1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(SKKN 2022) hành trình cùng em dạy học văn bản theo định hướng phát triển năng lực dành cho học sinh lớp 9

28 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 567,45 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ PHÒNG GD&ĐT HUYỆN CẨM THỦY SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM TÊN ĐỀ TÀI HÀNH TRÌNH CÙNG EM DẠY - HỌC VĂN BẢN THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC DÀNH CHO HỌC SINH LỚ

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ

PHÒNG GD&ĐT HUYỆN CẨM THỦY

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

TÊN ĐỀ TÀI HÀNH TRÌNH CÙNG EM DẠY - HỌC VĂN BẢN THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC DÀNH CHO HỌC SINH LỚP 9

Ở TRƯỜNG THCS CẨM THẠCH, HUYỆN CẨM THỦY

Người thực hiện: Nguyễn Thị Kim Tiến Chức vụ: Giáo viên

Đơn vị công tác: Trường THCS Cẩm Thạch SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Ngữ văn

THANH HOÁ NĂM 2022

Trang 2

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 2

2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề 4

2.3.1 Giải pháp 1: Giáo viên tiến hành xây dựng các cấp độ để

thực hiện “hành trình cùng em dạy – học văn bản”

4

2.3.2 Giải pháp 2: Giáo viên thiết kế nhiệm vụ cho học sinh và lập

bảng đánh giá mức độ hiệu quả khi học sinh thực hiện nhiệm vụ

dựa trên nội dung các hoạt động học tập

5

2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo

dục, với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường

19

Tài liệu tham khảo

Danh mục sáng kiến kinh nghiệm đã được xếp hạng

Trang 3

Nói đến sự đổi mới của giáo dục, hiểu một cách đơn giản là nói đến đổimới của việc dạy, học của thầy và trò, là đổi mới trong cấu trúc nội dung chươngtrình Ngữ liệu sách giáo khoa để làm thế nào đó phù hợp với mục tiêu xây dựngcon người trong thời đại mới bằng những phương pháp và kỹ thuật dạy học phùhợp.

Albert Einstein từng nói: Ai cũng là thiên tài nhưng nếu bạn đánh giá con

cá với khả năng leo cây thì cả cuộc đời nó sẽ sống với suy nghĩ nó là một kẻ đần độn Niềm tin, tính cách, khả năng là ba yếu tố quan trọng để quyết định bạn sẽ

trở thành người như thế nào, với năng lực gì? Vì vậy, vai trò của giáo viên trongviệc tạo dựng niềm tin, khơi dậy khả năng và thắp lên khao khát đam mê trongmỗi học trò thực sự rất quan trọng

Việc đổi mới phương pháp và kỹ thuật dạy học hướng đến đối tượng họcsinh đã thổi một luồng gió mới, tạo nhiều cơ hội mới để giáo viên thỏa sức sángtạo, tìm tòi, áp dụng những phương pháp và kĩ thuật dạy học, thiết kế nhữnghình thức, những quy trình học tập phù hợp để làm thế nào đó giúp học sinh cóthể phát triển một cách toàn diện nhất về mọi mặt, khơi dậy được trong các em

những tiềm năng đang còn bị vùi lấp bởi vì có câu nói rất hay rằng: Thiếu phương pháp thì người tài cũng có lỗi, có phương pháp thì người tầm thường cũng làm được điều phi thường Chính vì lí do đó tôi đã trăn trở, mạnh dạn viết

nên đề tài Hành trình "cùng em dạy - học văn bản" theo định hướng phát triển năng lực dành cho học sinh lớp 9 ở trường THCS Cẩm Thạch, huyện Cẩm Thủy.

1.2 Mục đích nghiên cứu

Đề tài nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục là xây dựng một thế hệhọc sinh có phẩm chất, năng lực cần thiết đúng với yêu cầu của thời đại để làmhành trang cho các em khi bước vào cuộc sống thực tế Cụ thể, những năng lựcchung được hình thành, phát triển thông qua tất cả các môn học và hoạt độnggiáo dục như năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lựcgiải quyết vấn đề và sáng tạo và những phẩm chất chủ yếu như yêu nước, nhân

ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm

1.3 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: Các giải pháp để thực hiện đề tàihành trình "cùng em dạy - học văn bản" theo định hướng phát triển năng lực

dành cho học sinh lớp 9 giúp tiết dạy đạt hiệu quả cao hơn

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện đề tài, cần có sự kết hợp của nhiều phương

pháp Với sáng kiến kinh nghiệm này, tôi vận dụng các phương pháp cơ bản sau:

Trang 4

- Phương pháp thống kê

- Phương pháp so sánh, đối chiếu

- Phương pháp điều tra, khảo sát

- Phương pháp phân tích và tổng hợp

2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm

2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm

Về nguồn gốc, khái niệm năng lực (Tiếng Anh: Competency) bắt nguồn

từ tiếng La tinh “competencia” Trên Thế giới và tại Việt Nam, có rất nhiều cácquan điểm về năng lực, nhưng tựu chung lại, năng lực có thể được hiểu một cáchđơn giản là khả năng hoàn thành nhiệm vụ đặt ra, gắn với một loại hoạt động cụthể nào đó Năng lực là một yếu tố cơ bản của nhân cách nên mang dấu ấn cánhân, thể hiện tính chủ quan trong hành động và được hình thành theo quy luậthình thành và phát triển nhân cách, trong đó tính tích cực hoạt động và giao lưucủa cá nhân đóng vai trò quyết định Năng lực ở mỗi con người có được nhờ vào

sự kiên trì học tập, rèn luyện và tích lũy kinh nghiệm của bản thân trong hoạtđộng thực tiễn

Dạy học theo hướng phát triển năng lực là mô hình dạy học hướng tới

mục tiêu phát triển tối đa phẩm chất và năng lực của người học thông qua cáchthức tổ chức các họat động học tập độc lập, tích cực, sáng tạo của học sinh dưới

sự tổ chức, hướng dẫn và hỗ trợ của giáo viên Trong mô hình này, người học cóthể thể hiện sự tiến bộ bằng cách chứng minh năng lực của mình Điều đó cónghĩa là người học phải chứng minh mức độ nắm vững và làm chủ các kiếnthức, kỹ năng (được gọi là năng lực); huy động tổng hợp mọi nguồn lực (kinhnghiệm, kiến thức, kĩ năng, hứng thú, niềm tin, ý chí, ) trong một môn học haybối cảnh nhất định, theo tốc độ riêng của mình

Trong đó, Hành trình "cùng em dạy - học văn bản" theo định hướng phát triển năng lực dành cho học sinh lớp 9 ở trường THCS Cẩm Thạch, huyện Cẩm Thủy được hiểu một cách đơn giản là giáo viên để học sinh được

thực hiện nhiệm vụ học tập của mình trong một khoảng thời gian, một hoạt độngnào đó của quá trình học tập trên lớp thể hiện cụ thể trong bốn hoạt động: mởđầu, hình thành kiến thức, luyện tập và vận dụng Ở các hoạt động này, khi họcsinh thực hiện thì giáo viên tạm thời rời bỏ bục giảng để học sinh được đứnglớp, được điều khiển lớp học còn giáo viên sẽ trở thành chuyên gia hỗ trợ nhậnxét chốt lại vấn đề cuối cùng Đối tượng học sinh tham gia hành trình này là cảlớp Giáo viên sẽ phân công nhiệm vụ phù hợp với từng đối tượng học sinh để

em nào cũng có cơ hội được thể hiện, được rèn luyện và trưởng thành

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm

Trường THCS Cẩm Thạch mà tôi đang công tác là ngôi trường có cơ sởvật chất tương đối đảm bảo cho công tác dạy học của thầy và trò Nhà trườngluôn đặt chất lượng dạy học lên hàng đầu, bất cứ khối lớp nào cũng được xem là

“toa tàu quan trọng” trên chuyến tàu giáo dục đang lăn bánh Tổ, nhóm chuyênmôn tích cực áp dụng các phương pháp dạy học mới với mong muốn chất lượngdạy học ngày càng được nâng cao hơn Việc đổi mới phương pháp dạy học vàứng dụng công nghệ thông tin rất được chú trọng

Trang 5

Bản thân tôi rất yêu nghề và luôn tìm tòi những phương pháp dạy họcphù hợp với đối tượng học sinh Tôi hiểu đối với môn Ngữ văn, giáo viên khôngchỉ phải đặt trái tim của mình vào mỗi giờ dạy để thăng hoa cùng những cungbậc cảm xúc văn chương mà còn phải có “cái đầu lạnh” để lựa chọn cách dạyhọc phù hợp với từng kiểu bài Bên cạnh đó, học sinh của trường nhìn chungngoan, có ý thức cố gắng trong học tập, sẵn sàng tiếp nhận nhiệm vụ giáo viêngiao và hướng dẫn

Song, ngoài những mặt thuận lợi đó, tôi nhận thấy vẫn còn nhiều tồn tại.Mặc dù nhà trường chú trọng đến công tác đổi mới phương pháp dạy họcnhưng việc rèn luyện những kĩ năng như giao tiếp, hợp tác, tự tin, tự chủ, giảiquyết vấn đề…ở học sinh vẫn chưa có hiệu quả rõ nét Có những em học tốtnhưng thiếu năng lực giao tiếp, thiếu tự tin khi đứng trước đông người Cơ bản,mọi phương pháp đang được chú trọng trên lớp học chứ ít giáo viên giao nhiệm

vụ về nhà cho học sinh, vì thế học sinh chưa có cơ hội được thể hiện bản thân,chưa được tự mình khám phá văn bản lớn

Hơn nữa, do sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ và các

ngành giải trí đã khiến các em bị cuốn theo Từ đó, một bộ phận không nhỏ học

sinh ngày càng có xu hướng không thích học văn vì cho rằng đây là môn họcthuộc, dài, khó học

Mặt khác, lớp 9 là lứa tuổi trưởng thành mạnh mẽ về thể chất và tâm lí,thích tìm hiểu những điều mới mẻ nhưng lại chưa chuyên tâm thực sự vào họctập là việc học tập Thế giới mà các em tò mò khi lên mạng và ở nhà làfacebook, zalo, phim ảnh, trò chơi…, các em bị mạng xã hội “quyến rũ”; nhiềuhọc sinh lợi dụng mạng xã hội, sách tham khảo để đối phó khi làm bài tập; nhiều

em chưa thật sự mạnh dạn, không dám trình bày ý kiến của mình vì sợ sai cácbạn chê cười nên kết quả học tập chưa xứng tầm

Trên cơ sở thực trạng như vậy, tôi tiến hành khảo sát mức độ tích cực, yêuthích khi học môn Ngữ văn của học sinh lớp 9 vào đầu năm học 2020 – 2021 vàthu được kết quả như sau:

để cải thiện thực trạng học văn hiện nay của học sinh

Không những vậy, tôi còn tiến hành khảo sát mức độ năng lực của họcsinh trước khi áp dụng đề tài:

Năng lực Thành thạo, nhuần nhuyễn Chưa thành thạo

Trang 6

Nhìn vào bảng khảo sát về mức độ thành thạo của học sinh ở các năng lựccần đạt của chương trình giáo dục phổ thông mới, ta thấy được rằng tỷ lệ học sinhthành thạo, nhuần nhuyễn các năng lực chưa đạt yêu cầu Rõ ràng, học sinh cầnphải trau dồi nhiều hơn nữa để rèn luyện các kỹ năng cần đạt ở tỷ lệ cao hơn.

Bản thân tôi, qua quá trình nghiên cứu, tìm hiểu và thử nghiệm, đã nhận

ra rằng nếu giáo viên biết cách vận dụng phương pháp và kĩ thuật dạy học tíchcực, biết khai thác tiềm năng của học sinh thì việc đáp ứng phát triển năng lựchọc sinh trong dạy học Ngữ văn sẽ có tính khả thi Vì vậy, tôi đã chọn đề tài:

Hành trình "cùng em dạy - học văn bản" theo định hướng phát triển năng lực dành cho học sinh lớp 9 ở trường THCS Cẩm Thạch, huyện Cẩm Thủy để

góp một tiếng nói trong việc nâng cao chất lượng dạy học

2.3 Các giải pháp đã áp dụng để giải quyết vấn đề

Để thực hiện đề tài Hành trình "cùng em dạy - học văn bản" theo định

hướng phát triển năng lực dành cho học sinh lớp 9 ở trường THCS Cẩm Thạch,

huyện Cẩm Thủy, tôi đặt ra các yêu cầu như sau:

- Việc thiết kế nhiệm vụ cho học sinh phải tùy theo mức độ và đối tượng, để đạt được yêu cầu tất cả học sinh đều có cơ hội để thể hiện và rèn luyện Mỗi

việc thực hiện nhiệm vụ học tập này phải đạt đến tính toàn diện, tính hợp tác vàtính tự chủ

- Cụ thể, nhiệm vụ học tập phải giúp học sinh phát huy thể hiện được một số

năng lực kỹ năng nào đó và đạt được mục tiêu học tập về kiến thức Nhiệm vụ

học tập phải bám sát thực tế ngữ liệu sách giáo khoa, có tính kết nối học sinh,tạo sự say mê hứng thú trong học tập, giúp các em áp dụng được kiến thức kĩnăng trong sách giáo khoa và ứng dụng điều đó để giải quyết những vấn đề gắnliền với thực tế cuộc sống Thông qua đó, các em sẽ được rèn luyện kỹ năng vàhình thành những năng lực cần thiết Vì thế, tùy vào từng nhiệm vụ học tập màgiáo viên sẽ giao cho cá nhân học sinh nhóm lớn hoặc nhóm nhỏ để ai cũng cóthể chạm đến kiến thức và trưởng thành

- Mỗi em đều có những điểm mạnh, điểm yếu khác nhau nên yêu cầu về

nhiệm vụ học tập cần được xây dựng dựa trên cơ sở cá nhân hóa mang tính thiết

thực, gần gũi tạo cơ hội cho học sinh, đồng thời phải phù hợp với đặc điểm tâmsinh lý lứa tuổi cũng như đặc điểm riêng của từng em

- Khi giao nhiệm vụ phải cụ thể, hệ thống câu hỏi có tính gợi mở và dẫn dắt.Giáo viên luôn sẵn sàng hỗ trợ trong quá trình học sinh thực hiện nhiệm vụ ởnhà hoặc trên lớp để có sự điều chỉnh hợp lý Đặc biệt, trong thời đại này, giáoviên cần khuyến khích học sinh ứng dụng công nghệ thông tin để hỗ trợ cho việchoàn thành nhiệm vụ của các em Công nghệ thông tin không chỉ giúp các em cóthể tiếp cận với sự hiện đại của khoa học công nghệ mà đó chính là nền tảng,hành trang để sau này khi bước vào cuộc sống thực tế các em có những cái vốnban đầu để không bị bỡ ngỡ Và các giải pháp được tôi sử dụng trong đề tài cụthể như sau:

2.3.1 Giải pháp 1: Giáo viên tiến hành xây dựng các cấp độ để thực hiện “hành trình cùng em dạy – học văn bản”

Cấp độ 1: Bắt chước và làm theo

Trang 7

Đây là cấp độ dễ nhất để học sinh bước đầu làm quen với việc thực hiệnnhiệm vụ trong vai trò là một giáo viên trên lớp Thời gian các em ngồi trên ghếnhà trường dưới vai trò là một học sinh đã rất dài, được chứng kiến phong cáchcủa rất nhiều thầy cô khi đứng trên bục giảng giảng dạy nhưng các em chưa từngmột lần đóng vai được làm thầy, làm cô để truyền đạt kiến thức cho nhữngngười ngồi dưới Và tôi đã trao cho các em cơ hội đó Nội dung kiến thức tôi đãchuẩn bị sẵn, thay vì giáo viên giảng dạy như lâu nay thì tôi hướng dẫn cho họcsinh thực hiện nhiệm vụ đó Đối với nhiệm vụ nhỏ tôi sẽ ưu tiên những bạn họcsinh có lực học Trung bình - Khá và sự nhanh nhạy, tự tin chưa thật tốt Đối vớinhiệm vụ khó hơn, tôi yêu cầu học sinh kết hợp với nhóm để chuẩn bị kỹ càngmột chút trước khi lựa chọn đại diện lên thực hiện nhiệm vụ.

Cấp độ 2: Giáo viên thiết kế bài dạy, học sinh thực hành

Ở cấp độ này, tôi yêu cầu cao hơn một chút đó là cùng với nhiệm vụ học tập

nhưng giáo viên chỉ là người nêu ý tưởng, cách thức thực hiện còn học sinh sẽ

là người trực tiếp thực hiện Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ giáo viên sẽ

tương tác hỗ trợ để nhiệm vụ được hoàn thành

Cấp độ 3: Giáo viên cố vấn, học sinh thực hành.

Đến giai đoạn này, học sinh sẽ tự nêu ý tưởng, lựa chọn cách thức hoạt động

để thực hiện nhiệm vụ, giáo viên góp ý để quyết định ý tưởng sau đó học sinh

thực hiện nhiệm vụ ở nhà và trên lớp

Cấp độ 4: Học sinh chủ đạo, giáo viên đúc kết.

Đây là cấp độ cao nhất với những thử thách và khó khăn bắt buộc học sinhphải thực hiện được qua một quá trình rèn luyện ở ba cấp độ trên Khi đạt đếncấp độ này thì học sinh có quyền lựa chọn cách thức để thực hiện nhiệm vụ màgiáo viên nêu ra sau đó các em chủ động thực hiện nhiệm vụ theo các bước màkhông cần sự hỗ trợ của giáo viên Chỉ đến khi đến lớp trình bày, giáo viên mới

là người cuối cùng nhận xét và chốt lại vấn đề

Chúng ta thấy rằng, ở bốn cấp độ này học sinh đã trở thành chủ thể hoạtđộng, được làm việc một cách tích cực, trách nhiệm và có quyền được sáng tạo.Nói như thế không có nghĩa là vai trò của giáo viên trở nên mờ nhạt Ở tất cả

mọi hoạt động và nhiệm vụ của học sinh thực hiện trong quá trình học tập, giáo viên đóng vai trò là chuyên gia cấp cao để có thể hỗ trợ cho các em bất cứ lúc

nào, khi thực hiện nhiệm vụ trên lớp hay ở nhà, sẽ tháo gỡ những khó khăn,vướng mắc, những bất đồng quan điểm giữa các thành viên trong nhóm để chonhiệm vụ có thể diễn ra một cách suôn sẻ và hợp lý nhất Mặc dù đã chuyển đổi

vai trò giáo viên từ chủ thể sang người hướng dẫn nhưng người giáo viên thực

sự vẫn là một thuyền trưởng, vẫn là người khơi gợi, vẫn là người định hướng cho con tàu của lớp học đi đúng hướng, lướt nhanh và về bến đúng hẹn.

2.3.2 Giải pháp 2: Giáo viên thiết kế nhiệm vụ cho học sinh và lập bảng đánh giá mức độ hiệu quả khi học sinh thực hiện nhiệm vụ dựa trên nội dung các hoạt động học tập

3.3.1 Các bước thiết kế nhiệm vụ cho học sinh

Bước 1 Lựa chọn nhiệm vụ đáp ứng được mục tiêu dạy học

Bước 2 Lựa chọn, giao nhiệm vụ cụ thể cho cá nhân, nhóm lớn, nhóm nhỏ

Trang 8

Bước 3 Gợi dẫn, hỗ trợ để hs thực hiện nhiệm vụ

Bước 4 Trình bày nhiệm vụ trên lớp

Bước 5 Tiến hành nhận xét, góp ý, đánh giá, chốt kiến thức

3.3.2 Bảng rubick đánh giá mức độ hiệu quả khi học sinh thực hiệnnhiệm vụ (Căn cứ vào kết quả khi học sinh thực hiện, ta sẽ điền số liệu vàobảng)

Muốn thực hiện được phần khởi động tốt, đầu tiên, giáo viên phải xác địnhđược mục tiêu của phần khởi động là gì, sau đó lựa chọn hình thức khởi độngphù hợp và giao nhiệm vụ cụ thể cho học sinh chuẩn bị ở nhà Lâu nay, phầnkhởi động 100% thường do giáo viên chuẩn bị, khi đến lớp giáo viên sẽ hướngdẫn học sinh hoặc yêu cầu các em làm theo giáo viên định hướng, để rồi từ đódẫn vào bài học mới Nhưng hôm nay tôi đã cho học sinh tự thực hiện khởi độngtheo các giai đoạn như đã trình bày ở trên

Ở thời gian đầu, tôi sẽ chuẩn bị nội dung phần khởi động Khi đến lớp, thay

vì giáo viên điều khiển, tôi sẽ hướng dẫn học sinh tự điều khiển Đầu tiên, tôi ưutiên học sinh mạnh dạn tích cực học tốt lên để thực hiện nhiệm vụ giống nhưmột giáo viên Và khi được làm chủ trong một khoảng thời gian nào đó trên bụcgiảng, học sinh sẽ rèn luyện được năng lực tự tin và ứng xử các tình huống xảy

ra trong quá trình học tập, trong cuộc sống

Sau đó, tôi sẽ sẽ trao đổi trực tiếp để học sinh hiểu rằng với nội dung phầnkhởi động các bạn có thể chuẩn bị ở nhà và đến lớp thực hiện thay vì cô chuẩn

bị Tôi hướng dẫn học sinh rất kỹ các bước để chuẩn bị được một nội dung khởiđộng cho một tiết học Bước đầu các em sẽ còn những bỡ ngỡ nhưng theo thờigian dần dần tạo thành kỹ năng, kỹ xảo khi tiếp nhận nhiệm vụ Chỉ cần giáoviên gợi ý, học sinh sẽ làm rất tốt Thậm chí các em có nhiều ý tưởng sáng tạođổi mới cuốn hút được các bạn, thuyết phục được cô giáo

Các hình thức để sử dụng trong khởi động tuy đa dạng phong phú nhưng nó

dễ thực hiện và sẽ gặp lại ở những văn bản có cùng chủ đề Vì vậy, nếu giáo viênhướng dẫn học sinh cụ thể quy trình thì các em sẽ dễ dàng độc lập thực hiệndưới sự hỗ trợ của giáo viên mà không cần giáo viên phải trực tiếp làm Sự phát

Trang 9

triển của công nghệ thông tin chính là một người “thầy” hỗ trợ học sinh bêncạnh giáo viên Các em học sinh vô cùng sáng tạo và trách nhiệm, chỉ cần giáoviên khơi mào thì mọi việc sẽ rất trôi chảy.

Tôi sẽ cùng học sinh ngồi lại để lựa chọn những bài học nào có thể sử dụng

âm nhạc, bài nào sử dụng trò chơi, bài nào sử dụng phim ngắn, video, hình ảnh,bài nào sử dụng tình huống có vấn đề, kịch ngắn, bài nào sử dụng thông tin gâysốc và nhóm lại thành từng nhóm bài cho học sinh, để khi chuẩn bị nội dungkhởi động các em sẽ dễ dàng lựa chọn cách thức phù hợp mà không bị bối rối

Cụ thể, đối với phần văn bản thì âm nhạc là lựa chọn thích hợp nhất, dễ dàngnhất đối với học sinh Ngoài ra, những bộ phim ngắn, những video ngắn, nhữnghình ảnh có cùng chủ đề cũng là một lựa chọn phù hợp Với một số văn bản cónhiều kiến thức và dễ dàng biến thành kịch bản, các em có thể lựa chọn khởiđộng bằng việc sân khấu hóa một đoạn kịch ngắn

Có những bài học sử dụng được nhiều hình thức khởi động khác nhau thì tôiyêu cầu học sinh lựa chọn hình thức nào thuận lợi nhất cho sự chuẩn bị nhiệm

vụ học tập của các em khi vận dụng Tôi chỉ đưa ra yêu cầu là khởi động phảiđảm bảo được mục tiêu cần đạt hướng đến nội dung bài học và tạo được sự vui

vẻ hứng khởi cho các bạn trong lớp

do Trần Hoànphổ nhạc

Một đoạnvideo về mùa

xứ Huế hoặccủa đất nước

Diễn mộtđoạn kịch

Hái lộc mùaxuân

b Hoạt động hình thành kiến thức

Đây là phần trọng tâm của bài học, đòi hỏi phải vận dụng nhiều kỹ năng vànăng lực nên hoạt động này giáo viên cần linh hoạt lựa chọn những nội dungkiến thức phù hợp để giao việc cho học sinh

Có một điều chắc chắn rằng, kiến thức bài học không thể giao khoán 100%cho học sinh hoạt động từ đầu đến cuối Phải có những giai đoạn nghỉ cho họcsinh được phản biện lẫn nhau, cho giáo viên được tư vấn trong vai trò là chuyêngia cấp cao rồi chốt lại vấn đề, ghi bảng Có như thế nội dung bài học mới đạtđến chiều sâu

Tương tự như phần khởi động, đối với hoạt động hình thành kiến thức, cácbài học cũng có những mô típ nhất định mà học sinh cần được giáo viên chỉ ra

để các em được “học một hiểu mười” Nói như vậy không quá khoa trương nếugiáo viên thật sự muốn tạo cho học sinh một môi trường làm chủ trong quá trìnhdạy học của mình Lâu nay, việc thực hiện dạy học cũng đã định hình sẵn những

mô típ nhất định nhưng do giáo viên không khái quát, không xâu chuỗi và khônghướng dẫn cho học sinh nhìn thấy được điều đó, vì vậy, mỗi bài học trôi qua,

Trang 10

mỗi nội dung kiến thức đã học bị xé lẻ, các em khó có thể khái quát lại thànhmột lối mòn mà vốn dĩ nó có.

Với công việc này, lúc đầu sẽ vô cùng vất vả, mất nhiều thời gian và làmchậm tiến độ dạy học, rất khó để theo đúng kế hoạch giáo dục, nhưng tôi đã xácđịnh muốn thay đổi phải “trả giá”, “ không có nỗi đau rứt lá sao có được câyxanh” ? Vì thế tôi đã hướng dẫn học sinh rất kỹ

Thứ nhất, cần thấy rằng, nhiệm vụ trong phần hoạt động hình thành kiến

thức luôn đa dạng về nội dung bài học, vì thế bắt buộc giáo viên phải chia nhóm:

nhóm lớn thực hiện những nhiệm vụ phức tạp, nhóm vừa thực hiện những nhiệm

vụ đơn giản hơn Có một vài hoạt động cá nhân tương tác vấn đáp giữa giáo viên

và học sinh thì tôi vẫn thực hiện trong quá trình lên lớp

Thứ hai, về đối tượng, tôi cho phép các em chia nhóm theo ý muốn, miễn

sao phù hợp với các em về tính cách, sở thích, sở trường, quan điểm để thúc

đẩy quá trình hợp tác nhóm một cách thuận lợi nhất Sau khi các em đã thốngnhất chia nhóm, mỗi nhóm gồm bao nhiêu thành viên, tôi sẽ là người duyệt danhsách cuối cùng và ổn định với các em Nhóm này coi như là một đội cố địnhxuyên suốt cả một quá trình học, vì thế các em phải hỗ trợ giúp đỡ lẫn nhau vì

sự trưởng thành của mỗi cá nhân là hình ảnh, là kết quả của cả một tập thể, sựtiến bộ của mỗi cá nhân đánh giá được là sự tiến bộ của cả nhóm Học sinh cótrách nhiệm hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các thành viên trong nhóm, tận dụngnhững thế mạnh của mỗi cá nhân để tạo nên sức mạnh của cả một tập thể

Thay vì yêu cầu học sinh trả lời những câu hỏi trong phần đọc hiểu ở sáchgiáo khoa, tôi đã thiết kế thành những nhiệm vụ ngắn gọn hơn, cụ thể hơn, kháiquát hơn để học sinh dễ dàng thực hiện theo nhóm, theo đúng tiến trình của phần

hình thành kiến thức một văn bản Những nhiệm vụ tôi giao sẽ chia đề, quay vòng để các nhóm được trải nghiệm và đảm bảo sự công bằng, phát triển được

toàn diện những kỹ năng cần thiết khi tiếp cận một văn bản

Cần phải có một lưu ý rằng việc tìm hiểu toàn bộ văn bản là nhiệm vụ chungcủa mỗi cá nhân, nghĩa là các em phải đọc văn bản và tìm hiểu được những vấn

đề cơ bản của tác phẩm đó Còn sản phẩm cụ thể thì do giáo viên giao nhiệm vụ

Có một số nhiệm vụ phức tạp được chia cho hai nhóm để có sự so sánh, đối chiếu

Ví dụ: Khi tiếp cận văn bản “Chuyện người con gái Nam xương”, ở nhiệm

vụ tìm hiểu tác giả, tác phẩm giáo viên chỉ cần giao cho một nhóm thực hiện, đối với nhiệm vụ tìm hiểu về nhân vật Vũ nương - nhân vật chính của truyện và

kiến thức cơ bản, trọng tâm văn bản cũng chủ yếu ở nhân vật này nên giáo viêncần chia nhỏ nhiệm vụ ra và giao cho các nhóm có thể thực hiện cùng nhiệm vụ

để có sự so sánh, đối chiếu Cụ thể:

Vẻ đẹp của Vũ Nương (2 nhóm)

Nỗi bất hạnh và bi kịch của Vũ Nương (2 nhóm)

Việc thực hiện trả lời câu hỏi theo Ngữ liệu sách giáo khoa học sinh sẽ dễdàng làm được vì các em cũng có những tài liệu hỗ trợ nhất định trong quá trìnhchuẩn bị bài ở nhà Và để rút ra kết luận, tôi gợi ý cho học sinh hãy xem phầnghi nhớ để có một kết luận vừa khoa học vừa chính xác

Trang 11

d Hoạt động vận dụng

Mục đích của hoạt động vận dụng là giúp học sinh sử dụng kiến thức, kĩ

năng đã học để giải quyết các vấn đề, nhiệm vụ thực tế diễn ra trong nhà trường,gia đình và cuộc sống xung quanh Tôi tích cực cho học sinh ứng dụng côngnghệ thông tin vào hoạt động này, vì nó giúp:

- Học sinh nghiên cứu, tìm ra cái mới theo sự hiểu biết của mình, kíchthích sự phát triển đa giác quan của học sinh thông qua hình ảnh, video, âmthanh,…

- Phát triển tư duy, khả năng tưởng tượng, tăng cường nhận thức, giúp họcsinh dễ dàng nắm bắt vấn đề

- Học sinh có cơ hội tiếp cận dễ dàng với nguồn dữ liệu tri thức khổng lồ,mang thế giới tri thức vào trong tầm tay, góp phần hình thành năng lực học tập

- Việc học tập và sáng tạo trở nên thú vị, dễ dàng hơn, giúp khơi gợi hứngthú, trí tò mò của học sinh, phát huy tính hợp tác, tự giác trong học tập

Chẳng hạn như hướng dẫn học sinh sưu tầm, sử dụng vi deo, phim ngắn, phóng sự, bài thơ, bài hát, câu chuyện, thông tin nóng bỏng có chủ đề, nội dung gần gũi với bài học vừa diễn ra để thực hiện nhiệm vụ mới

Ví dụ 1: Khi học bài “Chiếc lược ngà”, giáo viên cho học sinh xem câu

chuyện “Người cha câm” (quà tặng cuộc sống) rồi đặt ra câu hỏi:

1/ Em rút ra những bài học gì cho mình về thái độ đối với cha mẹ trongcuộc sống hàng ngày?

2/ Hãy viết đoạn văn cảm nhận ý nghĩa của tình phụ tử trong cuộc đời em.3/ Hãy tìm những bài hát, bài thơ ca ngợi tình mẹ, tình cha để chép vào sổtay

Ví dụ 2: Khi học bài “Đồng chí”, “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”,

“Những ngôi sao xa xôi”, giáo viên yêu cầu học sinh sưu tầm và xem đoạn

phóng sự “Ranh giới” của Đài truyền hình Việt Nam về đại dịch Covid - 19 và

những nỗ lực không mệt mỏi của đội ngũ y bác sĩ, của chính quyền các cấp, sự

sẻ chia trong tinh thần dân tộc để giao nhiệm vụ cho học sinh:

Trang 12

1/ Em cảm nhận như thế nào về sự khủng khiếp của đại dịch Covid - 19

và tinh thần kiên cường của dân tộc Việt Nam?

2/ Tinh thần ấy có phải là truyền thống đã có từ bao đời nay của dân tộcta? Qua đó, em rút ra cho bản thân bài học gì về bản lĩnh, ý chí tự lực, tự cườngtrước khó khăn gian khổ trong cuộc sống?

3/ Về nhà hãy sưu tầm một số câu chuyện lịch sử thể hiện sự kiên cườngchống lại kẻ thù trong các giai đoạn lịch sử

Giáo viên cần có thái độ tích cực, khích lệ khi nhận xét bài làm của cácnhóm, việc học sinh làm không hoàn chỉnh đó không phải là vấn đề mà giáoviên cần chú ý vì để cho cả tập thể lớp hào hứng đến cuối giờ đã là một thắng lợiđối với tiết học

Một số hoạt động vận dụng có thể thực hiện trên lớp nhưng một số nhiệm vụyêu cầu thời gian nhiều hơn thì giáo viên sẽ giao về nhà cho học sinh, qua đây sẽhướng dẫn các em sử dụng công nghệ thông tin để hỗ trợ hoàn thành nhiệm vụtheo nhóm hoặc cá nhân

Ví dụ 1: Sau khi học văn bản “Lặng lẽ sa Pa”, giáo viên tổ chức cuộc thi

thiết kế porter quảng bá về món ăn truyền thống, vẻ đẹp quê hương em, yêu cầuhọc sinh cần có hình ảnh, chữ màu thì các em có thể tham khảo trên mạng

Ví dụ 2: Sưu tầm video về hình ảnh người dân bám biển trong thời kì này khi

học văn bản “Đoàn thuyền đánh cá” để thấy được tình yêu, sự gắn bó với biển,

với quê hương của nhân dân ta và những nỗ lực bảo vệ biển đảo

Ví dụ 3: Sưu tầm một câu chuyện ca ngợi tình cảm gia đình, tình bạn bè,

đồng đội khi học văn bản có cùng chủ đề…

*Giáo án minh hoạ cụ thể:

VĂN BẢN: MÙA XUÂN NHO NHỎ (Thanh Hải)

I Mục tiêu

1 Về kiến thức

a Đọc- hiểu

- Hiểu vài nét về tác giả, tác phẩm

- Cảm nhận được xúc cảm của tác giả trước mùa xuân của thiên nhiên

- Biết được thể thơ, phương thức biểu đạt

- Hiểu được giá trị nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ

- Có kĩ năng vận dụng phương pháp học tập vào Đọc - Hiểu những tác phẩmthơ khác

- Nêu nhận xét về nội dung và nghệ thuật của đoạn thơ.

- Cảm nhận được phần trình bày của giáo viên và bạn bè

Trang 13

- Biết tham gia thảo luận trong nhóm nhỏ về một vấn đề cần có giải phápthống nhất, biết đặt câu hỏi và trả lời, biết nêu một vài đề xuất dựa trên các ýtưởng được trình bày trong quá trình thảo luận.

2 Về năng lực

a Năng lực chung:

- Năng lực tự chủ và tự học

- Năng lực giao tiếp và hợp tác

- Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo

b Năng lực đặc thù:

-Năng lực đọc hiểu văn bản

- Năng lực tạo lập văn bản.

- Năng lực cảm thụ văn học

c Năng lực vận dụng kĩ năng sống:

+ Kỹ năng giao tiếp: Trình bày, trao đổi về sự thể hiện vẻ đẹp của mùa

xuân thiên nhiên

+ Kỹ năng suy nghĩ sáng tạo: Bày tỏ nhận thức và hành động của mỗi cánhân để đóng góp vào cuộc sống

3 Về phẩm chất

- Học sinh có hứng thú học tập, tích cực tham gia các hoạt động học tập

để tiếp thu kiến thức

- Có ý thức tu dưỡng, cống hiến, biết sống vì cuộc đời chung

- Có tình yêu thiên nhiên đất nước

II Thiết bị dạy học và học liệu

- Học liệu: Ngữ liệu/Sách giáo khoa, phiếu học tập

- Thiết bị: Máy tính, máy chiếu

III Tiến trình dạy học

1 Hoạt động 1: Xác định vấn đề

a) Mục tiêu:

- Tạo tâm thế hứng thú cho học sinh

- Kích thích học sinh tìm hiểu về mùa xuân, cảm xúc của người nghệ sĩ

về mùa xuân

- Hoạt động cá nhân, hoạt động cả lớp

b) Nội dung hoạt động:

- Hoạt động cá nhân, cả lớp

- Phương pháp nêu vấn đề

c) Sản phẩm học tập:

- Câu trả lời/chia sẻ của học sinh bằng ngôn ngữ

- Học sinh trả lời miệng

d) Tổ chức hoạt động:

*Chuyển giao nhiệm vụ

Nhóm 1 thực hiện nhiệm vụ của mình

Đại diện nhóm 1:

Các bạn hãy trả lời các câu hỏi sau để nhận một phần quà

*Thực hiện nhiệm vụ

Trang 14

Câu 1: Hai câu thơ sau trích từ bài thơ nào? Của ai?

“Rằm xuân lồng lộng trăng soi Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân”

Câu 2: Bức tranh sau đây vẽ về chủ đề gì?

Chú thích: Tranh vẽ mùa xuân (Sưu tầm)

Câu 3: Những hình ảnh dưới đây gợi em nhớ đến văn bản nào đã học ở lớp 7?

Ngày đăng: 09/06/2022, 22:18

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w