Trong hai phần này thì đọc - hiểu là phần đòi hỏi mức độ kiến thức cũng như kĩ năng làm bài của học sinh nhẹnhàng hơn, dễ lấy điểm hơn so với phần Tạo lập văn bản.. Với những kinh nghiệm
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GD&ĐT YÊN ĐỊNH
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
HƯỚNG DẪN HỌC SINH LỚP 9 LÀM PHẦN ĐỌC - HIỂU
TRONG BÀI THI MÔN NGỮ VĂN VÀO LỚP 10
Người thực hiện: Phùng Chung Thủy
Trang 2MỤC LỤC
4.2 Kĩ năng làm một số dạng câu hỏi đọc - hiểu 10
4.2.3 Câu hỏi khái quát nội dung/ xác định câu chủ đề/ đặt nhan đề 114.2.4 Câu hỏi nêu nêu ý nghĩa của một hình ảnh, chi tiết, từ ngữ 13
4.2.7 Câu hỏi giải thích ý kiến của tác giả (Vì sao? Tại sao?) 164.2.8 Câu hỏi đồng tình hay không đồng tình với một ý kiến/quan điểm 17
5 Kiểm tra kiến thức HS thông qua luyện tập và thử sức với các đề thi 18
IV Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với
bản thân, đồng nghiệp và nhà trường
19
Trang 3MỞ ĐẦU
I Lí do chọn đề tài
Mùa thi đã gần kề, hàng triệu học sinh cuối cấp đang ráo riết chuẩn bịcho lần “vượt vũ môn” của mình Đối với học sinh lớp 9, kỳ thi tuyển sinhvào lớp 10 được đánh giá là bước ngoặt cuộc đời Bởi đây là kỳ thi có tínhquyết định đến việc lựa chọn môi trường học tập mới, tự lập hơn trong 3 nămtới và định hướng cho tương lai sau này của các em Do đó học sinh phải có
sự chuẩn bị thật chu đáo và kĩ lưỡng cho lần “vượt vũ môn” này
Xét về kiến thức thì đây là kì thi không đòi hỏi mức độ khó như những
kì thi học sinh giỏi nhưng lại có tính chất cạnh tranh cao và là nấc thang đầuđời ảnh hưởng trực tiếp đến tương lai của bản thân học sinh Thế nhưng thực
tế cho thấy, từ lớp 1 đến lớp 9 các em chưa lần nào trải qua kì thi như thế này,
do đó các em chưa có kinh nghiệm và chưa ý thức nhiều về sự cạnh tranh khicác bạn của mình sẽ là “đối thủ” trực tiếp Thành công của học tập chỉ dànhcho những em chịu khó, có ý thức học tập, được sự kèm cặp và định hướngcủa gia đình và nhà trường
Đặc biệt đối với các em có học lực trung bình thì đây là kì thi căngthẳng và áp lực Bởi dung lượng kiến thức các môn thi rất nhiều, thời gian ônlại gấp rút nên khó có thể nắm hết được khối lượng kiến thức đó Vì vậy vấn
đề đặt ra ở đây là làm thế nào để học sinh có thể làm tốt bài thi vào 10?
Thêm váo đó, trong những năm gần đây, bài thi vào lớp 10 môn Ngữvăn ở tỉnh Thanh Hóa đã có sự đổi mới về cấu trúc đề thi Một đề thi sẽ gồm
có hai phần: Đọc - hiểu và Tạo lập văn bản Trong hai phần này thì đọc - hiểu
là phần đòi hỏi mức độ kiến thức cũng như kĩ năng làm bài của học sinh nhẹnhàng hơn, dễ lấy điểm hơn so với phần Tạo lập văn bản Vì vậy, để tránhđiểm liệt, tránh mất điểm trong bài thi giáo viên cũng đã tập trung hướng dẫnhọc sinh học phần này Tuy nhiên qua những năm ôn thi, bản thân tôi thấy đểgiúp học sinh làm tốt phần đọc - hiểu cũng có những khó khăn nhất định Đó
là dung lượng kiến thức nhiều dàn trải từ lớp 6 đến lớp 9 Câu hỏi đọc - hiểu
là một kiểu dạng khá mới mẻ, chưa được cụ thể hóa thành một bài học riêngtrong chương trình Ngữ văn, học sinh không được hướng dẫn bài bản nhưnhững nội dung kiến thức khác Tất cả đều trông chờ vào sự hướng dẫn củathầy cô, thiếu đi phần nào sự chủ động trong học tập
Xuất phát từ thực tế đó, bản thân tôi luôn trăn trở tìm ra cho mìnhhướng đi hiệu quả trong việc truyền đạt kiến thức và kinh nghiệm làm bài thivào lớp 10 môn Ngữ văn nói chung và phần đọc - hiểu nói riêng Với những
kinh nghiệm có được, tôi xin mạnh trình bày sáng kiến kinh nghiệm “Hướng
dẫn học sinh lớp 9 làm phần Đọc - hiểu trong bài thi môn Ngữ văn vào lớp 10” để bạn bè đồng nghiệp cùng tham khảo và góp ý.
II Mục đích nghiên cứu
Đối với học sinh: Giúp học sinh nắm vững kiến thức, kĩ năng, phươngpháp làm phần Đọc – hiểu trong bài thi môn Ngữ văn vào lớp 10, từ đó làm nềntảng cho các kì thi những năm học tiếp theo ở cấp THPT
Trang 4Đối với giáo viên: Tích lũy thêm cho mình những kinh nghiệm trong dạyhọc, nâng cao trình độ chuyên môn Có những kĩ năng, phương pháp phù hợpcho từng đơn vị kiến thức, góp phần nâng cao chất lượng dạy học.
III Đối tượng nghiên cứu
- Về kiến thức: Phần Đọc - hiểu trong bài thi vào lớp 10 môn Ngữ văn
- Đối tượng áp dụng: Học sinh lớp 9A Trường THCS Yên Giang – YênĐịnh – Thanh Hóa năm học 2021 - 2022
IV Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lí thuyết: Nghiên cứu lí thuyết môn học vớinhiều mức độ khác nhau để làm cơ sở đi đến thực hành
- Phương pháp quan sát: Quan sát để thu thập các thông tin trong quátrình đúc rút kinh nghiệm Có thể quan sát thông qua việc dự giờ đồng nghiệp,quá trình học tập của học sinh, tự kiểm nghiệm của bản thân Việc quan sát cóthể diễn ra trong suốt một quá trình
- Phương pháp so sánh: Phân loại, đối chiếu kết quả trước và sau khi ápdụng những kinh nghiệm vừa tìm tòi đối với học sinh
- Phương pháp phân tích, thống kê, tổng hợp: bằng cách nêu vấn đề rồi
đi phân tích, sau đó thống kê và tổng hợp lại vấn đề một cách khái quát nhất
- Ngoài ra còn sử dụng các phương pháp dạy học tích cực trong quátrình tổ chức dạy học giữa giáo viên và học sinh như: phát hiện và giải quyếtvấn đề, hoạt động nhóm, vấn đáp, đàm thoại…
NỘI DUNG
I Cơ sở lí luận của vấn đề
Văn chương là nghệ thuật của cái đẹp, dùng ngôn từ làm chất liệu đểxây dựng hình tượng, phản ánh và biểu hiện đời sống Dạy học văn phảihướng học sinh đến khả năng giải mã những tín hiệu thẩm mĩ, phát hiệnthông điệp mà tác giả gửi qua tác phẩm bằng chính năng lực của bản thân.Trong rất nhiều cách để chiếm, lĩnh truy tìm, giải mã ý nghĩa của văn
chương thì đọc - hiểu được coi là hoạt động đầu tiên và cơ bản nhất Trong
đó đọc là hoạt động của con người, dùng mắt để nhận biết các kí hiệu và chữ
viết, dùng trí óc để tư duy và lưu giữ những nội dung mà mình đã đọc và sửdụng bộ máy phát âm phát ra âm thanh nhằm truyền đạt đến người nghe Còn
hiểu là phát hiện và nắm vững mối liên hệ của sự vật, hiện tượng, đối tượng nào đó và ý nghĩa của mối quan hệ đó Hiểu còn là sự bao quát hết nội dung
và có thể vận dụng vào đời sống Hiểu là phải trả lời được các câu hỏi Cái gì? Như thế nào? Làm thế nào?
Đọc - hiểu là đọc kết hợp với sự hình thành năng lực giải thích, phântích, khái quát, biện luận đúng- sai về logic, nghĩa là kết hợp với năng lực, tưduy và biểu đạt Mục đích trong tác phẩm văn chương đọc - hiểu là phải thấy
Trang 5được: Nội dung của văn bản; mối quan hệ ý nghĩa của văn bản do tác giả tổchức và xây dựng; ý đồ, mục đích Thấy được tư tưởng của tác giả gửi gắmtrong tác phẩm; giá trị đặc sắc của các yếu tố nghệ thuật; ý nghĩa của từ ngữđược dùng trong cấu trúc văn bản; thể loại của văn bản, hình tượng nghệthuật…
Như vậy, đọc - hiểu là hoạt động đọc và giải mã các tầng ý nghĩa củavăn bản thông qua khả năng tiếp nhận của học sinh Đọc- hiểu là tiếp xúc vớivăn bản, hiểu được nghĩa hiển ngôn, nghĩa hàm ẩn, các biện pháp nghệ thuật,thông hiểu các thông điệp tư tưởng, tình cảm của người viết và giá trị tự thâncủa hình tượng nghệ thuật Với quan điểm phát huy vai trò chủ thể của họcsinh, xuất phát từ đặc thù của văn chương (nghệ thuật ngôn từ), mà vấn đềđọc - hiểu văn bản ngày càng được quan tâm
Như vậy ta thấy, đọc - hiểu có vai trò quan trọng, là năng lực then chốtgiúp học sinh thành công trong cuộc sống và trong học tập, tạo ra nền tảngcho các em khám phá những chân trời tri thức rộng lớn Chỉ khi có kĩ năngđọc, học sinh mới có thể hiểu được đầy đủ ý nghĩa của văn bản và dự đoánđược những điều sẽ xảy ra tiếp theo
Do đó, từ năm 2014 Bộ GD&ĐT đưa phần đọc - hiểu vào đề thi mônNgữ văn để đổi mới kiểm tra, đánh giá năng lực đọc - hiểu của học sinh Việclàm này có tác động tích cực đến quá trình rèn khả năng tiếp nhận văn bảnđọc - hiểu của các em
II Thực trạng của vấn đề
Nhằm phát huy khả năng chủ động tiếp cận văn bản ở học sinh, tuyểnsinh vào lớp 10 năm học 2019 - 2020 Sở GD&ĐT Thanh Hóa đã chính thứcđưa câu hỏi đọc - hiểu vào đề thi môn Ngữ văn Tuy nhiên điều này đã khiếncho giáo viên và học sinh tỏ ra lúng túng, bỡ ngỡ Bởi vì không có nhiềutài liệu, bài viết chuyên sâu để tham khảo, chưa được cụ thểhóa thành một bài học riêng trong chương trình Ngữ văn Hơnnữa kiến thức đọc - hiểu khá rộng, là phần tích hợp khối lượngkiến thức nằm rải rác trong chương trình Ngữ văn THCS ở cả
ba phân môn Văn bản - Tiếng Việt - Tập làm văn Bên cạnh đócâu hỏi trong phần đọc - hiểu, phạm vi ngữ liệu đọc - hiểu rấtphong phú và đa dạng, chủ yếu nằm ngoài chương trình Tất cảđiều này đã gây khó khăn cho giáo viên và học sinh trong quá trình dạy vàlàm đề đọc - hiểu, ảnh hưởng ít nhiều đến chất lượng, kết quả bài thi của họcsinh
Cùng với yếu tố khách quan ở trên thì yếu tố chủ quan từ bản thân giáoviên và học sinh cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến những hạnchế trong quá trình dạy học phần đọc - hiểu Trong quá trình giảng dạy và traođổi kinh nghiệm với đồng nghiệp, bản thân tôi thấy có nhiều giáo viên chỉ chútrọng đến việc đọc - hiểu các văn bản trong chương trình mà chưa thật sự chútrọng đến việc rèn luyện kĩ năng đọc - hiểu các văn bản ngoài chương trình
Trang 6cho học sinh Còn không ít giáo viên chưa triển khai dạy đọc - hiểu theo chiếnlược bài bản mà tùy hứng, qua loa Đôi khi việc hướng dẫn học sinh làm đềđọc - hiểu còn mang tính áp đặt, chưa phát huy được khả năng tư duy, sángtạo, tích cực của học sinh, làm mất đi phần nào hứng thú, ham thích của họcsinh trong quá trình học.
Còn về phía học sinh có nhiều em vẫn tồn tại thái độ học tập thụ động,lười suy nghĩ, ngại tiếp cận cái mới, quen làm theo những công thức khuânmẫu có sẵn, thích được gợi ý và định hướng Chính vì điều này đã hạn chếkhả năng cảm nhận, thấu hiểu, tưởng tượng và tuy duy của học sinh, hìnhthành nên thói quen máy móc trong quá trình học tập Còn có một thực trạngđang tồn tại nữa là vốn kiến thức về tác phẩm ngoài chương trình của học sinhcòn mỏng nên khi tiếp cận với những ngữ liệu mới mẻ là các em thường lúngtúng, hoang mang, thiếu kĩ năng xử lí trước những ngữ liệu mới
Tất cả những thực trạng trên đã ảnh hưởng đến kết quả làm bài đọc hiểu cho học sinh trong nhà trường Tôi đã thống kê kết quả khảo sát phầnđọc - hiểu đầu năm của học sinh lớp 9A trong năm học 2021- 2022 như sau:
-Lớp Sĩ số 3 điểm
(Điểm tối đa)
Điểm từ 2 2,5
Điểm từ 1 1,5
Điểm từ 0 0,5
III Các giải pháp sử dụng để giải quyết vấn đề
1 Xác định cấu trúc phần đọc – hiểu
Trong đề thi môn Ngữ văn vào 10, phần đọc - hiểu có cấu trúc gồm
hai phần: văn bản đọc - hiểu (hay còn gọi là ngữ liệu) và hệ thống câu hỏi đi
kèm phía dưới ngữ liệu
1.1 Ngữ liệu đọc hiểu
Một điều chúng ta dễ dàng nhận thấy các ngữ liệu trong phần đọc - hiểucủa bài thi Ngữ văn vào lớp 10 thường là một đoạn trích, một văn bản ngắn cóthể thuộc bất cứ kiểu loại văn bản mà học sinh đã được học trong chươngtrình và hầu hết không nằm trong các văn bản ở sách giáo khoa, hoàn toànmới lạ được lấy từ nhiều nguồn như các tài liệu tham khảo dành cho học sinhcủa các tác giả nổi tiếng, các bài báo hay các công trình nghiên cứu có ý
nghĩa, các câu chuyện trích trong Quà tặng cuộc sống Tuy nhiên những ngữ
liệu này sẽ phù hợp với năng lực của học sinh
Ngữ liệu phần đọc - hiểu thường thuộc các phong cách ngôn ngữ khácnhau như: văn chương (một đoạn thơ, truyện ngắn ), báo chí (một trích đoạn,một bài báo trên các phương tiện truyền thông), khoa học (công trình nghiêncứu được công bố, đăng trên tạp chí khoa học), chính luận (bàn về chính trị xãhội, những vấn đề bức thiết trong cuộc sống hàng ngày) …
Trang 7Nội dung ngữ liệu rất đa dạng, phong phú, đó là những nội dung hướnghọc sinh đến những vấn đề liên quan đến sự hình thành, hoàn thiện nhân cách,đạo đức, lối sống đẹp cho học sinh Đó có thể là vấn đề đặt ra mang tính thời
sự (môi trường sống, những hiện tượng bức thiết hoặc gần gũi diễn ra trongđời sống của con người), hoặc những vấn đề liên quan đến những chuẩn mựcđạo đức xã hội, những kĩ năng sống (lòng yêu thương con người, tình yêu quêhương đất nước, lòng biết ơn cha mẹ, tình mẫu tử, tình thầy trò, lòng baodung nhân ái), sống cống hiến tự lập, tự tin, nghị lực, khát vọng
1.2 Câu hỏi đọc - hiểu
Thông thường trong phần đọc - hiểu sẽ có 4 câu hỏi (tổng là 3 điểm)gồm ba mức độ từ thấp đến cao: nhận biết - thông hiểu - vận dụng Do đó sốđiểm cho từng câu sẽ tùy thuộc vào mức độ kiến thức của câu hỏi đề ra
Phần kiến thức của đề đọc - hiểu ở ba mức độ thường sẽ đề ra nhữngyêu cầu về kiến thức và kĩ năng trình bày như sau:
- Mức độ nhận biết: Câu hỏi thường đề cập đến các vấn đề sau: xácđịnh phương thức biểu đạt, thể thơ, chỉ ra các biện pháp tu từ, xác định thànhphần biệt lập, khởi ngữ, cách dẫn trực tiếp và cách dẫn gián tiếp, nghĩa gốcnghĩa chuyển… Mục đích của mức độ này là kiểm tra, đánh giá kiến thứcTiếng Việt, kiến thức Tập làm văn, kiến thức về đặc điểm tổ chức của văn bảnngôn từ đối với học sinh ở mức độ nhận diện Yêu cầu của mức độ này là chỉ
ra và gọi tên chính xác các đối tượng theo những yêu cầu câu hỏi đọc - hiểu
- Mức độ thông hiểu: Nêu chủ đề hoặc nội dung chính của ngữ liệu, đặtnhan đề cho ngữ liệu, tác dụng của biện pháp tu từ, nêu ý nghĩa của chi tiết,hình ảnh có trong văn bản Mục đích của mức độ này là kiểm tra đánh giákhả năng huy động, tổng hợp các kiến thức để nắm bắt đúng thông tin, nộidung, đặc sắc nghệ thuật của ngữ liệu Yêu cầu trả lời các câu hỏi ngắn gọn,đúng trọng tâm
- Mức độ vận dụng: Viết một đoạn văn khoảng 5 đến 7 dòng nêu vàbộc lộ tình cảm, suy nghĩ của học sinh về những bài học, bức thông điệp màtác giả gửi đến bạn đọc qua phần ngữ liệu Mục đích là kiểm tra đánh giákhả năng chủ động tạo nên mối liên kết giữa văn bản đọc - hiểu với cuộc đờirộng lớn Vận dụng những điều thu nhận được từ văn bản vào việc điều chỉnhquan niệm, nhận thức, thái độ, hành vi của bản thân Yêu cầu học sinh liên hệ
và bày tỏ quan điểm cá nhân ở mức độ chung nhất
Xác định được các mức độ trong đề đọc - hiểu để học sinh chủ động vềkiến thức, điều chỉnh thời gian, cách trình bày đối với từng câu hỏi sao chođạt hiệu quả
Ví dụ (Ngữ liệu 1): Đề thi môn Ngữ văn vào lớp 10 của Sở GD&ĐT
Thanh Hóa năm học 2021 - 2022, phần đọc - hiểu như sau:
Đọc đoạn trích:
Tình yêu thương chân thật thường rất vị tha Người có tình yêu thương chân thật thường nghĩ nhiều đến hạnh phúc của người khác hơn là của bản
Trang 8thân mình Tình yêu ấy làm cho chúng ta thay đổi bản thân và ngày một trưởng thành hơn Tình yêu thương chân thành và sâu sắc bao giờ cũng trường tồn ngay cả sau khi người đó đã từ giả cõi đời Tuy nhiên, yêu thương không được bày tỏ thì không bao giờ đạt được ý nghĩa đích thực của nó (…)
Hãy bày tỏ tình yêu thương với mọi người xung quanh ngay khi chúng
ta còn hiện diện trong cuộc sống này Hãy nhớ rằng tình yêu thương là ngọnlửa sưởi ấm cuộc đời của mỗi chúng ta Bạn đừng ngần ngại khi muốn nói với
ai đó rằng bạn rất yêu quý họ!
(Trích Cho đi là còn mãi, Azim Jamal
& Harvey MeKinnon, NXB Trẻ, 2010, tr 56-57)
Thực hiện các yêu cầu sau:
Câu 1 Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích Câu 2 Theo đoạn trích, người có tình yêu thương chân thật thường nghĩ gì? Câu 3 Nêu tác dụng của biện pháp tu từ so sánh được sử dụng trong câu văn:
Hãy nhớ rằng tình yêu thương là ngọn lửa sưởi ấm cuộc đời của mỗi chúng ta.
Câu 4 Anh/chị có đồng tình với nhận định của tác giả: yêu thương không
được bày tỏ thì không bao giờ đạt được ý nghĩa đích thực của nó? Vì sao?
Với đề trên ta thấy phần ngữ liệu chính là phần chữ in nghiêng; hệthống câu hỏi được đặt ở phía dưới ngữ liệu Gồm có 4 câu hỏi, trong đó câu
1 và câu 2 ở mức độ nhận biết, câu 3 là mức độ thông hiểu và câu 4 là mức độvận dụng
2 Xác định các dạng câu hỏi của phần đọc - hiểu
Vì kiến thức của phần đọc - hiểu là kiến thức tổng hợp, dàn trải từ lớp
6 cho đến lớp 9 bao gồm cả 3 phân môn Văn bản - Tiếng Việt - Tập làm vănnên để học sinh chủ động nội dung kiến thức cần phải có và làm quen vớicác dạng câu hỏi thì trong quá trình dạy tôi thường xác định cho học sinhmột số dạng câu hỏi thường gặp trong đề đọc - hiểu Cụ thể như sau:
2.1 Dạng câu hỏi kiểm tra kiến thức Tiếng Việt
- Câu hỏi về biện pháp tu từ
- Câu hỏi về phương châm hội thoại
- Câu hỏi về nghĩa gốc, nghĩa chuyển và phương thức chuyển nghĩa
- Câu hỏi về thành phần khởi ngữ, thành phần biệt lập
- Câu hỏi về nghĩa tường minh và hàm ý
2.2 Dạng câu hỏi kiểm tra kiến thức Tập làm văn
- Câu hỏi về phương thức biểu đạt
- Câu hỏi về cách dẫn trực tiếp và cách dẫn gián tiếp
- Câu hỏi về các phép liên kết
- Câu hỏi về chủ đề trong văn bản
- Câu hỏi về cách trình bày đoạn văn
2.3 Dạng câu hỏi kiểm tra kiến thức Văn bản
Trang 9- Câu hỏi về thể thơ
- Câu hỏi về nội dung chính của văn bản
- Câu hỏi đặt nhan đề cho văn bản
- Câu hỏi nêu ý nghĩa của chi tiết, hình ảnh
2.4 Dạng câu hỏi trình bày suy nghĩ, quan điểm
Đây là dạng câu hỏi có sự phân hóa rõ nhất và mức độ kiến thức khónhất, đòi hỏi học sinh phải vận dụng sự hiểu biết thực tế cuộc sống, sự tư duy
để đưa ra câu trả lời Gồm những câu hỏi sau:
- Câu hỏi đưa ra cách hiểu/ suy nghĩ
- Câu hỏi giải thích ý kiến của tác giả (Vì sao? Tại sao?)
- Câu hỏi đồng tình hay không đồng tình với một ý kiến/ quan điểm
- Câu hỏi rút ra bài học/ thông điệp
Ví dụ (Ngữ liệu 2): Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi
Khi ngồi ở bậc thềm trước nhà, tôi nhìn thấy một con kiến đang tha chiếc lá trên lưng Chiếc lá lớn hơn con kiến gấp nhiều lần.
Bò được một lúc, con kiến chạm phải một vết nứt khá lớn trên nền xi măng Nó dừng lại giây lát Tôi tưởng con kiến hoặc là quay lại, hoặc là sẽ một mình bò qua vết nứt đó Nhưng không Con kiến đặt chiếc lá ngang qua vết nứt trước, sau đó đến lượt nó vượt qua bằng cách vượt lên trên chiếc lá Đến bờ bên kia, con kiến lại tiếp tục tha chiếc lá và tiếp tục cuộc hành trình.
Hình ảnh đó bất chợt làm tôi nghĩ rằng tại sao mình không thể học loài kiến nhỏ bé kia, biến những trở ngại khó khăn của ngày hôm nay thành hành trang quý giá cho ngày mai tươi sáng hơn!
(Theo Hạt giống tâm hồn, tập 5, NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2013)
Với ngữ liệu này, có thể ra dạng câu hỏi trình bày suy nghĩ, quan điểmnhư sau
Câu 1 Vì sao tác giả cho rằng: “tại sao mình không thể học loài kiến
nhỏ bé kia, biến những trở ngại khó khăn của ngày hôm nay thành hành trang quý giá cho ngày mai tươi sáng hơn!”?
Câu 2 Bài học tác giả muốn gửi đến người đọc là gì?
3.1 Các phương thức biểu đạt
Từ lớp 6 đến lớp 9, học sinh đã được học 6 phương thức biểu đạt, baogồm: tự sự, miêu tả, biểu cảm, thuyết minh, nghị luận và hành chính công vụ
Trang 10Mỗi phương thức biểu đạt sẽ có đặc điểm và mục đích khác nhau Điều đóđược thể hiện ở sơ đồ tư duy sau:
Thất ngôn bát cú Mỗt bài thơ gồm 8 câu, mỗi câu 7 tiếng
Thơ 5 chữ Mỗi câu thơ có 5 tiếng, không quy định về số câu và
thanh điệuThơ 7 chữ Mỗi câu thơ có 7 tiếng, không quy định về số câu và
thanh điệuThơ 8 chữ Mỗi câu thơ có 8 tiếng, không quy định về số câu và
thanh điệuThơ tự do Số tiếng trong mỗi câu thơ không đều nhau
Thơ văn xuôi Không có vần, đọc như văn xuôi
3.3 Các biện pháp tu từ
Đây là phần kiến thức khá là khó và thường xuất hiện trong phần đọc hiểu, do đó tôi dành khá nhiều thời gian để củng cố cho các em Gồm có cácbiện pháp tu từ so sánh, ẩn dụ, nhân hóa, hoán dụ, nói quá, nói giảm nói tránh,điệp ngữ, chơi chữ, liệt kê Ngoài ra còn có các biện pháp tu từ được họctrong các văn bản như tương phản, tăng tiến, đảo ngữ, đối, câu hỏi tu từ Mỗibiện pháp đều có dấu hiệu nhận biết và hiệu quả diễn đạt khác nhau Sau đây
-là đặc điểm của các biện pháp tu từ trọng tâm:
Trang 113.4 Kiến thức phần Tiếng Việt và Tập làm văn lớp 9
- Các phương châm hội thoại
Thànhphần cảmthán
Thànhphần gọi
- đáp
Thànhphần phụchú
Trang 12- Liên kết câu và liên kết đoạn văn
-
Ngoài ra lớp 9 còn có các nội dung kiến thức như: Sự phát triển từ vựng, Khởi ngữ, Cách dẫn trực tiếp và cách dẫn gián tiếp, Thành phần biệt lập, Nghĩa tường minh và hàm ý…
3.5 Một số kiến thức khác về đoạn văn, văn bản
- Đọc nhan đề (nếu có) và phần chú thích nguồn ở phía dưới văn bản
- Đọc nhanh các câu hỏi phía dưới
- Đọc/ gạch chân/ ghi chú phần nội dung của ngữ liệu
Với cách đọc ngược như vậy thì trong quá trình đọc ngữ liệu sẽ cónhững câu hỏi học sinh đã tìm được đáp án luôn
Chẳng hạn ở Ngữ liệu 1 phía trên với câu hỏi số 2 thì học sinh sẽ tìm
được đáp án luôn trong quá trình đọc ngữ liệu (Câu 2 Theo đoạn trích,
Trang 13người có tình yêu thương chân thật thường nghĩ gì? =>Người có tình yêu thương chân thật thường nghĩ nhiều đến hạnh phúc của người khác hơn là của bản thân mình.)
* Kĩ năng trả lời
- Nên trình bày các câu theo thứ tự từ câu 1 đến câu 4 Những câu chưabiết làm thì nên bỏ cách dòng (từ 3 đến 5 dòng tùy thuộc vào nội dung củacâu hỏi) rồi hoàn thiện sau (để tránh việc giáo viên chấm bị nhầm lẫn giữa câunày với câu khác hoặc bỏ sót)
- Trả lời trực tiếp vào câu hỏi, theo kiểu “hỏi gì đáp nấy” Câu trả lờinên chính xác đầy đủ, ngắn gọn, trình bày khoa học
- Không cần mở bài và kết bài, không nên gạch đầu dòng, không nêntrả lời trống không, cụt lủn mà nên viết mỗi ý trong câu hỏi thành các câu vănhoàn chỉnh hoặc đoạn văn nhỏ khoảng 3 đến 5 dòng
Lưu ý: Bài viết trình bày ngắn gọn khoảng trên một mặt tờ giấy thi.Thời gian làm bài khoảng từ 20 đến 25 phút
4.2 Kĩ năng làm một số dạng câu hỏi đọc – hiểu
Phần này tôi chỉ tập trung vào những câu hỏi khó hoặc những câu hỏi
mà các em học sinh thường hay mắc lỗi trong quá trình làm
4.2.1 Câu hỏi về phương thức biểu đạt:
Có hai lỗi học sinh thường mắc phải khi xác định phương thức biểu đạt:
- Thứ nhất, học sinh không xác định đúng hoặc không biết phương thứcbiểu đạt nào là chính Muốn khắc phục lỗi này thì học sinh cần nắm chắc kiếnthức về phương thức biểu đạt
- Thứ hai, học sinh mắc lỗi khi phân tích yêu cầu của câu hỏi Thường
có 2 cách hỏi như sau:
Câu 1 Xác đinh phương thức biểu đạt chính?
Câu 2 Chỉ ra các (những) phương thức biểu đạt?
Yêu cầu câu hỏi rất rõ ràng nhưng vẫn có nhiều học sinh bị nhầm lẫn,trả lời không đúng trọng tậm Trả lời thừa phương thức biểu đạt (đối với câu1) hoặc thiếu phương thức biểu đạt (đối với câu 2) Cách khắc phục:
- Với câu 1, đề yêu cầu xác định phương thức biểu đạt chính thì trong
phần trả lời học sinh chỉ nêu duy nhất một phương thức biểu đạt chính Chẳnghạn nếu ngữ liệu đó thuộc văn bản tự sự thì phương thức biểu đạt chính là tựsự…
- Với câu 2 đề yêu cầu chỉ ra các (những) phương thức biểu đạt thì
trong phần trả lời, học sinh phải nêu tất cả các phương thức biểu đạt có trongngữ liệu đó
Ví dụ: Ở ngữ liệu 2 “Vết nứt và con kiến” ở trên, nếu đề yêu cầu:
- Xác định phương thức biểu đạt chính thì học sinh phải có câu trả lờinhư sau: “Phương thức biểu đạt chính của văn bản trên là tự sự”