏ thì không bao giờ đạt được ý nghĩa đích thực của nó ( ) Hãy bày tỏ tình yêu thương với mọi người xung quanh ngay khi chúng ta còn hiện diện trong cuộc sống này Hãy nhớ rằng tình yêu thương là ngọn lửa sưởi ấm cuộc đời của mỗi chúng ta Bạn đừng ngần ngại khi muốn nói với ai

đó rằng bạn rất yêu quý họ!

13

Trang 14

(Trích “Cho đi là con mãi”, Azim Jamal & Harvey McKinnon, NXB Trẻ,

Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong câu văn:

“Hãy nhớ rằng tình yêu thương là ngọn lửa sưởi ấm cuộc đời của mỗi chúng ta”.

Câu 4 (1,0 điểm).

Em có đồng tình với nhận định của tác giả: yêu thương không được bày tỏ

thì không bao giờ đạt được ý nghĩa đích thực của nó? Vì sao?

HƯỚNG DẪN CHẤM

1 Phương thức biểu đạt chính của văn bản là: Nghị luận 0.5

2 Theo đoạn trích, người có tình yêu thương chân thật

thường nghĩ nhiều đến hạnh phúc của người khác hơn là

bản thân mình

0.5

3 Tác dụng của biện pháp tu từ so sánh được sử dụng trong

câu: Hãy nhớ rằng tình yêu thương là ngọn lửa sưởi ấm

cuộc đời mỗi chúng ta có tác dụng cụ thể hóa và khẳng

định vai trò, giá trị của tình yêu thương đối với cuộc sống

con người

1.0

4 Đây là câu hỏi mở Học sinh thể hiện quan điểm cá nhân

về nhận định của tác giả và có lý giải hợp lý

Sau đây là gợi ý:

- Tình yêu thương được bày tỏ bằng những hành động cụ

thể sẽ khiến những người xung quanh cảm nhận được giá

trị của tình yêu thương

- Tình yêu thương được bày tỏ sẽ khiến cho tình cảm ấy

được nâng niu, trân trọng

1.0

Trang 15

Bài của học sinh

15

Ngày đăng: 09/06/2022, 22:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w