1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(SKKN 2022) Kinh nghiệm làm phần liên hệ của bài nghị luận văn học trong đề thi học sinh giỏi Ngữ văn 9

21 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề (SKKN 2022) Kinh nghiệm làm phần liên hệ của bài nghị luận văn học trong đề thi học sinh giỏi Ngữ văn 9
Trường học Trường THCS & THPT Ngôi Trường Mơ Ước
Chuyên ngành Ngữ văn
Thể loại Sáng kiến kinh nghiệm
Năm xuất bản 2022
Thành phố Thanh Hóa
Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 262,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Không chỉ vậy, bộ môn Ngữ văn THCS còn gặp thêm trở ngại nữa là đề bài nghị luận về tác phẩm văn học luôn gắn với việc chứng minh một vấn đề thuộc lí luận vănhọc qua tác phẩm trong chươn

Trang 1

MỤC LỤC

Trang

1 MỞ ĐẦU

1.1 Lí do chọn đề tài 03

1 2 Mục đích nghiên cứu 04

1 3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 04

1 4 Phương pháp nghiên cứu 05

2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 2.1 Cơ sở lí luận của SKKN 05

2.1.1 Các văn bản chỉ đạo 05

2.1.2 Các khái niệm cơ bản 06

2 2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng SKKN 07

2.3 Giải pháp sử dụng để giải quyết vấn đề 09

2.3.1 Trang bị kiến thức về lí luận văn học 09

2.3.1.1 Mục tiêu 09

2.3.1.2 Cách thực hiện 10

2.3.2 Rèn luyện kĩ năng xây dựng luận điểm 12

2.3.2.1 Mục tiêu 12

2.3.2.2 Cách thực hiện 12

2.3.3 Củng cố kiến thức tác phẩm lớp 8 theo hướng cô đọng, súc tích 14

2.3.3.1 Mục tiêu 14

2.3.3.2 Cách thực hiện 15

2.3.4 Thực hiện phần liên hệ theo từng dạng đề 16

2.3.4.1 Mục tiêu 16

2.3.4.2 Cách thực hiện 16

2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm 18

3 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 3.1 Kết luận 19

3.2 Kiến nghị 20

Trang 2

1. PHẦN MỞ ĐẦU

Trang 3

1.1 Lí do chọn đề tài

Hiền tài là nguyên khí quốc gia Cô đọng, hàm súc và cực kỳ đúng đắn, câu nói

đã khẳng định vai trò quan trọng của việc bồi dưỡng nhân tài Và công tác bồi dưỡnghọc sinh giỏi các cấp – đã được thực hiện từ bao lâu nay – thực sự đã góp phần bồidưỡng nên những nhân tài cho đất nước Kỳ thi học sinh giỏi quốc gia, học sinh giỏicấp tỉnh, cấp huyện dành cho khối THPT và THCS luôn nhận được nhiều sự quan tâmcủa các cấp, các ngành ở tất cả các tỉnh, thành phố, huyện thị Tại tỉnh Thanh Hóa –mảnh đất địa linh nhân kiệt, công tác bồi dưỡng và thi chọn học sinh giỏi cấp tỉnh vẫnluôn được tổ chức thường niên dẫu gặp nhiều khó khăn bởi dại dịch Covid – 19 (trừnăm học 2019 – 2020 không tổ chức thi)

Trong các văn kiện của Đảng và Nhà nước về đổi mới chương trình, sách giáokhoa giáo dục phổ thông như Quyết định 29, Nghị quyết 88 và quyết định 404 đềuxác định mục tiêu đổi mới Chương trình giáo dục phổ thông là góp phần chuyển nềngiáo dục nặng về truyền thụ kiến thức sang nền giáo dục phát triển toàn diện phẩmchất và năng lực của người học Chương trình giáo dục phổ thông năm 2018 đã xácđịnh mục tiêu chung của chương trình Ngữ văn bậc THCS là hình thành và phát triểncho học sinh những năng lực cốt lõi cùng với những năng lực đặc thù, phát hiện, bồi

dưỡng năng lực đặc biệt (năng khiếu) của học sinh: năng lực ngôn ngữ và năng lực văn học Như vậy, Ngữ văn là bộ môn phát huy được thế mạnh của mình khi có hiệu

quả trong việc hình thành, phát triển phẩm chất, năng lực của người học và bồi dưỡnghọc sinh giỏi, giúp các em phát triển năng lực đặc biệt của mình

Bồi dưỡng học sinh giỏi thực sự là một công việc đòi hỏi nhiều công sức, nhiệttình của học sinh, đội ngũ giáo viên, quản lí nhà trường cũng như hệ thống chính trị

có liên quan Thành tích các em đạt được trong các kỳ thi góp phần một phần quantrọng quyết định sự tồn tại, phát triển của sự nghiệp giáo dục của một trường học, mộthuyện một tỉnh và cao học sinh giỏi quốc hơn là một quốc gia Bồi dưỡng học sinh các môn đã khó, với bộ môn Ngữ văn, sự khó khăn ấy cònnhân lên gấp bội phần Do xu hướng xã hội cùng với cái khó của bộ môn nên rất ítphụ huynh và học sinh lựa chọn Ngữ văn làm môn thi học sinh giỏi Thậm chí cónhững học sinh kiên quyết không tham gia đội tuyển – dù bản thân có tố chất, đượcgiáo viên đánh giá cao, để lựa chọn một bộ môn tự nhiên chấp nhận bị loại ở vòngchọn danh sách chính thức đi thi với bộ môn đó Còn có cả những trường hợp các emrất thiết tha với môn học nhưng gia đình phản đối hay cả những sự thật đau lòng khicác em chọn Ngữ văn trong tình thế không thể thi các môn nào khác Vì vậy, đội

tuyển Văn dường như rơi vào tình trạng nhân tài như lá mùa thu

Không chỉ vậy, bộ môn Ngữ văn THCS còn gặp thêm trở ngại nữa là đề bài nghị luận về tác phẩm văn học luôn gắn với việc chứng minh một vấn đề thuộc lí luận vănhọc qua tác phẩm trong chương trình Ngữ văn 9 và liên hệ với tác phẩm của chươngtrình Ngữ văn 8, trong khi ở bậc học này, học sinh không được học lí luận văn học

Trang 4

một cách bài bản Từ năm học 2018 – 2019 đến nay, đề bài trong các kỳ thi chọn họcsinh giỏi Ngữ văn 9 cấp tỉnh của Thanh Hóa luôn xuất hiện dạng này Qua nhiều khókhăn, lạ lẫm ban đầu, giờ đây, giáo viên và học sinh đã quen với cách ra đề này songcũng vẫn còn nhiều vướng mắc Đó là bởi các nhận định lí luận văn học rất đa dạng,phức tạp; không chỉ chứng minh một nhận định, đề bài còn yêu cầu chứng minh cảhai nhận định Và khi chuyển sang phần liên hệ với tác phẩm lớp 8, rất nhiều học sinhcảm thấy bối rối vì không biết triển khai như thế nào, dẫn đến bị mất điểm phần này Dẫu phải đối mặt với nhiều khó khăn nhưng bộ môn Ngữ văn nói chung và côngtác bồi dưỡng học sinh giỏi Ngữ văn nói riêng lại rất quan trọng, cần thiết Vậy nên,

từ những lí do nêu trên cùng với vốn tích lũy trong thời gian công tác, tôi đã chọn

“Kinh nghiệm làm phần liên hệ của bài nghị luận văn học trong đề thi học sinh

giỏi Ngữ văn 9” làm đề tài sáng kiến kinh nghiệm của mình.

1.2 Mục đích nghiên cứu

Sáng kiến kinh nghiệm Kinh nghiệm làm phần liên hệ của bài nghị luận văn

học trong đề thi học sinh giỏi Ngữ văn 9 đề cập tới những tri thức cần thiết và cách

giải quyết phần liên hệ trong đề bài chứng minh nhận định lí luận văn học cho họcsinh Sáng kiến hy vọng có thể trang bị và hướng dẫn học sinh luyện tập được nhiều

kĩ năng trong khi làm dạng bài này; giúp các em thể hiện, hoàn thiện năng lực ngônngữ, năng lực văn chương của bản thân

Trong khuôn khổ có hạn của một sáng kiến kinh nghiệm, dựa vào kinh nghiệmchưa nhiều của bản thân trong quá trình bồi dưỡng học sinh giỏi cấp tỉnh; tôi mongngười đọc xem đây là một ý kiến nhỏ, góp tiếng nói chung trong việc nhận thức rõtầm quan trọng của việc dạy dạng bài chứng mình hai nhận định lí luận văn học nóiriêng và dạy học Ngữ văn nói chung Bài viết như một tài liệu tham khảo để các bạn

có thể lựa chọn thích hợp, áp dụng vào thực tế Còn riêng với bản thân, đề tài nàycũng là cơ hội để tôi được rèn luyện thao tác, kĩ năng nghiên cứu; củng cố thêm kinhnghiệm dạy học

Qua đề tài này, tôi cũng mong muốn sẽ nhận được những ý kiến đóng góp quýbáu, chân thành của các bạn đồng nghiệp - những giáo viên nhiệt tình, yêu nghề, luôntrăn trở vì sự nghiệp trồng người

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Dựa trên cơ sở thực tiễn của quá trình giảng dạy và việc nghiên cứu các tài liệu;sáng kiến kinh nghiệm thể hiện rõ đối tượng, phạm vi nghiên cứu là:

- Đối tượng nghiên cứu: Phần liên hệ trong dạng bài chứng minh nhận định lí luận văn học của đề bài học sinh giỏi Ngữ văn 9

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Thời gian nghiên cứu: từ năm học 2020 – 2021 đến năm học 2021 – 2022 + Khách thể nghiên cứu: học sinh đội tuyển Ngữ văn 9 cấp tỉnh huyện YênĐịnh

Trang 5

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành đề tài sáng kiến kinh nghiệm này, người viết đã kết hợp sử dụngnhiều phương pháp; trong đó có thể kể đến:

1.4.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết: Đây là một trong những phương pháp

đầu tiên, cơ bản giúp người viết có được cơ sở lí luận khoa học, chính xác cho vấn

đề Từ các nguồn tài liệu phong phú về bộ môn Ngữ văn, về công tác bồi dưỡng họcsinh giỏi, về lí luận văn học, về dạng bài chứng minh lí luận văn học, về phương phápdạy học, quan điểm đổi mới giáo dục , có thể lựa chọn những nội dung cần thiết,phục vụ cho ý tưởng đề tài

1.4.2 Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin: Phương

pháp này thực sự cần thiết để hoàn thành sáng kiến kinh nghiệm bởi đề tài có đượcxuất phát từ nhu cầu thực tế và hoàn thành để phục vụ thực tế Trong quá trình giảngdạy, người viết đã quan sát, thu thập thông tin liên quan tới đề tài

1.4.3 Phương pháp thống kê, xử lí số liệu: Phương pháp này được sử dụng để

xử lí các thông tin, số liệu có được từ những phương pháp trên

1.4.4 Phương pháp vấn đáp: vấn đáp, trò chuyện với học sinh để tìm hiểu về

mức độ nhận dạng, giải quyết đề bài của từng học sinh đội tuyển; từ đó đưa ra cáchđiều chỉnh, nâng cao chất lượng bài làm

1.4.5 Phương pháp thực nghiệm: thực nghiệm những biện pháp nhằm nâng cao

hiệu quả bài viết của học sinh về dạng bài chứng minh hai nhận định lí luận văn học

và so sánh kết quả trước và sau khi tiến hành thực nghiệm

2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHỆM

2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm

2.1.1 Các văn bản chỉ đạo

Sáng kiến kinh nghiệm đã dựa trên cơ sở nội dung của văn bản chỉ đạo sau:

- Công văn số 3280/BGDĐT-GDTrH được Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hànhngày 27/8/2020 về việc hướng dẫn các nội dung giảm tải, tinh giản trong chương trìnhhọc THCS và THPT

- Công văn số 3189/SGD&ĐT-KT&KĐCLGD ngày 05 tháng 11 năm 2021 củaGiám đốc Sở GD&ĐT Thanh Hóa về việc thi chọn học sinh giỏi lớp 12 THPT,BTTHPT, lớp 9 THCS năm học 2021 – 2022

- Kế hoạch Số: 580/PGDĐT, Phòng Giáo dục và Đào tạo Yên Định, ngày 22 tháng 12 năm 2020 hướng dẫn về công tác tham dự kỳ thi chọn HSG lớp 9 bậc THCS cấp Tỉnh năm học 2021 – 2022

- Công văn số 56 / PGDĐT Yên Định, ngày 22 tháng 02 năm 2021 V/v tổ chứcthi chọn đội tuyển HSG các môn văn hóa dự thi cấp tỉnh năm học 2021- 2022 và khảosát chất lượng HS mũi nhọn khối 6,7 cấp cụm năm học 2020-2021

Trang 6

- Kế hoạch Số 01/THCS LĐK của Hiệu trưởng Trường THCS Lê Đình Kiên,ngày 28 tháng 02 năm 2021 về công tác Bồi dưỡng HSG lớp 9 bậc THCS cấp Tỉnhnăm học 2021 – 2022 vòng I, II, III.

2.1.2 Các khái niệm cơ bản

Nghị luận về tác phẩm văn học là kiểu bài vô cùng quen thuộc đối với học sinh

đại trà cũng như đối với học sinh mũi nhọn lớp 9 Điểm khác biệt là: nếu học sinh đại

trà chỉ thực hiện những yêu cầu cảm nhận, suy nghĩ, phân tích về nhân vật trong tác

phẩm truyện hoặc đoạn thơ, bài thơ thì học sinh mũi nhọn phải thực hiện yêu cầuchứng minh nhận định lí luận văn học qua tác phẩm văn học lớp 9 và liên hệ với tácphẩm văn học lớp 8

Nghị luận về tác phẩm văn học là một kiểu bài nghị luận, yêu cầu người viết

trình bày được những nhận xét, đánh giá của bản thân về nội dung và nghệ thuật củatác phẩm văn học nào đó Những nhận xét, đánh giá này được xác lập qua việc lấynhững dẫn chứng từ tác phẩm và vận dụng sự hiểu biết của bản thân người viết mànêu lên những lí lẽ phân tích xác đáng

Lí luận văn học là bộ môn nghiên cứu văn học ở bình diện lí thuyết khái quát

nhằm tìm ra những quy luật chung nhất về văn học Trong đó bao gồm sự nghiên cứubản chất của sáng tác văn học, chức năng xã hội – thẩm mĩ của văn học, đồng thời xácđịnh phương pháp lí luận và phân tích văn học Các nhóm đối tượng chủ yếu của líluận văn học là chức năng của văn học, đặc trưng thể loại và quá trình văn học Theo

Lại Nguyên Ân: Lí luận bao giờ cũng có vai trò quan trọng đối với một nền văn học nói chung trong cái bề rộng và bề dày của nó, và nói riêng, trong mỗi giai đoạn phát triển văn học, khi có lắm vấn đề thực tiễn đặt ra, Lí luận chính là tiền đề, là nguyên liệu của nền văn học Như vậy, mở rộng ra, lí luận văn học cũng có vai trò quan trọng

nhất định trong việc dạy và học Văn Nắm chắc được lí luận văn học, giúp học sinhđịnh hướng đứng đắn hơn, chủ động hơn khi xây dựng luận điểm

Chứng minh nhận định lí luận văn học qua tác phẩm văn học đã hiện diện trongnhiều kỳ thi chọn học sinh giỏi Ngữ văn bậc THCS và THPT; các công văn hướngdẫn cấu trúc thi của SGD&ĐT Thanh Hóa luôn nêu rõ dạng đề này Vẻ “muôn hìnhvạn trạng” của nhận định lí luận văn học phải được cụ thể hóa, qua các tác phẩm

trong nhà trường Mỗi tác phẩm văn học là một công trình nghệ thuật ngôn từ do một

cá nhân hay một tập thể sáng tạo nên nhằm thể hiện những khái quát về cuộc sống, con người và biểu hiện tâm tư, tình cảm, thái độ của chủ thể trước thực tại bằng hình tượng nghệ thuật Tác phẩm văn học bao giờ cũng là hình ảnh chủ quan của thế giới

khách quan, mang tính lịch sử và đa nghĩa Học sinh phải nắm được nội dung và nghệthuật của tác phẩm và hiểu được lí luận văn học để xây dựng luận điểm phù hợp

Trong việc liên hệ với tác phẩm với 8, cần tường tận “Liên hệ là thao tác dùng các đặc điểm một đối tượng để làm nổi bật đặc điểm của một đối tượng khác (có những nét tương đồng) Như vậy tác phẩm lớp 8 được lựa chọn liên hệ cũng cần có điểm

Trang 7

chung với tác phẩm lớp 9 – ở đây là cùng thể hiện được nội dung nhận định lí luận

văn học và nếu tường đồng về nội dung thì càng thuận lợi Đây là dạng bài đòi hỏi tư

duy, kĩ năng nhiều hơn ở học sinh

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến

Nhiều năm trước đây, chứng minh nhận định qua tác phẩm văn học không phải là hiếm gặp trong đề thi học sinh giỏi Ngữ văn lớp 9 cấp tỉnh của Thanh Hóa Nhưng những chứng minh này thường tập trung vào nhận định về tác phẩm văn học cần nghị luận hoặc chỉ chứng minh nhận định qua một tác phẩm văn học lớp 9 Ví dụ:

Đề thi năm học 2013 – 2014: Nhà văn Nguyễn Dữ đã kết thúc “Chuyện người

con gái Nam Xương” bằng chi tiết Vũ Nương hiện về gặp chồng rồi sau đó biến mất.

Có ý kiến cho rằng: giá như nhà văn để Vũ Nương trở về trần gian sống hạnh phúc cùng chồng con thì kết thúc của truyện sẽ có ý nghĩa hơn Có người lại nhận xét: cách kết thúc của tác giả như vậy là hợp lí Suy nghĩ của em về hai ý kiến trên.

Đề thi năm học 2014 – 2015: “Tác phẩm vừa là kết tinh của tâm hồn người

sáng tác, vừa là sợi dây truyền cho mọi người sự sống mà nghệ sĩ mang trong lòng.” (“Tiếng nói văn nghệ” - Nguyễn Đình Thi, Ngữ Văn 9, tập 1, NXBGD 2014)

Từ cảm nhận về bài thơ “Ánh trăng” (Nguyễn Duy), em hãy trình bày suy nghĩ của mình về ý kiến trên.

Đề thi năm học 2017 – 2018: Nhà thơ Tố Hữu từng chia sẻ: “Đọc một câu thơ

hay, người ta không thấy câu thơ, chỉ còn thấy tình người trong đó”.

Từ cảm nhận về bài thơ “Nói với con” của Y Phương, em hãy làm sáng tỏ ý kiến trên

Đến năm học 2018 - 2019, đề thi mới xuất hiện nhận định lí luận văn học được

chứng minh qua một tác phẩm văn học lớp 9 và liên hệ với lớp 8, rồi giữ nguyên dạng

đề này đến nay

Đề thi năm 2018 – 2019: Nhà phê bình văn học Hoàng Minh Châu cho rằng:

“Văn chương hướng tới chân, thiện, mĩ là văn chương cho mọi người và là văn chương muôn đời”

Em hiểu ý kiến trên như thế nào? Bằng hiểu biết về truyện ngắn “Chiếc lược ngà” (Nguyễn Minh Châu, Ngữ văn 9, tập một, NXB Giáo dục, năm 2018), liên hệ với truyện ngắn “Chiếc lá cuối cùng” (O Henri, Ngữ văn 8, tập 1, NXB Giáo dục, năm 2018), hãy làm sáng tỏ ý kiến trên

Đề thi năm học 2020 – 2021: “Đọc một câu thơ hay, ta thường có cảm giác

đứng trước một bến đò gió nổi, một khao khát sang sông, một thúc đẩy lên đường hướng đến những vùng trời đẹp hơn, nhân tính hơn…”

(Theo Lê Đạt, “Đối thoại với đời và thơ”, NXB Trẻ, 2008, tr.115) Bằng hiểu biết về bài thơ “Đồng chí” (Chính Hữu, Ngữ văn 9, tập 1, NXB Giáo dục Việt Nam, 2020), liên hệ với bài thơ “Ông đồ” (Vũ Đình Liên, Ngữ văn 8, tập 2, NXB

Giáo dục Việt Nam, 2020), em hãy làm sáng tỏ ý kiến trên.

Trang 8

Đề thi năm học 2021 – 2022: “Văn chương giúp ta trải nghiệm cuộc sống ở

những tầng mức và những chiều sâu đáng kinh ngạc Nó giúp con người sống “ra người” hơn, sống tốt hơn, nếu ta biết tìm trong mỗi quyển sách những vệt sáng, những nguồn sáng soi rọi vào những góc khuất của cuộc đời và của con người” (Theo Thanh Thảo, “Nhà văn nói về môn Văn” – “Văn học và tuổi trẻ” - NXBGD, 2015)

Bằng hiểu biết về tác phẩm “Lặng lẽ Sa Pa” (Nguyễn Thành Long, Ngữ văn 9, tập

1, NXB Giáo dục, 2018), liên hệ với bài thơ “Quê hương” (Tế Hanh, Ngữ văn 8, tập

1, NXB Giáo dục, 2018), em hãy làm rõ ý kiến trên

Trong hai năm học đứng tuyển tỉnh (năm học 2020 – 2021 và 2021 – 2022), khi

bồi dưỡng đội tuyển của huyện cũng như đọc bài của học sinh một vài huyện khác,người viết vẫn nhận thấy cách viết liên hệ chưa ổn Năm học 2020 – 2021 và năm học

2021 – 2022, giai đoạn vòng I, một số học sinh ở các trường trong huyện được chọnvào đội tuyển chưa được học về cách liên hệ nên qua khảo sát, bài làm của các em có

Bài làm 1: Không chỉ được thể hiện qua bài thơ “Đồng chí”, ý kiến trên còn được

thể hiện sâu sắc qua bài thơ “Khi con tu hú” của nhà thơ Tố Hữu Tố Hữu là nhà thơ tiêu biểu của nền thơ ca cách mạng Việt Nam Đọc bài “Khi con tu hú”, ta thấy được cảm giác “khao khát sang sông” hướng tới cái đẹp, bởi sự rung cảm mãnh liệt trước

vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên mùa hè và khao khát được tự do của người lính trong từ Vẻ đẹp ấy còn được thể hiện qua hình thức nghệ thuật độc đáo

Đối chiếu với bài thơ “ Đồng chí”, ta thấy cả hai đều thể hiện cái đẹp ấy thông qua hình thức nghệ thuật đặc sắc và đều viết về hình ảnh người lính Tuy nhiên, “Khi con tu hú” sáng tác trước cách mạng còn bài thơ “ Đồng chí” là sau cách mạng Khác nhau về thời đại nên có nhiều sự nhau về nội dung và nghệ thuật…

Bài làm 2: Không chỉ “Đồng chí” mà “Khi con tu hú” của Tố Hữu cũng khiến

con người có cảm giác như “đứng trước một bến đò gió nổi, một khao khát sang sông, một thúc đẩy đến bầu trời đẹp hơn” khi đọc những câu thơ ấy Tố Hữu là lá cờ đầu của thơ ca cách mạng Bài thơ “Khi con tu hú” được ông sáng tác trong nhà lao

Trang 9

Thừa Phủ khi bị bắt giam ở đây Khi đọc những câu thơ, ta như được đến với những điều tốt đẹp, những chân trời ấm áp bởi bức tranh mùa hè được phác thảo thật trong trẻo, tươi vui Khi con tu hú gọi bầy cũng là lúc vụ lúa chiêm đương đang bước vào

độ đương chín và “trái cây” cũng đang “ngọt dần” Vạn vật như đang bước vào độ đẹp nhất Trong vườn, tiếng ve ngân như một khúc nhạc ngày hè Khung cảnh mùa hè

ấy còn có cả màu vàng của “bắp rây”, màu hồng của “nắng đào” Thiên nhiên đất trời ngày hè rộn rã, có màu sắc, âm thanh, hương vị và cả những khoảng không gian rộng lớn Và giữa cảnh trời ấy là hình ảnh người tù đang khao khát tự do Nghe “hè dậy bên lòng” mà nhà thơ như muốn “đạp tan phòng” Cái cảnh tù túng ấy khiến ông ngột ngạt, bức bối vô cùng Nhà thơ muốn phá tan xiềng xích để được bay đến những vùng trời tự do Nghệ thuật đặc sắc trong bài thơ cũng góp phần tạo nên một câu thơ hay Các biện pháp tu từ được sử dụng nhuần nhuyễn Nghệ thuật miêu tả sinh động qua trí tượng tượng phong phú Chính nhờ những nghệ thuật ấy mà ta có cảm giác và mong muốn “được sang sông”.

Các bài làm trên đều có nhiều lỗi khi viết liên hệ từ việc triển khai luận điểmtương ứng với nhận định lí luận văn học đến cách so sánh điểm giống, khác giữa haitác phẩm Có thể có nhiều lí do dẫn đến những sai sót trong bài làm : Học sinh chưađược hướng dẫn đúng hướng về phần liên hệ, do phân bố thời gian làm bài chưa khoahọc dẫn đến việc phải làm vội vàng phần liên hệ Nhưng “án tại hồ sơ” nên nếu giữcách viết như vậy, các em sẽ không thể bám giải, không thể chạm vào được mục tiêucủa mình

2.3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề

Từ cơ sở lí luận và thực trạng nêu trên, tôi xin trình bày một số kinh nghiệm khidạy học sinh phần liên hệ này nhằm nâng cao chất lượng bài làm của các em

2.3.1 Trang bị kiến thức về lí luận văn học

Đề thi học sinh giỏi Ngữ văn 9: “Văn chương giúp ta trải nghiệm cuộc sống ở

những tầng mức và những chiều sâu đáng kinh ngạc Nó giúp con người sống “ra người” hơn, sống tốt hơn, nếu ta biết tìm trong sách những vệt sáng, những nguồn sáng soi rọi vào những góc khuất của cuộc đời con người.”

Trang 10

(Theo Thanh Thảo, “Nhà văn nói về môn Văn” – “Văn học và tuổi trẻ” - NXB Giáo dục)

Bằng hiểu biết về tác phẩm “Lặng lẽ Sa Pa” (Nguyễn Thành Long, Ngữ văn 9, NXB Giáo dục, 2018), liên hệ với bài thơ “Quê hương” (Tế Hanh, Ngữ văn 8, tập 1, NXB Giáo dục, 2018), em hãy làm sáng tỏ ý kiến trên.

Đề thi học sinh giỏi Ngữ văn 12: L.Tolstoy cho rằng: “Một tác phẩm nghệ thuật

là kết quả của tình yêu”.

Từ đoạn trích “Ai đã tên cho dòng sông?” của Hoàng Phủ Ngọc Tường (Ngữ văn

12, tập 1, NXB Giáo dục, năm 2018), anh/chị hãy làm sáng tỏ nhận định trên.

Như vậy có thể thấy, nhận định của Ngữ văn 12 ngắn gọn, sáng rõ hơn so với đềthi của lớp 9 Bởi vậy, học sinh cần trang bị nhiều hơn về lí luận văn học Tuy nhiên,nếu là những bài lí thuyết suông về lí luận văn học sẽ khiến các em cảm thấy trừutượng hơn, khó hiểu hơn, sẽ có cảm giác như lạc lối trong mênh mông tri thức

2.3.1.2 Cách thực hiện

Để thực hiện giải pháp có hiệu quả, giáo viên cần: cô đọng các nội dung chính

về lí luận văn học trong một số buổi dạy để học sinh nhanh chóng nắm được, rồi qua quá trình luyện đề, với các đề bài cụ thể, sinh động, các em sẽ củng cố, mở rộng, nâng cao kiến thức lí luận văn học

Nội dung chính của lí luận bao gồm những phần sau:

Đặc trưng văn học: Lí thuyết về tính đặc trưng văn học như một hoạt động

sáng tạo tinh thần của con người bao gồm tính hình tượng, tính nghệ thuật, lý tưởngthẩm mỹ, các thuộc tính xã hội của văn học, phong cách sáng tác các nguyên tắc đánhgiá sáng tác văn học nói chung,

Cấu trúc tác phẩm: Lí thuyết về cấu trúc tác phẩm văn học bao gồm khái

niệm về đề tài, chủ đề, nhân vật, tính cách, cảm hứng, cốt truyện, kết cấu, các vấn

đề phong cách học, ngôn ngữ, thi pháp, luật thơ…

Quá trình văn học: Lí thuyết về quá trình văn học bao gồm các khái niệm

chính về phong cách, các loại và các thể văn học, các trào lưu, khuynh hướng vănhọc và các quá trình văn học nói chung

Các đề bài đều tập trung vào các nội dung này Có thể liệt kê một số đề bài màhọc sinh đội tuyển Ngữ văn 9 cấp tỉnh huyện nhà đã làm trong hai năm học vừa quanhư:

Đề bài 1: Sách “Lí luận văn học” (Tập 1, NXB Đại học Sư phạm, 2010) do tác giả Phương Lựu chủ biên có trích ý kiến của nhà nghiên cứu Phê-đin bàn về văn học như sau: “Chỉ có nhờ trí tưởng tượng sáng tạo, sự thật cuộc sống mới có thể truyền đạt trong tác phẩm nghệ thuật.”

Em hiểu ý kiến trên như thế nào? Chứng minh qua tác phẩm “Chiếc lược ngà” (Nguyễn Quang Sáng, Ngữ văn 9, tập 1) và liên hệ với tác phẩm “Lão Hạc” ( Nam Cao, Ngữ văn 8, tập 1).

Ngày đăng: 09/06/2022, 22:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w