Tôi tiến hành đề tài này với ba mục đích cơ bản sau: -Thứ nhất: Giúp học sinh nắm được những phương pháp và kĩ năng cơ bản để làm tốt một đoạn văn nghị luận xã hội trong các kì thi.. - T
Trang 11.1 Lí do chọn đề tài 1
2.3.3 Một số lưu ý khi làm bài văn nghị luận xã hội 17 2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục
với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường
Trang 21 PHẦN MỞ ĐẦU
1.1 Lí do chọn đề tài
Một thời gian dài trước đây, môn làm văn trong nhà trường chỉ tập trung vào nghị luận văn học, coi trọng nghị luận văn học, khiến học sinh (HS) chỉ quẩn quanh với kiến thức sách vở, sự liên hệ với thực tế đời sống ít ỏi Việc dạy và học văn phầnnào trở nên phiến diện, máy móc, giáo điều Vài năm trở lại đây chương trình dạyhọc và thi môn văn có nhiều đổi mới Mảng văn nghị luận xã hội được đưa vàochương trình các cấp học từ THCS đến THPT Đề văn nghị luận xã hội là một trong những tiêu chí đánh giá quan trọng trong các bài kiểm tra thường xuyên, định kì, thi vào THPT, tốt nghiệp THPT và đặc biệt là kì thi tuyển sinh Cao đẳng, Đại học Sự thay đổi nàyđã đem lại không ít cơ hội cho việc rèn luyện năng lực tư duy và phát triển toàn diện cho học sinh Tuy nhiên
nó cũng đặt ra cho các em không ít thách thức Thời gianrèn luyện về nghị luận
xã hội ở trên lớp không nhiều, nhiều em kiến thức xã hội cònrất hời hợt, kĩ năng làm bài không thuần thục tất cả những điều đó tạo nên khókhăn khá lớn cho học sinh trong các kì thi
Nghị quyết số 29-NQ/TW Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung ương khoá XI khẳng định:“Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động,sáng tạo và vận dụng kiến thức,
kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc…Đổi mới căn bản hình thức và phương pháp thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo, đảm bảo trung thực khách quan…” Theo tinh thần trên,đổi mới hình thức kiểm tra đánh giá chất lượng học tập theo yêu cầu đánh giá năng lực học là cần thiết Chính vì vậy, từ năm học 2017- 2018, đề thi Ngữ Văn của Bộ giáo dục và đào tạo đã có sự đổi mới Trong cấu trúc đề thi gồm có hai phần: Phần 1: Đọc hiểu với 4 câu hỏi; phần tạo lập văn bản có 2 câu: câu 1 viết đoạn văn về một vấn đề vè xã hội, câu 2: viết bài văn Trong đó câu 1 có sự đổi mới từ bài văn sang viết đoạn văn Về dung lượng: 200 chữ, về điểm số chỉ còn 2 điểm, trước đó là 3 điểm; về nội dung: đề cao tối đa việc nêu chủ kiến cá nhân của học sinh về một quan điểm, hiện tượng, vấn đề được trích dẫn hoặc được gợi ra từ văn bản đọc hiểu ở phần I Nắm bắt tinh thần đổi mới đó của Bộ giáo dục- Đào tạo, Sở giáo dục và đào tạo tỉnh Thanh Hoá cũng tiến hành đổi mới hình thức kiểm tra đánh giá cho bộ môn Ngữ Văn, trong đó có việc đổi mới cấu trúc đề thi vào THPT theo cấu trúc đề thi của Bộ giáo dục- Đào tạo từ năm học 2018 - 2019
Bản thân tôi là giáo viên Ngữ Văn trực tiếp giảng dạy và ôn thi vào THPT qua các năm, tôi nhận thấy rằng HS đang quen với cách viết bài văn nghị luận
xã hội 30 dòng, nay đề yêu cầu chắt lọc ngắn gọn trong 200 từ thì với HS cũng
là một thử thách Từ vướng mắc đó, tôi thấy, việc tìm ra những giải pháp để cho học sinh làm tốt đoạn văn nghị luận xã hội là việc làm cần thiết Hiện tại đơn vị trường tôi chưa có người làm đề tài nghiên cứu sâu về vấn đề này vì vậy, tôi đã lựa chọn đề tài này để nghiên cứu
Trang 31.2 Mục đích nghiên cứu
Tôi tiến hành đề tài này với ba mục đích cơ bản sau:
-Thứ nhất: Giúp học sinh nắm được những phương pháp và kĩ năng cơ bản
để làm tốt một đoạn văn nghị luận xã hội trong các kì thi
- Thứ hai: Thông qua quá trình rèn luyện kĩ năng viết bài nghị luận xã hội giúp học sinh lớp 9 nâng cao khả năng trình bày suy nghĩ của mình; cung cấp cho các em vốn tri thức phong phú về các vấn đề xã hội để các em nâng cao nhận thức và kĩ năng sống, sống tốt hơn, đẹp hơn, từng bước hoàn thiện nhân cách của mình
- Thứ ba: Những kinh nghiệm này có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho đồng nghiệp khi dạy phần viết đoạn văn nghị luận xã hội
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Trong đề tài này, tôi sẽ nghiên cứu về thái độ, kỹ năng, chất lượng, khả năng vận dụng và sức sáng tạo của học sinh khi học kỹ năng viết đoạn văn nghị luận
xã hội đối với khối 9 tại trường THCS Nga Hải trong năm học 2021 – 2022
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài chủ yếu được sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp nghiên cứu, xây dựng cơ sở lý thuyết: Nghiên cứu các vấn đề mang tính lí luận có liên quan đến đề tài
- Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế, thu thập thông tin, cùng với phương pháp thống kê: với phương pháp này tôi sẽ điều tra qua các giờ dạy, kết quả khảo sát đầu năm và kết quả khảo sát chất lượng cuối năm, từ đó thu thập các số liệu liên quan tới chất lượng của học sinh
2 PHẦN NỘI DUNG
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
Văn nghị luận, nhất là nghị luận xã hội chính là tinh hoa của các môn khoa học xã hội Văn nghị luận được ra đời từ rất lâu Ở Trung Quốc, văn nghị luận
đã có từ thời Khổng Tử Ở nước ta, văn nghị luận cũng là một thể loại có truyền thống lâu đời, nó có giá trị và tác dụng hết sức to lớn trong trường kì lịch sử của
công cuộc dựng nước và giữ nước Tác phẩm “Chiếu dời đô” (1010) của Lí Công Uẩn “Cáo bình Ngô” (1428) của Nguyễn Trãi; “Hịch tướng sĩ” (1825) của Trần Quốc Tuấn, “Luận pháp học” của Nguyễn Thiếp… và đặc biệt ở thế kỉ
XX, văn nghị luận phát triển mạnh mẽ hơn bao giờ hết Hàng loạt tên tuổi các nhà chính luận xuất sắc với những áng văn nghị luận, bất hủ mà tiêu biểu nhất là
Chủ tịch Hồ Chí Minh với “Tuyên ngôn độc lập” (1945) và với biết bao nhà văn
viết nghị luận nổi tiếng sau này như Hoài Thanh, Xuân Diệu, Đặng Thai Mai…
Theo Từ điển từ và ngữ Hán Việt thì “nghị luận” là dùng lí luận để phân tích ý nghĩa trái phải, bàn bạc, mở rộng vấn đề Còn “xã hội” trước hết là một
tập thể người cùng sống, gắn bó với nhau trong quan hệ sản xuất và các quan
hệ khác Cũng có thể hiểu “xã hội” là những gì thuộc về quan hệ giữa người và
người về các mặt chính trị, kinh tế, triết học, lịch sử, văn học, ngôn ngữ,… Từ
đó có thể hiểu: Nghị luận xã hội là thể văn hướng tới phân tích, bàn bạc về các vấn đề liên quan đến các mối quan hệ của con người trong đời sống xã hội Mục
Trang 4đích cuối cùng của nó là tạo ra những tác động tích cực đến con người và những mối quan hệ giữa người với người trong xã hội
Trên cơ sở nghiên cứu nêu trên tôi thấy chủ trương đổi mới theo Nghị quyết
số 29-NQ/TW Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung ương khoá XI làđề ra là cần thiết, việc tăng dạng bài mở (đoạn văn nghị luận xã hội) vào đề thi tuyển sinh THPT là hoàn toàn đúng đắn
Từ việc đổi mới đó, mỗi giáo viên dạy 6, 7, 8, 9 nói chung và đặc biệt là giáo viên dạy môn Ngữ văn 9 nói riêng cũng phải tự nghiên cứu, tìm tòi để tìm ra giải pháp giúp học sinh biết viết văn nghị luận xã hội và đạt hiệu quả Tại sao lại như vậy? Vì việc tìm ra một số giải pháp giúp học sinh lớp 6, 7, 8, 9; đặc biệt là học sinh lớp 9 có kĩ năng để viết văn nghị luận xã hội đạt kết quả tốt sẽ đem lại ý nghĩa to lớn đối với cả giáo viên và học sinh Cụ thể:
- Đối với giáo viên: Tìm ra một số giải pháp giúp học sinh có kĩ năng viết
văn nghị luận xã hội sẽ giúp cho giờ dạy và ôn tập Ngữ văn của giáo viên dễ hiểu, cuốn hút học sinh, bài dạy trôi chảy, hấp dẫn, đạt hiệu quả cao hơn
- Đối với học sinh: Giáo viên có giải pháp giúp học sinh có kĩ năng viết văn
nghị luận xã hội sẽ khiến các em hứng thú, chủ động hơn trong việc học và viết văn Từ đó, các em sẽ:
+ Nắm được kiến thức, kĩ năng viết văn nghị luận xã hội
+ Nắm được đặc trưng, cách làm dạng bài… giúp các em tự tin khi làm các bài kiểm tra định kì, học kì và làm bài thi tuyển sinh vào THPT
+ Rèn luyện văn nghị luận xã hội giúp học sinh không chỉ hoàn thiện kĩ năng trình bày quan điểm của mình, mà còn cung cấp tri thức vô cùng phong phú về những vấn đề xã hội Những đề tài nghị luận xã hội thường là những vấn đề có ý nghĩa thiết thực trong cuộc sống, có tính giáo dục và tính thời sự cao vậy nên các bài văn nghị luận xã hội thường mang đến cho các em những suy nghĩ và nhận thức đúng đắn về cuộc sống, đặc biệt là uốn nắn nhận thức cho các em về những vấn đề có tính hai mặt của đời sống xã hội đang tác động trực tiếp đến thế
hệ trẻ Từ đó, giúp học sinh đưa ra một cách hiểu thấu đáo về vấn đề xã hội cũng như vận dụng nó vào đời sống và bản thân Như vậy, rèn luyện kĩ năng nghị luận xã hội cho học sinh sẽ không chỉ nhằm kiểm tra kiến thức tổng hợp về mọi mặt đời sống của học sinh, mà còn nhằm phát triển khả năng tư duy nhận thức vấn đề xã hội đồng thời góp phần rèn giũa, bồi dưỡng phẩm chất nhân cách con người cho các em
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
Trước khi thực hiện đề tài, tôi nhận thấy tồn tại một số thực trạng sau:
- Về chương trình: Từ năm học 2018 – 2019 Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh
Thanh Hoá đã chính thức đưa vào đề thi môn văn kì thi vào THPT một câu nghị luận xã hội, chiếm tỉ lệ 20% Những vấn đề nghị luận xã hội được đưa ra cho học sinh bàn bạc từ đó đến nay đều rất phong phú, đa dạng; đề cập đến tất cả các phương diện của đời sống.Vừa có dạng đề về tư tưởng đạo lí lại vừa có dạng đề
về các hiện tượng đời sống Thế nhưng thời lượng chương trình dành cho việc giảng dạy và rèn luyện kĩ năng làm bài nghị luận xã hội trong phân phối chương
Trang 5trình THPT theo qui định của Bộ Giáo dục làquá ít ỏi Ở lớp 9 chỉ có 4 tiếtlý thuyết về cách làm bài nghị luận xã hội: 2 tiết cho dạng bài nghị luận về một tưtưởng đạo lí, hai tiết cho dạng bài nghị luận về một hiện tượng đời sống và 2 tiết luyện nói cho cả 2 kiểu bài Trong khi đó không có tiết để thực hành trên lớp Thực tế đó khiến học sinh không có điều kiện để rèn luyện nghị luận xã hội một cách thường xuyên dẫn tới kết quả không cao, phần lớn các em làm bài theo cảm tính, thiếu kỹ năng làm bài
- Về học sinh: Đề nghị luận xã hội thường là đề mở, đó là những vấn đề rất
rộng của đời sống Trong khi học sinh lại thiếu hiểu biết xã hội, nên không có vốn để viết.Học sinh THCS đều ở độ tuổi mới lớn, chưa có điều kiện tiếp xúc nhiều với thực tế đời sống đa sắc, đa chiều, vốn kiến thức xã hội còn ít ỏi Nhiều
em cách nhìn nhận vấn đề thậm chí lệch lạc, do đó để hiểu đúng, hiểu sâu bản chất và bàn luận thấu đáo một vấn đề xã hội là điều không đơn giản đối với các em.Hơn nữa, ở đề nghị luận xã hội thường hay có những câu danh ngôn, định nghĩa, khái niệm, nên thường rất trừu tượng khiến học sinh gặp khó khăn khi phải hiểu, phải lí giải được ý nghĩa của nó Đặc biệt nghị luận xã hội cần ở học sinh sự linh hoạt trong nhận thức vấn đề, và từ nhận thức đi đến trình bày cái hiểu là cả một quá trình, để áp dụng và diễn đạt những cái mình hiểu không phải chuyện dễ dàng gì với nhiều học sinh
Năm học 201-2022, trước khi áp dụng đề tài thì kết quả khảo sát chất lượng làm dạng đề Nghị luận xã hội của Khối 9 như sau:
Lớp Sĩ số Loại giỏi Loại Khá Loại TB Loại yếu Loại kém
9 viết tốt đoạn văn nghị luận xã hội trong đề thi vào lớp 10 THPT ở trường THCS Nga Hải” Nhằm giúp các em có kĩ năng làmtốt bài văn nghị luận xã hội
và đặc biệt là trang bị kiến thức để các em chuẩn bị thi vào lớp 10 THPT
2.3 Các SKKN hoặc giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
Từ thực tế vừa nêu, để giúp học sinh có hứng thú hơn, biết cách viết văn nghị luận xã hội, ngay từ đầu năm học 2021-2022 khi được phân công dạy khối
9, tôi đã đề ra một vài giải pháp như sau:
2.3.1 Giúp học sinh hiểu thế nào là văn nghị luận xã hội
Trong chương trình Ngữ văn bậc Trung học cơ sở, học sinh đã được làm quen với kiến thức về văn nghị luận từ lớp 7 thông qua các tiết học “Tìm hiểu
Trang 6chung về văn nghị luận”; “Các phép lập luận giải thích và chứng minh” Ở lớp 8 các em được học tiết “Xây dựng đọan văn trong văn bản” và “Viết đoạn văn trình bày luận điểm” Như vậy về cơ bản các em đã được rèn kỹ năng về viết đoạn văn và trình bày luận điểm bằng một đoạn văn Trong quá trình hướng dẫn học sinh viết đoạn văn nghị luận xã hội tôi cũng củng cố và khắc sâu thêm về kỹ năng viết đoạn, trình bày luận điểm trong đoạn văn Đến chương trình Ngữ văn
9 cũng đã có những tiết dạy và học nghị luận xã hội:
- Tiết 99: Nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống
- Tiết 100: Cách làm bài nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống
- Tiết 108: Nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí
- Tiết 112: Cách làm bài nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lí
Thông qua các tiết lý thuyết trong sách giáo khoa tôi hướng dẫn học sinh hiểu kỹ về văn nghị luận xã hội và những yêu cầu chung của một đoạn văn nghị luận xã hội Về cơ bản học sinh đều hiểu được:
a Văn nghị luận xã hội làthể văn hướng tới phân tích, bàn bạc về các vấn
đề liên quan đến các mối quan hệ của con người trong đời sống xã hội Mục đích cuối cùng của nó là tạo ra những tác động tích cực đến con người và những mối quan hệ giữa người với người trong xã hội
b Những yêu cầu chung của một đoạn văn nghị luận xã hội:
- Đảm bảo kĩ năng nghị luận nói chung: tập trung hướng tới luận đề để bài viết không tản mạn, có ý thức triển khai thành những luận điểm chặt chẽ, nhất quán, tìm được những dẫn chứng xác đáng, giàu sức thuyết phục
- Đảm bảo về kiến thức mang chính trị – xã hội: những hiểu biết về chính trị – pháp luật, những kiến thức cơ bản về truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức, tâm lí – xã hội, những tin tức thời sự cập nhật…
- Đảm bảo mục đích, tư tưởng đúng đắn: phải xuất phát từ một lập trường
tư tưởng tiến bộ, cao đẹp, vì con người, vì sự tiến bộ chung của toàn xã hội… để bàn bạc, phân tích, khen chê và đề xuất ý kiến
- Đảm bảo diễn đạt: rõ ràng, mạch lạc; ngôn từ trong sáng, dễ hiểu…, trình bày bằng một đoạnvăn khoảng 200 chữ
- Đảm bảo bài viết phải thể hiện rõ quan điểm của người viết trước vấn đề xã hội để từ đó giáo dục học sinh ý thức đúng đắn khi tham gia hoạt động xã hội
c Các dạng đề văn nghị luận xã hội
Tôi luôn hướng dẫn học sinh của mình để các em nắm được cấu trúc đề thi
do sở GD-ĐT Thanh Hóa ban hành có 2 dạng cơ bản:
Dạng 1: Bàn về một vấn đề tư tưởng, đạo lí thông qua những nhận xét,
phán đoán về tinh thần, tình cảm, tư tưởng, đạo lí, lối sống,…
Đối với học sinh trong nhà trường THCS, do tâm lí, lứa tuổi, tầm nhận thức nên những vấn đề đặt ra để bàn luận không phải là những vấn đề quá phức tạp, lớn lao mà chỉ là những khía cạnh đạo đức, tư tưởng, tình cảm gắn liền với cuộc sống hằng ngày như tình cảm quê hương, gia đình, bạn bè, ý thức trách nhiệm, tinh thần học tập, phương pháp nhận thức,… Những vấn đề này có thể đặt ra một cách trực tiếp, hoặc được gợi mở qua một câu danh ngôn (tục ngữ, ca dao,
Trang 7câu nói của các bậc hiền triết, các lãnh tụ, các nhà văn hóa, khoa học, nhà văn nổi tiếng,…)
Ví dụ: Trong sách giáo khoa Ngữ văn 9, tập II, trang 51 có một số đề bài:
- Bàn về tranh giành và nhường nhịn
ở mỗi người, ý nghĩa của sự tự tin …
Dạng 2: Bàn về một hiện tượng, con người, sự việc có thật trong cuộc sống
ở mọi phương diện, mọi khía cạnh của nó
Khác với dạng đề bàn về một tư tưởng, đạo lí, dạng đề này thường nêu lên một hiện tượng có thật trong đời sống Đó có thể là một hiện tượng tích cực, nhưng cũng có thể là một hiện tượng tiêu cực trong xã hội, hoặc một hiện tượng
có cả mặt tích cực lẫn tiêu cực, Như thế đòi hỏi người viết, bằng nhận thức của bản thân, phải thể hiện được chủ kiến của mình, bằng phân tích và lập luận để ca ngợi và biểu dương cái đẹp, cái tốt, cái thiện (chân, thiện, mĩ) và lên án, vạch trần cái xấu, cái ác… Tất nhiên những hiện tượng đời sống nêu trong các đề văn dạng này vừa phải gần gũi với tuổi trẻ học đường vừa phải có ý nghĩa lớn lao đối với cả cộng đồng dân tộc và thế giới
Ví dụ: Trong sách giáo khoa Ngữ văn 9, tập II, trang 22 có một số đề bài:
- Đất nước ta có nhiều tấm gương học sinh nghèo vượt khó, học giỏi Em
hãy nêu một số tấm gương đó và trình bày suy nghĩ của mình
- Trò chơi điện tử là món tiêu khiển hấp dẫn Nhiều bạn vì mải mê chơi mà sao nhãng học tập và còn phạm những sai lầm khác Hãy nêu ý kiến của em về hiện tượng đó
Ngoài ra, các đề thi gần đây thường xuất hiện một số đề như: Lối sống vô cảm của một bộ phận giới trẻ hiện nay, Hiện tượng sống ảo, Bệnh ái kỷ, Mặt lợi
và hại của mạng xã hội…
d Cách làm các dạng đề văn nghị luận xã hội
Sau khi học sinh hiểu được các dạng đề văn nghị luận xã hội, tôi hướng dẫn học sinh cách làm bài cho từng dạng đề
*Cách làm dạng bài nghị luận về một hiện tượng đời sống
Bước 1: Nhận diện đề:Trước bất cứ đề nghị luận nào, giáo viên đều phải
hướng dẫn học sinh đọc kỹ, gạch chân những từ quan trọng và tự đặt ra câu hỏi
- Vấn đề đặt ra trong đề bài là gì?
- Cần sử dụng thao tác nào để nghị luận ?
- Nhận diện tính chất của đề: đối với đề bài nghị luận về một hiện tượng đời sống có ba dạng tính chất của đề như sau:
Trang 8+ Dạng 1: Dạng đề bài bàn về một hiện tượng đời sống có tính chất tiêu
cực Ví dụ: Tình trạng học lệch của học sinh hiện nay, lối sống vô cảm, sống ảo, bệnh ái kỷ,
+ Dạng 2: Dạng đề bài bàn về một hiện tượng đời sống có tính chất tích
cực Ví dụ: phong trào ủng hộ đồng bào bị bão lụt, tình người trong đại dịch covid 19, tinh thần tự học, bảo vệ môi trường, nói không vứi gian lận trong thi cử
+ Dạng 3: Dạng đề bài bàn về một hiện tượng đời sống có cả tính chất tích
cực và tiêu cực Ví dụ: bàn về tính chất hai mặt của mạng xã hội trong thời đại 4.0, Phải chăng thất bại là mẹ thành công, văn hóa thần tượng của giới trẻ ngày nay
Nhận diện được tính chất đề bài sẽ định hướng đúng được cách triển khai ý
và lập luận
Bước 2: Lập dàn ý
Nhìn chung, để tìm ý cho dạng bài này vẫn là người viết biết đặt ra và trả lời các câu hỏi có ý nghĩa xung quanh vấn đề trọng tâm mà đề yêu cầu Các câu hỏi và nội dung trả lời cũng có thể sắp xếp theo bốn bước:
- Giới thiệu thực trạng : Để luyện tập viết các bài văn nghị luận về một
hiện tượng đời sống, trước hết cần biết nhận diện hiện tượng ấy (sự việc, con người): Các biểu hiện, các dạng tồn tại, những số liệu cụ thể Thực hiện thao tác này đòi hỏi học sinh một sự hiểu biết và quan tâm đến các vấn đề đang tồn tại trong đời sống xã hội hiện nay Nghĩa là không phải đợi tới lúc nhận đề bài mới tìm hiểu mà học sinh nên có sự chuẩn bị từ trước bằng việc chú ý nghe thời sự hằng ngày, cập nhật thông tin về các vấn đề trong nước cũng như quốc tế Khi phản ánh thực trạng, ta cần đưa ra những con số, những thông tin cụ thể, tránh lối nói chung chung, mơ hồ vì chính sự cụ thể của thông tin sẽ tạo ra tính thuyết phục cho những ý kiến đánh giá sau đó Chẳng hạn, muốn bàn về tình trạng ô nhiễm nguồn nước, cần tìm thông tin về những con sông đang bị ô nhiễm nặng nhất, mức độ ô nhiễm cụ thể, các loại chất gây ô nhiễm hiện có mặt có trong nguồn nước sông,… Muốn bàn về nạn bạo hành với phụ nữ, cần tìm hiểu xem trong xã hội hiện tại, người phụ nữ phải đối mặt với những kiểu (dạng) bạo hành như thế nào, tỉ lệ phụ nữ phải sống chung với nạn bạo hành, …
- Phân tích và bình luận nguyên nhân – kết quả(hậu quả): Khi phân
tích nguyên nhân, nên chú ý tới các mặt khách quan – chủ quan Chẳng hạn, với hiện tượng tai nạn giao thông thì nguyên nhân khách quan là do hệ thống giao thông còn nhiều bất cập (cách phân luồng, phân tuyến, hệ thống biển báo chỉ dẫn, chất lượng của phương tiện tham gia giao thông,…), nguyên nhân chủ quan
là người tham gia giao thông chưa ý thức đầy đủ về trách nhiệm, chưa nắm vững pháp luật, chưa chú ý đúng mức tới vấn đề an toàn,… Khi đánh giá hậu quả, cần xem xét ở các phạm vi cá nhân – cộng đồng, hiện tại – tương lai,… Ví dụ: Hiện tượng nghiện Internet không chỉ làm hao tổn về sức lực, tiền của, ảnh hưởng xấu đến sự phát triển nhân cách cá nhân mà còn tạo mầm mống cho những bất ổn trong xã hội
Trang 9- Đề xuất ý kiến (giải pháp): Trước hết các em cần phải xem lại phần
nguyên nhân vì nó chính là gợi ý tốt nhất để có thể tìm ra các giải pháp khắc phục Chẳng hạn một trong những nguyên nhân của tai nạn giao thông là do người tham gia giao thông chưa có ý thức trách nhiệm, chưa nắm vững luật pháp
và chưa chú ý đầy đủ đến sự an toàn thì một trong những giải pháp có thể thực hiện là tuyên truyền, giáo dục về an toàn giao thông, xây dựng chế tài xử phạt đối với những trường hợp vi phạm an toàn giao thông…
Bước 3: Tiến hành viết bài văn
- Triển khai bài viết theo hệ thống luận điểm, luận cứ, luận chứng đã xây dựng (theo dàn ý)
- Một bài nghị luận xã hội thường có yêu cầu về số lượng câu chữ nên cần phân phối lượng thời gian làm bài sao cho phù hợp, tránh viết dài dòng, sa vào
kể lể, giải thích vấn đề không cần thiết Trên cơ sở dàn ý, cần luyện cách viết và trình bày sao cho ngắn gọn, mạch lạc, dễ hiểu và có tính thuyết phục cao
Bước 4: Đọc lại và sửa chữa để hoàn chỉnh bài viết
*Cách làm bài Nghị luận về một tư tưởng đạo lý
Bước 1: Nhận diện đề
– Đọc kĩ đề , chú ý những từ quan trọng, những khái niệm khó, nghĩa đen, nghĩa bóng của từ ngữ nghĩa tường minh, nghĩa hàm ẩn của câu, đoạn Chia vế, chia đoạn , tìm hiểu mối tương quan giữa các vết song song, chính phụ, nhân quả, tăng tiến hay đối lập…
– Phần phân tích đề phải xác định được ba yêu cầu sau đây :
+ Vấn đề cần nghị luận là gì ? Có bao nhiêu ý cần triển khai ? Mối quan hệ giữa các ý như thế nào ?
+ Sử dụng thao tác lập luận gì là chính ?
+ Phạm vi tư liệu của bài viết : thuộc lĩnh vực xã hội nào , phạm vi , ảnh hưởng
Đây là một thao tác quan trọng và cần thiết giúp người đọc phát hiện ra vấn
đề nghị luận trong yêu cầu của đề bài và triển khai đúng theo yêu cầu của đề Thao tác này có ý nghĩa quyết định đến chất lượng bài viết
Bước 2: Lập dàn bài: Đối với dạng đề nghị luận về một tư tưởng, đạo lí,
để giải quyết vấn đề ta cần lưu ý xem xét nó từ nhiều góc độ Cách đơn giản nhất là thử đặt ra và trả lời những câu hỏi (Là gì? Như thế nào? Vì sao? Như thế thì có ý nghĩa gì với con người, cuộc sống, với bản thân ) Từ việc đặt ra và trả lời các câu hỏi, có thể hình dung một bài văn nghị luận về một tư tưởng, đạo
lí thường được triển khai theo bốn bước cơ bản sau :
- Giải thích tư tưởng, đạo lí
Đầu tiên, cần giải thích những từ trọng tâm, sau đó giải thích cả câu nói: giải thích các từ ngữ, thuật ngữ, khái niệm, nghĩa đen, nghĩa bóng (nếu có); rút
ra ý nghĩa chung của tư tưởng, đạo lý; quan điểm của tác giả qua câu nói (thường dành cho đềbài có tư tưởng, đạo lý được thể hiện gián tiếp qua câu danh ngôn, tục ngữ, ngạn ngữ,…) Thường trả lời câu hỏi: Là gì? Như thế nào? Biểu hiện cụ thể?
Trang 10- Bàn luận
+ Phân tích và chứng minh các mặt đúng của tư tưởng, đạo lý (thường trả lời câu hỏi tại sao nói như thế? Dùng dẫn chứng cuộc sống xã hội để chứng minh Từ đó chỉ ra tầm quan trọng, tác dụng của tư tưởng, đạo lý đối với đời sống xã hội)
+ Bác bỏ (phê phán) những biểu hiện sai lệch có liên quan đến vấn đề: bác
bỏ những biểu hiện sai lệch có liên quan đến tư tưởng, đạo lý vì có những tư tưởng, đạo lý đúng trong thời đại này nhưng còn hạn chế trong thời đại khác, đúng trong hoàn cảnh này nhưng chưa thích hợp trong hoàn cảnh khác; dẫn chứng minh họa
Trong các bước mở rộng, tuỳ vào từng trường hợp và khả năng của mình
mà áp dụng cho tốt, không nên cứng nhắc
- Nêu ý nghĩa, rút ra bài học nhận thức và hành động
Đây là vấn đề cơ bản của một bài nghị luận bởi mục đích của việc nghị luận là rút ra những kết luận đúng để thuyết phục người đọc áp dụng vào thực tiễn đời sống
Bước 3: Tiến hành viết bài văn
- Triển khai bài viết theo hệ thống luận điểm, luận cứ, luận chứng đã xây dựng (theo dàn ý)
- Một bài nghị luận xã hội thường có yêu cầu về số lượng câu chữ nên cần phân phối lượng thời gian làm bài sao cho phù hợp, tránh viết dài dòng, sa vào
kể lể, giải thích vấn đề không cần thiết Trên cơ sở dàn ý, cần luyện cách viết và trình bày sao cho ngắn gọn, mạch lạc, dễ hiểu và có tính thuyết phục cao
Bước 4: Đọc lại và sửa chữa để hoàn chỉnh bài viết
2.3.2 Hướng dẫn học sinh các kỹ năng viết đoạn văn nghị luận xã hội Sau khi hướng dẫn học sinh cách viết hai dạng đề cho yêu cầu viết đoạn văn
nghị luận xã hôi, tôi hướng dẫn học sinh các kỹ năng xây dựng đoạn văn theo yêu cầu của đề thi vào THPT Đề thi vào THPT của tỉnh Thanh Hoá phần viết đoạn văn thường gắn liền với đề đọc hiểu vậy nên khi ôn tập cho học sinh thi tôi bám sát vào cấu trúc này để ôn Tôi hướng dẫn học sinh theo các bước sau:
2.3.2.1 Các kỹ năng xây dựng đoạn văn
a Kỹ năng nhận diện đề
Dựa vào cấu trúc đề thi mẫu củasở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Thanh Hóa, dạng bài nghị luận – xã hội sẽ lấy một ý nhỏ trong bài đọc hiểu để làm đề thi viết đoạn văn Vậy nên trước hết các em phải đọc kỹ bài đọc hiểu, nắm được cốt lõi nội dung Từ đó xem đề yêu cầu mình bàn về vấn đề gì, nhất là phải xác định được vấn
Trang 11đề đó thuộc về dạng bài Tư tưởng đạo lý hay Hiện tượng đời sống.
Ví dụ Kỳ thi tuyển sinh lớp 10 THPT của Sở Giáo dục tỉnh Thanh Hoá năm
2019 ra đề như sau:
PHẦN I ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)
Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi
(1) Một chàng trai trẻ đến gặp một chuyên gia đá quý và đề nghị ông ta dạy cho anh trở thành một nhà nghiên cứu về đá quý Chuyên gia nọ từ chối
vì ông sợ rằng chàng trai không đủ kiên nhẫn để theo học Chàng trai cầu xin một cơ hội Cuối cùng, vị chuyên gia đồng ý và bảo chàng trai "Ngày mai hãy đến đây"
(2) Sáng hôm sau, vị chuyên gia đặt một hòn ngọc bích vào tay chàng trai
và bảo chàng hãy cầm nó Rồi ông tiếp tục công việc của mình: mài đá, cân và phân loại đá quý Chàng trai ngồi yên lặng và chờ đợi
(3) Buổi sáng tiếp theo, vị chuyên gia lại đặt hòn ngọc bích vào tay chàng trai và bảo chàng cầm nó Ngày thứ ba, thứ tư, thứ năm sau đó vị chuyên gia vẫn lặp lại hành động trên
(4) Đến ngày thứ sáu, chàng trai vẫn cầm hòn ngọc bích nhưng chàng không thể im lặng được nữa
- Thưa thầy - chàng trai hỏi - khi nào thì em sẽ bắt đầu học ạ?
- Con sẽ được học - vị chuyên gia trả lời và tiếp tục công việc của mình (3) Vài ngày nữa lại trôi qua và sự thất vọng của chàng trai càng tăng Một ngày kia, khi vị chuyên gia bảo chàng trai đưa tay ra, chàng định nói với ông ta rằng chàng chẳng muốn tiếp tục việc này nữa Nhưng khi vị chuyên gia đặt hòn ngọc bích lên tay chàng trai, chàng nói mà không cần nhìn viên đá:
- Đây không phải là hòn đá con vẫn cầm!
- Con đã bắt đầu học rồi đấy - vị chuyên gia nói
(Theo Quà tặng cuộc sống NXB Trẻ, 2013)
Câu 1 Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong văn bản
trên
Câu 2 Vì sao ban đầu vị chuyên gia lại từ chối lời đề nghị của chàng trai? Câu 3 Tìm câu văn có lời dẫn trực tiếp trong đoạn (1), sau đó chuyển
thành lời dẫn gián tiếp
Câu 4 Anh/chị có đồng tình với quan điểm được gợi ra từ phần đọc
hiểu "tự học là cách học tập hiệu quả nhất" không? Vì sao? (Trình bày từ 7 đến 10 câu)
PHẦN II TẠO LẬP VĂN BẢN (7,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm): Từ nội dung của văn bản trong phần đọc hiểu, anh/chị
hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về ý nghĩa của lòng kiên nhẫn
Theo yêu cầu của đề bài thì đây là kiểu bài nghị luận về một tư tưởng đạo
lý, bàn về ý nghĩa của lòng kiên nhẫn Đọc kỹ nội dung ngữ liệu đọc hiểu, hiểu
Trang 12được nội dung câu chuyện về học nghề và truyền nghề, học sinh sẽ hiểu được ý nghĩa của lòng kiên nhẫn Như vậy, để có thể làm tốt dạng bài nghị luận – xã hội các em cần đọc kỹ phần đọc hiểu Có như vậy, các em mới nắm bắt được vấn đề cần nghị luận
b Kỹ năng lập dàn ý
* Xây dựng câu mở đoạn
Giống như phần mở bài vậy, câu mở đoạn phải có cái nhìn tổng quát, khái quát được nội dung mà đề thi yêu cầu Phải hiểu được đề thi bàn về vấn
đề gì Câu mở đoạn có thể dùng 1-3 câu.Cách xây dựng câu mở đoạn: nêu nội dung khái quát rồi dẫn câu nói vào (hoặc không dẫn nguyên câu thì trích cụm
từ khóa)
Ví dụ theo đề trên ta có thể viết như sau:
-Đi thực tế cuộc sống : Trong cuộc sống, để thành công trong mọi việc, chúng ta cần có lòng kiên nhẫn, đó là một trong những yếu tố quan trọng quyết định mọi thành bại của mỗi cá nhân
- Đi từ nhu cầu của bản thân đến đạo lý: Trên con đường chinh phục bản thân, hoàn thiện nhân cách, mỗi chúng ta cần phải trang bị cho mình rất nhiều đức tính tốt Lòng kiên nhẫn chính là một trong những đức tính vô cùng quan trọng của mỗi con người chúng ta
*Cách triển khai ý ở thân đoạn
- Giải thích vấn đề: Giải thích các cụm từ khóa, giải thích cả câu (cần ngắn
-Bàn luận, phân tích vấn đề:
+ Đặt ra các câu hỏi vì sao, tại sao Sau đó bình luận, chứng minh từng ý lớn, ý nhỏ, sắp xếp luận cứ một cách rõ ràng
+ Đưa ra dẫn chứng phù hợp, tiêu biểu, ngắn gọn, chính xác
+ Quan điểm của mình về vấn đề đó, đồng tình hay không đồng tình, phân tích theo quan điểm đó
+ Rút ra bài học nhận thức và hành động
Với đề trên tôi hướng dẫn học sinh nêu các ý sau:
- Biểu hiện của lòng kiên nhẫn: kiên trì theo đuổi mục tiêu, khi gặp khó khăn không bỏ cuộc Lấy dẫn chứng: quá trình đi tìm đường cứu 30 năm của Bác Hồ, kiên trì luyện viết bằng chân của nhà giáo Nguyễn Ngọc Ký…
- Ý nghĩa của lòng kiên nhẫn:
+ Giúp con người tèn luyện ý chí, nghị lực, không sợ vấp ngã
+ Giúp con người trở nên bản lĩnh tiến đến thành công thuật lợi hơn
Trang 13+ Luyện cho con người có sự dẻo dai, có kinh nghiệm sống và biết chấp nhận cả những thất bại
- Mở rộng vấn đề: Phê phán những người dễ nản chí, dễ bỏ cuộc, mất niềm tin
-Liên hệ với bản thân
- Liên hệ với những vấn đề tương tự Hoặc mở rộng vấn đề, có thể kết lại bằng một danh ngôn hay câu nói nổi tiếng
Với đề trên tôi hướng dẫn học sinh kết bài như sau:
+ Nói tóm lại, kiên nhẫn là một đức tính cần có ở mỗi người.Là học sinh chúng ta cần cố gắng nỗ lực, học tập, rèn luyện một ý chí vững vàng, để đối mặt với những khó khăn phía trước để cánh cửa thành công sẽ dễ dàng mở ra Hãy nhớ rằng :"Chúng ta chỉ thật sự thất bại mọi khi chúng ta từ bỏ mọi cố gắng" + Hoặc:Lòng kiên nhẫn là một đức tính đáng quý và cần có của mỗi con người Hãy biết trân trọng và giữ gìn phẩm chất này để thành công trên mọi con đường mà mình đang hướng tới
c Kỹ năng viết bài: Trên cơ sở dàn ý chi tiết đã xây dựng, tôi yêu cầu HS
viết bài theo cấu trúc và cách triển khai đoạn văn đã học Kỹ năng này HS luyện nhiều lần cho đến khi thành thục, nhuần nhuyễn Giáo viên thu bài, chấm chữa, nhận xét, chỉ ra điểm mạnh, điểm yếu để HS rút kinh nghiệm
- Yêu cầu về thao tác lập luận: giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận
- Yêu cầu về phạm vi tư liệu: đời sống xã hội
- Tính chất của đề: nghị luận về một hiện tượng trong đời sống có tính chất tiêu cực
Bước 2: Lập dàn ý
1 Mở đoạn: Giới thiệu về vấn đề cần nghị luận: hiện tượng sống ảo của
giới trẻ hiện nay
2 Thân đoạn
a Giải thích sống ảo là gì ?
Trang 14- Sống ảo là lối sống, cách sống không giống với hoàn cảnh thực của con người ở trên mạng xã hội
- Hiện nay, lối sống ấy được giới trẻ thể hiện có phần thái quá, lố bịch
- Sống ảo cũng có nghĩa là mơ tưởng, ảo tưởng về cuộc sống hiện tại
+ Có chuyện gì cũng đăng lên các trạng mạng xã hội
+ Đăng tải, chia sẻ những nội dung nhạy cảm nhằm mục đích câu like, thu hút sự tò mò, hiếu kỳ của đám đông
+ Trên mạng xã hội có thể chia sẻ rất cởi mở nhưng trong cuộc sống hiện thực thì lại thu mình, khép kín
- Nguyên nhân
+ Muốn thể hiện, khoe khoang bản thân
+ Muốn trở thành người nổi tiếng, được nhiều người biết đến
+ Thiếu sự quan tâm của gia đình, người thân
- Tác hại
+ Tiêu tốn nhiều thời gian vào những việc vô nghĩa
+ Không quan tâm đến cuộc sống ở thực tại
+ Mất tập trung vào học tập, công việc
+ Có thể dẫn đến những suy nghĩ, hành động tiêu cực
-Biện pháp khắc phục
+ Sử dụng mạng xã hội một cách hiệu quả
+ Có lối sống lành mạnh, tích cực tham gia các hoạt động tình nguyện, hoạt động xã hội để có cuộc sống ý nghĩa
+ Tuyên truyền cho mọi người biết về tác hại của việc sống ảo để mọi người có lối sống tích cực
3 Kết đoạn: Trình bày suy nghĩ, quan điểm của bản thân về hiện tượng
sống ảo
Đề 2: Từ nội dung đoạn trích phần đọc hiểu, em hãy viết đoạn văn khoảng 200 chữtrình bày suy nghĩ về sức mạnh của tình yêu thương trong cuộc sống (Đề thi của sở Giáo dục – Đào tạo tỉnh Thanh Hóa năm 2021)
Bước 1: Nhận diện đề
- Yêu cầu về nội dung: sức mạnh của tình yêu thương trong cuộc sống
- Yêu cầu về thao tác lập luận: giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận
- Yêu cầu về phạm vi tư liệu: đời sống xã hội