1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(SKKN 2022) một số biện pháp nâng cao hiệu quả bồi dưỡng học sinh giỏi cấp tỉnh môn ngữ văn 9 tại trường THCS lê hữu lập

25 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 261 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong đó, câu 2 phần Tạo lập văn bản là nghị luận văn học dạng liên hệ so sánh, để thực hiện tốt bài thi đòihỏi học sinh có năng lực cảm thụ, năng lực tư duy, sự sắc sảo và sáng tạo –nhữ

Trang 1

ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC

TRƯỜNG THCS LÊ HỮU LẬP

=================

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

TÊN ĐỀ TÀI MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ BỒI DƯỠNG HSG CẤP TỈNH MÔN NGỮ VĂN 9

TẠI TRƯỜNG THCS LÊ HỮU LẬP

Người thực hiện: Nguyễn Thị Hoa

Chức vụ: Giáo viên

Đơn vị công tác: Trường THCS Lê Hữu Lập SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Ngữ Văn

=== HẬU LỘC 2022===

Trang 2

MỤC LỤC

2.3.1 Giải pháp 1 Phát hiện và chọn học sinh giỏi văn. 5

2.3.2 Giải pháp 2 Xây dựng kế hoạch bồi dưỡng HSG 6

2.3.3 Giải pháp 3 Nâng cao, đào sâu, mở rộng và phát triển

năng lực hiểu, cảm thụ về văn học

8

2.3.3.1 Bồi dưỡng kiến thức lí luận văn học 8

2.3.3.2 Rèn luyện cho HS kỹ năng làm bài thi HSG Văn cấp

tỉnh (trong phạm vi hạn hẹp của đề tài, tôi chỉ đề cập đến kỹ năng

làm bài thi HSG ở phần Tạo lập văn bản- phần chiếm tỉ lệ 70% số

điểm trong bài thi )

9

2.3.3.2.1 Rèn luyện kỹ năng viết đoạn văn Nghị luận xã hội 9

2.3.3.2.2 Hướng dẫn học sinh vận dụng kiến thức lí luận văn

học vào làm dạng đề NLVH (dùng tác phẩm đề chứng minh cho nhận

2.3.4 Giải pháp 4 Hướng dẫn học sinh luyện đề thi, chú trọng

các dạng đề mở, đề có sử dụng lí luận văn học, đề liên hệ so sánh để

phát triển năng lực và tư duy HS

11

2.3.5 Giải pháp 5 Hệ thống hóa kiến thức và hoàn tất quá

trình chuẩn bị cho kỳ thi

17

Trang 3

DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

Trang 4

Trong những năm gần đây, việc đổi mới phương pháp dạy học nói chung

và đổi mới phương pháp dạy học bộ môn Ngữ văn nói riêng luôn là vấn đề đượcquan tâm hàng đầu trong các nhà trường phổ thông Từ đó tạo ra sự chuyển biến

cơ bản về tổ chức hoạt động dạy học, thực hiện tốt mục tiêu kết hợp dạy chữ,dạy người, định hướng nghề nghiệp, phát huy tốt nhất tiềm năng của mỗi họcsinh, đặc biệt chú trọng khâu kiểm tra, đánh giá người học theo định hướng pháttriển năng lực, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trong các trường trunghọc Các môn khoa học xã hội được chỉ đạo giảng dạy, kiểm tra đánh giá theohướng “mở”, gắn với thực tế cuộc sống, phát huy suy nghĩ độc lập của học sinh,hạn chế yêu cầu học thuộc máy móc

Bênh cạnh đó, công tác ra đề thi, tổ chức chấm thi THPT, thi vào lớp 10THPT và thi học sinh giỏi cấp THCS, cấp THPT đã có nhiều thay đổi và nhậnđược rất nhiều sự quan tâm của các cấp, ngành từ cấp cơ sở đến cấp tỉnh Điểmnhận thấy rõ nhất là sự thay đổi về cấu trúc đề thi, ma trận và hướng dẫn chấmthi Riêng cấu trúc đề thi học sinh giỏi lớp 9 của tỉnh Thanh Hóa trước đây gồm

3 câu tương ứng với các nội dung Tiếng Việt – Nghị luận xã hội – Nghị luận vănhọc, thì những năm gần đây, cấu trúc có sự thay đổi rất lớn: đề thi thường có 2

phần: phần Đọc hiểu và phần Tạo lập văn bản Trong đó, câu 2 phần Tạo lập

văn bản là nghị luận văn học dạng liên hệ so sánh, để thực hiện tốt bài thi đòihỏi học sinh có năng lực cảm thụ, năng lực tư duy, sự sắc sảo và sáng tạo –những phẩm chất cần thiết của một học sinh giỏi Văn

Có người đã từng nói: “Học văn thì dễ nhưng dạy văn thì rất khó” và thực

tế cũng chứng minh điều đó Quả là việc dạy văn vô cùng khó bởi dạy vănkhông chỉ là dạy đúng, đủ mà còn phải hay, phải lôi cuốn học sinh, làm cho các

em hứng thú, say mê Môn Ngữ văn là môn học kết tinh nhiều giá trị văn hóatruyền thống và nhân loại, là môn học có ý nghĩa trong việc hình thành, pháttriển, định hướng nhân cách cho học sinh và rèn luyện những kĩ năng cơ bản cầnthiết cho các em bước vào cuộc sống Mặt khác, đây lại là môn học nghệ thuậtkích thích trí tưởng tượng bay bổng, sáng tạo của học sinh Chính điều này làmcho việc dạy văn càng khó hơn, đặc biệt là đối với học sinh trong thời đại côngnghệ ngày nay.Thực tế chúng ta thấy rằng ngày càng có ít học sinh đi thi họcsinh giỏi môn Ngữ văn hơn, các em cũng cảm thấy chán nản và không mấyhứng thú khi học giờ văn Chính điều đó đòi hỏi phải có những phương pháp cảitiến trong việc dạy - học văn trong nhà trường Đây là nhu cầu cần thiết đối vớicác nhà giáo dục và đội ngũ giáo viên giảng dạy môn Ngữ văn

Để thực hiện mục tiêu của Chương trình giáo dục phổ thông theo địnhhướng phát triển năng lực học sinh, phù hợp với xu thế phát triển của thờiđại,đáp ứng được sự đổi mới trong cấu trúc đề thi HSG cấp Tỉnh (tỉnh ThanhHóa); đồng thời khơi dậy niềm hứng thú cho học sinh khi học văn, nhiệm vụ củangười giáo viên dạy Ngữ văn là phải tiếp cận được những thay đổi trong phươngpháp dạy học bộ môn Ngữ văn mới của Bộ Giáo dục, phải tìm tòi, nghiên cứu kĩcấu trúc đề thi HSG môn Ngữ văn mới, đặc biệt là tìm ra được phương pháp, kĩnăng tối ưu nhất để rèn luyện cho học sinh làm bài thi HSG đạt kết quả cao nhất

Trong những năm học vừa qua, bản thân tôi thường xuyên được Ban giám

Trang 5

hiệu Trường THCS Lê Hữu Lập và Phòng GD và ĐT huyện Hậu Lộc giao trọngtrách bồi dưỡng đội tuyển HSG cấp Tỉnh môn Ngữ văn lớp 9 của trường, củahuyện Từ quá trình đầu tư phục vụ giảng dạy, ôn luyện, xây dựng kế hoạch bồidưỡng, phương pháp và nội dung phù hợp; bản thân tôi đã đúc kết, tích lũy kinhnghiệm qua thời gian và thực tế giảng dạy, tôi xin mạnh dạn trình bày đề tài

“Một số biện pháp nâng cao hiệu quả bồi dưỡng HSG cấp Tỉnh môn Ngữ văn

9 tại Trường THCS Lê Hữu Lập” để đồng nghiệp tham khảo.

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Tôi chọn đề tài“Một số biện pháp nâng cao hiệu quả bồi dưỡng HSG

cấp Tỉnh môn Ngữ văn 9 tại Trường THCS Lê Hữu Lập” với mong muốn:

- Cùng đồng nghiệp nhận thấy được rõ ý nghĩa, vai trò công tác bồi dưỡnghọc sinh giỏi Ngữ văn lớp 9 trong việc phát huy phát huy năng lực, phẩm chấtcủa học sinh bên cạnh yếu tố hiệu quả trong quá trình bồi dưỡng và thi HSGNgữ văn các cấp (tỉnh, thành phố)

- Giúp học sinh học sinh hào hứng hơn, chủ động hơn trong việc chiếmlĩnh tri thức trong quá trình tham gia đội tuyển Xóa bỏ tâm lí "ngại, e dè” vìthấy khó; trái lại, có thể hào hứng, chủ động thảo luận, trao đổi để làm đề, xâydựng đáp án khi gặp những đề mới Từ đó kích thích, phát huy được khả năng tưduy, sáng tạo của học sinh, đúng theo tinh thần đổi mới phương pháp dạy họctheo định hướng phát triển năng lực học sinh

- Góp một biện pháp nâng cao chất lượng bồi dưỡng học sinh giỏi mônNgữ văn lớp 9

1.3 Thời gian, đối tượng nghiên cứu

a) Thời gian nghiên cứu

Năm học 2017-2018; 2018 - 2019 đến năm học 2021-2022

b) Đối tượng nghiên cứu

Đội tuyển HSG cấp Tỉnh môn Ngữ văn 9, trường THCS Lê Hữu Lập

1.4 Phương pháp nghiên cứu

1.4.1 Nghiên cứu lí thuyết

- Đọc, nghiên cứu các tài liệu xung quanh việc đổi mới phương pháp dạyhọc văn

- Các tài liệu, bài viết về phương pháp đổi mới cách đặt câu hỏi trong giờdạy tác phẩm văn chương

1.4.2 Nghiên cứu thực tiễn

* Dự một số giờ dạy học văn của các đồng nghiệp

* Thể nghiệm qua một số giờ dạy trên lớp của bản thân

- Phương pháp khảo sát thực tiễn

- Phương pháp phân tích, so sánh, đối chiếu

- Phương pháp phân tích tổng hợp

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm

1.5 Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm

Đề tài đã khái quát được những nội dung cơ bản và cần thiết trong côngtác bồi dưỡng học sinh giỏi văn THCS nói chung và bồi dưỡng HSG Ngữ văn 9nói riêng

Trang 6

Đề tài cung cấp được các hình thức và phương pháp tổ chức bồi dưỡngHSG ngữ văn 9 theo hệ thống khá hoàn chỉnh, toàn diện: từ khâu lựa chọn họcsinh, phương pháp ôn luyện, cách thức hướng dẫn học sinh tích lũy và vận dụngkiến thức, các kỹ năng cần thiết khi làm bài thi HSG.

Nội dung đề tài được trình bày theo từng phần, từng mục mạch lạc, cácluận điểm, luận cứ, luận chứng rõ ràng, thống kê chính xác, hệ thống lý thuyếtlập luận đúng đắn Đề tài áp dụng đi sâu vào vấn đề quan trọng của dạy – họcNgữ văn được ngành giáo dục, các cấp chính quyền, các nhà trường, giáo viên

và học sinh đặc biệt quan tâm: Hiệu quả và chất lượng bồi dưỡng học sinh giỏiNgữ văn 9

2 GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

2.1 Cơ sở lý luận

2.1.1 Thế nào là học sinh giỏi Văn?

Học sinh giỏi Văn đúng nghĩa là học sinh có năng khiếu và năng lực cảmthụ, tự thể hiện suy nghĩ độc lập của bản thân Thực tế học sinh có năng khiếu

chiếm tỉ lệ rất ít, đa phần là có năng lực “Năng lực” và “năng khiếu” văn chương không phải là một “Năng khiếu” - bẩm sinh, là thứ “trời cho” Năng

khiếu văn học là năng khiếu sáng tác nghệ thuật thiên bẩm (sáng tác thơ văn,

viết truyện, tiểu thuyết) “Năng lực” văn học là khả năng nắm bắt những tri thức khoa học về văn chương “Năng lực” có được là do quá trình học hỏi, rèn luyện,

tích tụ của bản thân học sinh cùng sự giúp đỡ của người thầy Năng lực có thểchuyển hoá thành năng khiếu nếu có sự vun xới bồi dưỡng đúng, thích hợp Bồidưỡng năng lực văn học là nhiệm vụ của người giáo viên dạy văn trong nhàtrường Không có những học sinh giỏi, có năng khiếu văn, dẫu thầy có tài giỏimấy cũng khó đạt được điều mình mong muốn

Theo tôi, một học sinh giỏi Văn cần hội tụ các yếu tố sau:

+ Có niềm say mê, yêu thích văn chương

+ Có tư chất bẩm sinh như tiếp thu nhanh, có trí nhớ bền vững, có khả năng phát hiện vấn đề và có khả năng sáng tạo (có ý tưởng mới trong bài làm).

+ Có vốn tri thức về tác phẩm văn học phong phú và hệ thống; có sự hiểu

biết về con người và xã hội.

+ Giàu cảm xúc và thường nhạy cảm trước mọi vấn đề của cuộc sống + Có vốn từ tiếng Việt khá dồi dào.

+ Nắm chắc các kỹ năng làm bài nghị luận.

2.1.2 Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi Văn.

Từ thực tế nhiều năm bồi dưỡng học sinh giỏi Ngữ văn, bản thân tôi nhậnthấy: Bồi dưỡng học sinh giỏi văn nói riêng là công việc vô cùng quan trọng vàvinh dự cũng như đòi hỏi tâm huyết, trách nhiệm và phụ thuộc nhiều ở kinhnghiệm phát hiện, lựa chọn và năng lực giảng dạy của người giáo viên dạy văn.Học sinh giỏi văn chính là nguồn nhân lực tương lai của các ngành khoa học xãhội và nhân văn Đào tạo học sinh giỏi văn đúng nghĩa là công việc vô cùng khó,việc phát hiện học sinh giỏi, có thiên bẩm văn chương càng không phải chuyện

dễ trong ngày một ngày hai Để có được một học sinh giỏi văn, ngoài năng lực,

tố chất của học sinh còn cần có vai trò, trách nhiệm niềm đam mê nhiệt huyếtcủa người thầy là điều không thể phủ nhận được

Trang 7

Người giáo viên bồi dưỡng HSG cần nhận thức đúng đắn bộ môn văn học

không chỉ là môn lý thuyết “nói nhiều hơn làm”, dạy HSG văn không chỉ trang

bị kiến thức suông Thiên về thuyết giảng sẽ làm mất khả năng cảm và hứng đểviết văn, người dạy cần bồi dưỡng kĩ năng thực hành, luyện tập viết văn, sáng

tác… Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng từng nói:“Dạy làm văn là chủ yếu là dạy

cho học sinh diễn tả cái gì mình suy nghĩ, mình cần bày tỏ một cách trung

thành, sáng tỏ chính xác, làm nỗi bật điều mình muốn nói” (Dạy văn là một quá trình rèn luyện toàn diện, Nghiên cứu giáo dục, số 28, 11/1973) Để thực hiện

tốt điều nói trên cần phải chuyên tâm, đầu tư phục vụ giảng dạy, ôn luyện, xâydựng kế hoạch bồi dưỡng, phương pháp và nội dung phù hợp; thường xuyên đúckết, tích lũy kinh nghiệm qua thời gian và thực tế giảng dạy để nâng cao chấtlượng bồi dưỡng cho HS qua từng năm học

2.2.Thực trạng của vấn đề cần giải quyết

2.2.1 Về phía giáo viên

Trường THCS Lê Hữu Lập là trường chất lượng cao của huyện Hậu Lộc,

có bề dày truyền thống và thành tích trong công tác bồi dưỡng HSG Ban giámhiệu Nhà trường luôn quan tâm, động viên, chỉ đạo sâu sát và tạo điều kiện tối

đa cho công tác bồi dưỡng HSG

Đội ngũ giáo viên đứng lớp qua nhiều năm kinh nghiệm và nghiên cứugiảng dạy, luôn dành nhiều thời gian và tâm huyết để nghiên cứu suy ngẫm vềchuyên môn, về tính hiệu quả của giờ lên lớp, đặc biệt là giờ dạy bồi dưỡng họcsinh giỏi Trong công bồi dưỡng HSG, hầu hết các giáo viên luôn chịu khó tìmtòi, học hỏi nâng cao trình độ nghiệp vụ chuyên môn, đọc tham khảo nhiều tàiliệu, các sách nghiên cứu lý luận phê bình văn học, các chuyên đề bồi dưỡng họcsinh giỏi cấp huyện, cấp tỉnh Tiếp cận và tích lũy, sưu tầm nhiều dạng đề thihọc sinh giỏi tỉnh, học sinh giỏi quốc gia, các đề học sinh giỏi ở các tỉnhkhác.v.v có ghi chép, tích lũy, cập nhật thường xuyên

Tuy nhiên, do cấu trúc đề thi thay đổi, giáo viên dạy bộ môn Ngữ văntrong nhà trường có đồng chí 4 năm mới đứng đội tuyển một lần nên việc tiếpcận cấu trúc đề, cách xây dựng ma trận, đáp án chất lượng cho một đề thi HSGcấp tỉnh đôi khi còn lung túng Bên cạnh đó, trong công tác bồi dưỡng HSGVăn, các thầy cô còn gặp một số vấn đề khó khăn sau: tư liệu giảng dạy HSGNgữ văn tuy nhiều nhưng ít tài liệu phù hợp, hầu như không có tài liệu chuyênsâu nào có thể áp dụng tối ưu trong công tác bồi dưỡng HSG Mặt khác do ngạiđầu tư công sức, ngại sáng tạo, không chịu đổi mới trong cách ra đề, kiểm tra,đánh giá nên kết quả bồi dưỡng HSG một số năm chưa đạt kết quả cao

2.2.2 Về phía học sinh

Một thực tế cho thấy, học sinh hiện nay có nhiều em không mặn mà vớiviệc học văn, nhiều phụ huynh cũng can thiệp sâu vào quá trình học tập của con,định hướng cho các con học theo phân ban tự nhiên từ rất sớm Điều này khiếnhọc sinh đăng kí học môn Tiếng Anh, mônToán và môn khoa học tự nhiên nhiều

mà dần xem nhẹ vai trò của bộ môn Ngữ văn Thói quen này hình thành sớm ởhọc sinh dẫn đến các em ngại học văn, thậm chí có nhiều em không có thiện cảmvới môn học đậm tính nhân văn này

Trang 8

Bên cạnh đó, vẫn còn học sinh thường có thái độ thờ ơ, chán nản, khônghứng thú, chưa thật sự tích cực với việc học Ngữ văn; ngại đọc sách, đọc tài liệu

và không say mê với môn Văn Hoặc có tình trạng học sinh học tốt môn Vănnhưng từ chối tham gia đội tuyển, có học sinh tham gia đội tuyển HSG văn lại bịgia đình ngăn cản… Xét về xã hội, thời đại chúng ta đang sống là thời đại khoahọc công nghệ, dễ hiểu là đại đa số HS chỉ muốn học các ngành khoa học tựnhiên, kĩ thuật, kinh tế… ít có HS hứng thú học văn, bởi phần đông HS và phụhuynh nghĩ rằng học văn không thiết thực Văn có kém một chút, ra đời vẫnkhông sao, vẫn nói và viết được, còn không học ngoại ngữ, không học khoa học,

kĩ thuật thì không “hái ra tiền”

2.3 Nội dung nghiên cứu/giải pháp thay thế

2.3.1 Giải pháp 1 Phát hiện và chọn học sinh giỏi văn.

Trong quá trình dạy học, và tham gia bồi dưỡng học sinh giỏi, bản thânnhận thấy rằng: muốn đem lại kết quả bồi dưỡng, trước tiên phải phát hiện vàchọn đúng đối tượng Làm thế nào để xác định được những học sinh không chỉ

có năng khiếu văn học, còn có lòng say mê, yêu thích văn chương Chọn đúngđược học sinh có năng khiếu, thì bồi dưỡng được những học sinh giỏi văn, conđường bồi dưỡng được rút ngắn khoảng cách Việc phát hiện và bồi dưỡng họcsinh giỏi cần được tiến hành từ đầu lớp 6 Chọn được chính xác, tránh bỏ sót họcsinh là khâu rất quan trọng Giáo viên phụ trách môn Ngữ văn phải chọn cho kĩ,cho tinh Trong quá trình dạy phải theo dõi và phát hiện cho được những nhân tố

có khả năng giỏi về môn Văn để đưa các em vào danh sách dự tuyển

Tại mục II.1 của đề tài, tôi đã trình bày sự đánh giá thế nào là học sinh gỏivăn, và cách chọn HSG văn của tôi như sau:

- Khi chọn HSG văn, người giáo viên cần dựa vào các kết quả học tập củahọc sinh cấp học Tiểu học qua điểm tổng kết, qua đánh giá nhận xét của GVtrong học bạ, qua kết quả học sinh đạt được trong các kỳ thi giao lưu HS năngkhiếu (Cấp tiểu học không thi HSG) Có thể tham khảo thêm ý kiến của giáoviên trực tiếp giảng dạy cấp học đó để nắm chắc điểm mạnh, điểm yếu của từnghọc sinh

- Đề xuất nhà trường tổ chức thi tuyển chọn, khuyến khích học sinh thamgia Giáo viên xem xét kĩ bài văn cùng bài viết đầu năm - đây có thể coi là côngtrình sáng tạo đầu tiên mang dấu ấn riêng của cá nhân Vì HS tiểu học thườnglàm văn theo mẫu, các bài của các HS thường có mô-tip giống nhau, nên giáoviên cần tinh ý để tìm ra chất giọng, chất văn, cách nghĩ độc đáo của trò Đồngthời kết hợp qua ý thức học, khả năng tiếp thu và bộc lộ nhận thức, cảm xúc củahọc sinh trong các giờ học văn

- Trong quá trình học tập, giao tiếp, cần tìm hiểu thái độ của học sinh đốivới bộ môn Học sinh có yêu thích đam mê, tự giác, hào hứng và có tinh thầntrách nhiệm với bộ môn không? Tránh tình trạng bỏ cuộc giữa đường sau thờigian dài đã được bồi dưỡng vì ngại khó…

- Việc tuyển chọn vào đội tuyển học sinh giỏi của trường trong nhữngnăm qua, chúng tôi đã đề xuất và cơ bản căn cứ yếu tố sau để phát hiện:

+ Bản thân tôi nhận thấy, học sinh có năng khiếu văn thường thể hiệnnhững dấu hiệu bên ngoài như: dễ rung cảm, xúc động, tinh nhạy, bộc lộ thái độ

Trang 9

trước từng tác phẩm văn thơ, ngôn ngữ phong phú, có khả năng cảm thụ và diễnđạt độc đáo, tư duy khúc chiết, trong sáng…cùng với việc đam mê, yêu thíchđọc-học, có nhu cầu thưởng thức và sáng tác thơ văn Chính sự đam mê, yêuthích văn học là động lực, điều tiên quyết giúp học sinh vượt qua những khổ ảitrên đường học tập để đến với văn chương Niềm say mê ấy, thúc đẩy các emtìm tòi tích luỹ tư liệu, chịu khó đọc, sưu tầm sách vở, trau dồi ngôn ngữ…

+ Những học sinh giỏi văn, khi đứng trước một vấn đề thường có khảnăng phát hiện, giải quyết vấn đề nhanh, nhạy, đúng bản chất, tường tận và linhhoạt-có sáng tạo ít nhiều Đối với học sinh giỏi văn, năng lực tư duy rất cầnthiết Khả năng tư duy tốt, giúp các em khả năng phân tích, tổng hợp cao, khámphá những điều mới lạ, có khả năng tìm thấy cái hay, cái đẹp về nội dung vànghệ thuật trong từng tác phẩm Đó là điều cần thiết nhất của người học văn

- Khi chọn học sinh giỏi cần chú ý đến những em có kiến thức vững chắcphong phú về lịch sử văn học, về vốn từ ngữ dồi dào, kĩ năng làm văn, kĩ năngdiễn đạt …hệ thống lập luận tốt, biết làm chủ vốn kiến thức có hiệu quả trướcmỗi yêu cầu học tập, thi cử và ứng xử xã hội

Chọn được HSG văn là khâu đầu tiên quyết định chất lượng đội tuyển quacác năm học

2.3.2 Giải pháp 2: Xây dựng kế hoạch bồi dưỡng HSG

Xây dựng kế hoạch bồi dưỡng học sinh giỏi được xem như yếu tố quyếtđịnh thành công của bồi dưỡng học sinh giỏi Dựa vào kế hoạch của nhà trường,của huyện, giáo viên dạy bồi dưỡng cần lập ra một kế hoạch thực hiện chươngtrình bồi dưỡng theo từng giai đoạn cụ thể như sau:

2.3.2.1 Giai đoạn 1: Sau khi đã chọn được những học sinh vào danh sách

đội tuyển, giáo viên cần giáo dục về tư tưởng và tầm quan trọng của công tácbồi dưỡng Giáo dục tư tưởng là để động viên học sinh, giúp các em yêu thíchmôn học, có mục tiêu, lí tưởng phấn đấu, có động lực quyết tâm ôn và thi họcsinhgiỏi đạt giải Đây là việc vô cùng quan trọng

Ngoài ra, việc động viên khích lệ về tư tưởng cho học sinh được giáo viêngiáo dục thường xuyên trong các tiết học, giờ học bằng lời nói, hành động việclàm cụ thể

Bên cạnh đó, giáo viên cũng cần tìm hiểu, nắm bắt hoàn cảnh gia đình củatừng thành viên trong đội tuyển để tâm sự, sẻ chia động viên các em an tâm, tintưởng học tập

Để làm tốt công việc này, đầu năm học, tôi thường làm một phiếu khảosát thông tin học sinh như sau:

PHIẾU THÔNG TIN HỌC SINH

Họ và tên HS ……… Lớp …….

1 Em hãy chia sẻ những thông tin cơ bản về gia

đình mình (họ tên bố mẹ, nghề nghiệp, địa chỉ,

SĐT liên lạc, hoàn cảnh gia đình)

………

………

………

2 Trong gia đình, ai là người thường gần gũi, trò

chuyện cùng em? Cảm nhận của em về người đó?

………

………

3 Em thường học bài vào khoảng thời gian nào? ………

Trang 10

Ngoài giờ học, công việc yêu thích của em là gì? ………

4 Kể tên một số chương trình ti vi, kênh

YouTube, các loại sách báo em thường xem/ đọc

Vì sao em thường xem/ đọc những nội dung này?

………

………

………

5 Lí do em tham gia đội tuyển văn? Tham gia đội

tuyển em có mục tiêu gì, em sẽ làm gì để thực hiện

mục tiêu đó?

………

………

………

6 Em có mong muốn gì cần đề đạt với thầy cô

trên lớp và với thầy cô ôn luyện đội tuyển HSG

văn?

………

………

Cảm ơn em đã chia sẻ với thầy/ cô!

Với phiếu khảo sát trên, tôi tự tin nắm bắt được những thông tin cần thiết

về hoàn cảnh gia đình, tâm lí, tính cách, suy nghĩ… của HS, từ đó có địnhhướng phù hợp trng quá trình ôn luyện, bồi dưỡng cho các em

2.3.2.2 Giai đoạn 2: Cung cấp kiến thức cơ bản cho HS Ở giai đoạn này

giáo viên giảng dạy cho học sinh kiến thức trong chương trình ôn tập, khôngchạy đua theo số lượng mà dạy tác phẩm nào kĩ tác phẩm ấy để kiến thức

“đọng” hơn Không cung cấp quá nhiều kiến thức, các em sẽ dễ bị “ngợp” gây racảm giác mệt mỏi, chán nản Bài tập ở giai đoạn này cũng là những bài tập nhỏ

để ghi nhớ kiến thức cơ bản

Để học sinh tích lũy tốt kiến thức không phải trong một sớm một chiều,

GV cần có kế hoạch bồi dưỡng lâu dài qua từng năm học, song song với nộidung giảng dạy trên lớp, tôi xây dựng kế hoạch giảng dạy để HS tích lũy kiếnthức theo các chuyên đề bồi dưỡng Sau đây là một số chuyên đề mà bản thân tôi

đã thực hiện trong quá trình bồi dưỡng HSG Tỉnh năm học 2021-2002:

4 Đặc trưng của thơ trữ tình hiện đại và những điều cần lưu

5 Đặc trưng của truyện trung đại, truyện hiện đại Việt Nam

và những điều cần lưu ý khi phân tích tác phẩm truyện

(hoặc đoạn trích)

5

6 Vẻ đẹp của thơ hiện đại Việt Nam qua các tác phẩm văn

học (chủ yếu các tác phẩm nằm trong giới hạn chương

trình thi HSG)

6

7 Vẻ đẹp của truyện hiện đại Việt Nam qua các tác phẩm

văn học (chủ yếu các tác phẩm nằm trong giới hạn chương

trình thi HSG)

4

8 Rèn luyện kĩ năng làm bài đọc-hiểu (kết hợp ôn tập lại

những đơn vị kiến thức tiếng Việt, Tập làm văn…đã học

liên quan đến phần trả lời các câu hỏi trong phần

đọc-hiểu)

3

Trang 11

9 Rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn nghị luận xã hội khoảng

200 chữ (chủ yếu là các đoạn văn nghị luận trình bày suy

nghĩ về một ý kiến, nhận định, hoặc vấn đề nghị luận rút

ra từ một câu chuyện ngắn, một ý thơ, một lời của bài

hát… )

3

10 Rèn luyện kĩ năng viết bài văn nghị luận văn học (chủ yếu

rèn luyện kĩ năng viết bài văn nghị luận văn học dưới

dạng một ý kiến, một nhận định lí luận văn học….)

5

2.3.3 Giải pháp 3: Nâng cao, đào sâu, mở rộng và phát triển năng lực hiểu, cảm thụ về văn học

2.3.3.1 Bồi dưỡng kiến thức lí luận văn học

Ở giai đoạn này giáo viên hướng dẫn HS tích lũy kiến thức lí luận văn họcmột cách vững chắc, có khả năng vận dụng lí luận văn học để cảm thụ thơ văn,

để viết bài văn có sử dụng lí luận văn học một cách thành thạo

Lí luận văn học (LLVH) là kim chỉ nam đóng vai trò khá quan trọng trongviệc định hướng dạy và học một tác phẩm văn học ở nhà trường phổ thông

Trong mỗi giờ dạy, giáo viên cần chỉ ra và phân tích chốt lại được một vàikhái niệm, thuật ngữ LLVH nào đó Trong những giờ tổng kết chương, ôn tập,ngoại khoá cần tiến hành hệ thống hoá tất cả các thuật ngữ khái niệm LLVH đãhọc hoặc có thêm trong SGK

Song song với việc cung cấp cho các em các thuật ngữ, khái niệm như thếcần giúp các em đi sâu vào nắm vững một số vấn đề rất cơ bản và thiết thực củaLLVH như tác phẩm văn học, thể loại, vai trò của nghệ sĩ, chức năng nhiệm vụcủa văn học…Những kiến thức lí luận được lồng ghép vào các bài, tiết học cụthể trong quá trình dạy học trên lớp

Với các tác phẩm tự sự được học trong chương trình, kinh nghiệm là luônchú trọng vận dụng kiến thức LLVH vào việc giảng dạy văn bản.Các vấn đềkhai thác ở đây chủ yếu là: thể loại tự sự, nhân vật trong tác phẩm tự sự, cốttruyện, tình huống, chi tiết… Tất nhiên không phải văn bản nào người dạy cũng

đi vào đầy đủ các khía cạnh trên Tuỳ từng văn bản mà cần có sự chọn lọcnhững nét đặc trưng cơ bản nhất, nổi trội nhất để khai thác

Bên cạnh đó, giáo viên soạn thành các chuyên đề để bồi dưỡng LLVH cho

học sinh: về văn học sử (Thơ văn trung đại; Văn học thời kỳ kháng chiến chống

Pháp, chống Mỹ …), về các trào lưu văn học, dòng văn học (Thơ mới; Thơ ca cách mạng Việt Nam; Thơ ca kháng chiến, Văn học hiện thực phê phán…), về

các giá trị văn học, giá trị nhân đạo, giá trị hiện thực, quá trình sáng tác và tiếpnhận… Đối với các tác giả như: Nguyễn Du, Nguyễn Dữ, Chính Hữu, NguyễnQuang Sáng… chúng tôi cung cấp những yếu tố ảnh hưởng đến sự nghiệp, quátrình sáng tác, đặc điểm nổi bật của quá trình sáng tác, quan điểm sáng tác,

phong cách nghệ thuật… Chẳng hạn: Về Nguyễn Du, chúng tôi hướng dẫn học

sinh tìm hiểu: Những ảnh hưởng của gia đình và thời đại đến sang tác của

Nguyễn Du; Giá trị hiện thực và nhân đạo trong sáng tác của Nguyễn Du; Thiên nhiên trong “Truyện Kiều”; Nghệ thuật miêu tả/ Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình trong “Truyện Kiều”… ,về vai trò của văn học đối với cuộc sống, mối quan

hệ giữa văn học và cuộc sống, vai trò của người nghệ sĩ trong sáng tác văn

Trang 12

chương, giáo viên bồi dưỡng yêu cầu học sinh sưu tầm và chọn lọc những lờinhận định liên quan đến vấn đề này và tìm được những lời nhận định có ý nghĩa

và giá trị nhất

Ngoài ra, để học sinh làm tốt đề văn nghị luận có sử dụng ý kiến, nhậnđịnh là các kiến thức lí luận văn học, giáo viên cần rèn luyện cho các em kĩ năngtích lũy vốn từ để giải thích các khái niệm, thuật ngữ, từ khóa trong đề văn nghịluận Việc tích lũy này sẽ là cơ sở để học sinh có khả năng phát hiện ra nhữngđiểm cần giải thích cũng như biết cắt nghĩa các từ ngữ quan trọng Từ đó, họcsinh mới có thể xác định trúng vấn đề cần nghị luận – luận đề của bài văn nghịluận Để có thể tích lũy vốn từ, học sinh có thể thực hiện các yêu cầu sau:

- Rèn thói quen đọc nhiều, học hỏi từ các sách nghiên cứu về văn hóa, vănhọc, mĩ học, triết học, sử học…

- Tích lũy các nội dung định nghĩa từ những cuốn từ điển đáng tin cậy

- Rèn thói quen ghi chép các cách dùng từ hay, đắc địa, độc đáo của cácnhà nghiên cứu, nhà văn, nhà thơ…

- Tham khảo các bài văn nghị luận mẫu mực…

Với kiến thức phong phú tích lũy được, các em sẽ có cái nhìn đa chiều,toàn diện, sâu sắc hơn về những vấn đề cần cắt nghĩa, lí giải Ví dụ: Trong câu

nói: “Văn học chân chính ngay cả khi nói về cái xấu, cái ác cũng chỉ nhằm thể

hiện khát vọng về cái đẹp, cái thiện” Để có thể giải thích một cách toàn vẹn,

thấu đáo ý kiến nêu trên, học sinh không chỉ cần huy động các vốn từ về lí luậnvăn học như: Bản chất của văn học, đối tượng phản ánh của văn học mà còn cầnhuy động các khái niệm của mĩ học như: thiện - ác, tốt - xấu…Hay trong một

câu nói khác: “Thấy người thống khổ khóc than mà bạn có thể làm cho họ khô

nước mắt thì đừng để cho mặt trời có đủ thời gian làm khô nước mắt của họ” Để giải thích ý kiến nêu trên, học sinh không chỉ cần huy động các vốn từ

đã tích lũy được trong từ điển mà còn cần huy động vốn từ thuộc chuyên ngànhđịa lí, vật lí…Trên cơ sở đó mà khái quát lên ý nghĩa cả câu

Đó là cách để bồi dưỡng cho HS kiến thức lí luận văn học! Còn vận dụngLLVH như thế nào, tôi sẽ tiếp tục trình bày trong phần tiếp theo của đề tài

2.3.3.2 Rèn luyện cho HS kỹ năng làm bài thi HSG Văn cấp tỉnh (trong phạm vi hạn hẹp của đề tài, tôi chỉ đề cập đến kỹ năng làm bài thi HSG ở phần Tạo lập văn bản- phần chiếm tỉ lệ 70% số điểm trong bài thi )

Phương pháp rèn luyện cho học sinh kỹ năng làm bài thi học sinh giỏiphần Tạo lập văn bản là vô cùng quan trọng, có tính quyết định đến điểm số vàkết quả bài thi HSG Ở đây, tôi chỉ xin trình bày ngắn gọn cách thức mà tôi đãthực hiện trong quá trình bồi dưỡng HSG, nội dung chi tiết được trình bày tại

Phụ lục 1 của SKKN.

2.3.3.2.1 Rèn luyện kỹ năng viết đoạn văn Nghị luận xã hội

Câu hỏi trong đề thi về Nghị luận xã hội thường chiếm số điểm ít hơnNLVH, tuy nhiên, không vì thế mà xem nhẹ Bởi câu NLVH không chỉ quatrọng về mặt điểm số (thường chiếm 4/ 20 điểm của đề văn) mà việc rèn luyện

kỹ năng viết đoạn NLXH còn giúp phát huy năng lực tư duy của HS rất tốt, đặcbiệt là đối tượng HSG Vì thế, tôi thường dành thời gian hướng dẫn các em viếtđoạn NLXH sao cho đạt hiệu quả cao nhất

Ngày đăng: 09/06/2022, 22:18

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w