Sau đó là đến văn biểu cảm vì văn biểu cảm là văn bản, trong đó,tác giả là người viết, người làm văn sử dụng các phương tiện ngôn ngữ vàphương tiện thực tế để biểu đạt tư tưởng, tình cảm
Trang 12.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh
2.3.1 Rèn luyện cho học sinh ôn luyện, củng cố những kiến
thức cơ bản về đặc điểm của văn biểu cảm
4
2.3.2 Rèn luyện kĩ năng tìm hiểu đề, tìm ý, lập dàn ý ở bài văn
biểu cảm
6
2.3.2.2 Rèn kỹ năng tìm ý trong bài văn biểu cảm 72.3.2.3 Rèn kỹ năng lập dàn ý trong văn biểu cảm 82.3.2.4 Rèn luyện cho học sinh kỹ năng viết đoạn văn biểu cảm 8
2.3.2.4.3 Rèn luyện kỹ năng viết đoạn văn biểu cảm 102.3.2.4.4 Rèn luyện cho học sinh kỹ năng viết từng phần cho bài
Trang 2
1 Mở đầu:
1.1 Lí do chọn đề tài:
Trong thời kì khoa học kĩ thuật phát triển mạnh mẽ như ngày nay, nghànhgiáo dục phải đào tạo ra nguồn nhân lực thích ứng với sự phát triển khoa học-công nghệ Chính vì vậy, đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn nói riêng vàcác môn học khác nói chung đã và đang diễn ra một cách toàn diện và đồng bộ
từ nội dung chương trình, nội dung sách giáo khoa, cách kiểm tra đánh giá họcsinh cũng như đổi mới các phương pháp, kĩ thuật dạy học nhằm phát huy tínhtích cực, tự giác chủ động của học sinh trong việc chiếm lĩnh tri thức
Trong nhà trường tập làm văn là phân môn có vị trí đặc biệt quan trọnggiúp học sinh tạo ra được ngôn bản nói và viết theo phong cách chức năng ngônngữ, hình thành và phát triển năng lực tạo lập ngôn bản Trong các nhóm dạngbài tập làm văn, ngoài văn nghị luận là dạng khó nhất đối với học sinh, đặc biệtđối với học sinh THCS Vì nó không chỉ đòi hỏi phải có kiến thức chính xác, sâurộng, phong phú; những suy nghĩ, quan điểm đúng đắn về văn chương, về đờisống xã hội, mà còn đòi hỏi cả sự tư duy lôgic, chặt chẽ, với những cách lập luậnsắc sảo, thấu tình đạt lý thì mới có thể hấp dẫn thuyết phục được người đọc,người nghe Sau đó là đến văn biểu cảm vì văn biểu cảm là văn bản, trong đó,tác giả (là người viết, người làm văn) sử dụng các phương tiện ngôn ngữ vàphương tiện thực tế để biểu đạt tư tưởng, tình cảm của mình
Nói biểu cảm là trữ tình, là bộc lộ tình cảm, cảm xúc chủ quan của conngười Biểu cảm là bộc lộ những cảm xúc mà người viết cảm thấy ở trong lòng,những ấn tượng thầm kín về con người sự vật, những kỷ niệm, hồi ức gợi nhớđến người, đến việc, bộc lộ tình cảm yêu ghét, mến thân đối với cuộc đời Dovậy biểu cảm là biểu hiện những tình cảm, cảm xúc dấy lên ở trong lòng, chứkhông phải có những việc làm, hành động nào đó để biểu hiện ra ngoài một cáchthái quá Biểu cảm thường gắn với gợi cảm Bởi mục đích của bài văn biểu cảm
là khêu gợi sự đồng cảm của người đọc, sao cho người đọc cảm nhận được cảmxúc của người viết Trong thực tế có rất nhiều học sinh còn lúng túng khi làm thểloại văn biểu cảm.Vậy làm thế nào để nâng cao chất lượng cho học sinh khi làmvăn biểu cảm? Và làm gì để học sinh hứng thú học tập phân môn tập làm văn –thể loại văn biểu cảm? Đó là điểu trăn trở của phần lớn giáo viên dạy môn ngữvăn cấp THCS Bản thân tôi thấy, đây là vấn đề để nghiên cứa khoa học giáo dục
thiết thực trong nhà trường hiện nay Chính vì vậy mà tôi chọn vấn đề“Một số biện pháp rèn luyện kĩ năng nâng cao hiệu quả làm văn biểu cảm cho học sinh lớp 7”
1 2 Mục đích nghiên cứu:
Bản thân luôn suy nghĩ làm thế nào để nâng cao chất lượng dạy học mônNgữ văn nói chung và dạy học kiểu bài văn biểu cảm nói riêng Qua đề tài nàymuốn các đồng nghiệp chia sẻ cùng tôi những kinh nghiệm giảng dạy để tìm ranhững giải pháp thiết thực, khả thi nhất khi dạy kiểu bài văn biểu cảm ở lớp 7.Khi học kiểu bài, các em không những nắm vững yêu cầu, kỹ năng của kiểu bàivăn biểu cảm, mà còn hiểu: muốn viết văn biểu cảm hay, thì cần tu dưỡng tìnhcảm, đạo đức cho cao đẹp, trong sáng, có lòng nhân ái cao thượng, biết vươn tớichân thiện mĩ
Trang 31 3 Đối tượng nghiên cứu:
- Phương pháp, kĩ năng làm bài văn biểu cảm ở lớp 7
- Học sinh lớp 7A năm học 2020-2021 và học sinh lớp 7A1, 7A2 học kì I,năm học 2021-2022
1 4 Phương pháp nghiên cứu:
Để thực hiện đề tài trên tôi đã vận dụng các phương pháp chủ yếu sau:
- Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lí thuyết
- Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế, so sánh
- Các phương pháp dạy học tích cực
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm
- Phương pháp thống kê, tổng hợp và xử lí số liệu
- Phương pháp phân tích và tổng kết kinh nghiệm giáo dục
1.5 Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm
Sáng kiến kinh nghiệm tập trung vào việc phát huy tính tích cực chủ động
và tự giác học tập của học sinh về phân môn tập làm văn kiểu bài văn biểu cảm.Người giáo viên cần nắm vững hệ thống sáu bài học và luyện tập của văn biểucảm Giúp học sinh có kĩ năng làm văn biểu cảm đạt hiệu quả cao, có ví dụ minhhọa cụ thể sinh động phù hợp với đối tượng học sinh
2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm 2.1 Cơ sở lý luận của vấn đề:
Trong cuộc sống, con người luôn luôn có nhu cầu bộc lộ tình cảm, thái độđối với thế giới xung quanh Một sự vật, một phong cảnh, một con người, mộtbuổi biểu diễn văn nghệ, một bài thơ, một cuốn sách đều khơi gợi những tìnhcảm, cảm xúc, sự đánh giá của người tiếp xúc Khi chúng ta thể hiện tình cảm,cảm xúc, sự đánh giả của mình đối với các đối tượng ấy trên trang giấy, chính làchúng ta đã tạo ra văn biểu cảm
Con người có nhu cầu biểu cảm rất lớn, bởi con người có tình cảm và cónhu cầu giao lưu tình cảm Nhưng không phải tình cảm nào cũng có thể viếtthành văn biểu cảm Những tình cảm tầm thường, nhỏ nhen như đố kỵ, thamlam, ích kỷ, ghen ghét người khác thì không nên viết ra, vì sẽ không có aiđồng cảm Những tình cảm trong văn biểu cảm phải là tình cảm đẹp, nhân ái, vịtha, cao thượng, tinh tế; nó góp phần nâng cao phẩm giá con người và phongphú tâm hồn con người Cho nên, muốn viết văn biểu cảm hay, học sinh cần tudưỡng tình cảm, đạo đức cho cao đẹp trong sáng Vì vậy làm thế nào để học sinhlớp 7 làm tốt bài văn biểu cảm là vấn đề không phải đơn giản
Trong nội dung chương trình sách giáo khoa Ngữ văn 7 – tập I các emđược học 6 bài và luyện tập về văn biểu cảm (gồm 14 tiết) Gồm các nội dungsau: Tìm hiểu chung về văn biểu cảm, đặc điểm văn biểu cảm, đề văn biểu cảm
và cách làm văn biểu cảm, cách lập ý của bài văn biểu cảm, các yếu tố tự sự,miêu tả trong văn biểu cảm, cách làm bài văn biểu cảm về tác phẩm văn học.Làm thế nào để học sinh làm tốt bài văn biểu cảm? làm thế nào để học sinhkhông cảm thấy biểu cảm là khó? làm thế nào để các em hứng thú với dạng bài
Trang 4này? Đó là những điều mà mỗi người giáo viên dạy văn chúng tôi luôn bănkhoăn trăn trở.
2.2 Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
2.2.1 Thuận lợi:
Bản thân được phân công đúng chuyên môn đào tạo, nắm vững phươngpháp dạy học, luôn trau dồi kiến thức qua sách, báo, bạn bè đồng nghiệp Nhàtrường luôn quan tâm đến chất lượng giáo dục, tổ chức sinh hoạt chuyên mônthường xuyên để giáo viên trao đổi, tìm ra những biện pháp dạy học phù hợp vớitừng đối tượng học sinh và đem lại hiệu quả học tập cao nhất Việc đổi mớiphương pháp giáo dục đa số giáo viên đã cải tiến vấn đề dạy học lấy học sinhlàm trung tâm, phát huy được tính tích cực chủ động, sáng tạo của học sinh Họcsinh tích cực chủ động học tập Phụ huynh có sự quan tâm đến việc học của con
em mình nên đã mua sắm đầy đủ sách vở và một số tài liệu tham khảo
2.2.2 Khó khăn:
Về phía học sinh: Do định hướng gia đình chọn khối, chọn nghành nghề
cho con từ rất sớm nên nhiều học sinh xem nhẹ môn ngữ văn, chỉ tập trung đầu
tư vào các môn thuộc khoa học tự nhiên Có lẽ ngoài nguyên nhân khách quan
từ xã hội, thì một phần cũng do làm văn khó, lại mất nhiều thời gian “Côngthức” làm văn cho các em laị không được hình thành cụ thể Học sinh trong khilàm bài không nắm vững các kỹ năng làm bài văn biểu cảm Cụ thể là khôngnắm vững: Đặc điểm văn biểu cảm, đề văn biểu cảm, cách lập ý của bài văn biểucảm, cách sử dụng các yếu tố tự sự, miêu tả để đem lại hiệu quả trong bài vănbiểu Ngoài ra một bộ phận các em còn chưa hiểu được: Con người có nhu cầubiểu cảm rất lớn, bởi con người có tình cảm và có nhu cầu giao lưu tình cảm.Nhưng không phải tình cảm nào cũng có thể viết thành văn biểu cảm Nhữngtình cảm tầm thường, nhỏ nhen như đố kỵ, tham lam, ích kỷ, ghen ghét thìkhông nên viết ra, vì sẽ không có ai đồng cảm Những tình cảm trong văn biểucảm phải là tình cảm đẹp, nhân ái, vị tha, cao thượng, tinh tế; nó góp phần nângcao phẩm giá con người và làm phong phú tâm hồn con người Và các em chưahiểu được muốn viết văn biểu cảm hay thì cần phải tu dưỡng tình cảm, đạo đứccho cao đẹp trong sáng
Về phía bản thân: Trong năm học trước, khi dạy kiểu bài văn biểu cảmcho các em học sinh lớp 7A, tôi mới chỉ giúp các em nắm bắt được những nộidung cơ bản trong sách giáo khoa Trong quá trình dạy, vì điều kiện thiếu thờigian trên lớp cho nên chưa tận dụng được thời gian để mở rộng, nâng cao kiếnthức cho các em Đặc biệt chưa chú trọng hoạt động luyện tập nhiều và đi sâuhơn nữa vào kỹ năng lập ý, cách sử dụng yếu tố tự sự, miêu tả để đem lại hiệuquả cao trong khi làm bài văn biểu cảm
2.2.3 Kết quả của thực trạng:
Quá trình dạy học văn biểu cảm ở lớp 7, tôi nhận thấy hầu hết các em làm
văn biểu cảm chưa tốt, còn mắc nhiều lỗi, trong đó có những lỗi cơ bản như saikiểu bài, sa đà vào kiểu bài khác, chưa biết cách lập ý, thiếu ý, chưa nắm vữngđặc điểm của đoạn văn, bài văn biểu cảm cho nên trình bày các phần: Mở bài,thân bài, kết bài chưa đạt hiệu quả, chưa biết vận dụng yếu tố tự sự, miêu tả
Trang 5trong bài làm, bố cục bài văn chưa đảm bảo, Tôi tiến hành khảo sát học sinhlớp 7A trường THCS Yên Dương năm học 2020- 2021
Lớp TS HS Điểm giỏi Điểm khá
Điểmtrung bình Điểm yếu Điểm kém
Trong năm học 2021 - 2022 này để khắc phục những nhược điểm trên bảnthân tôi luôn trăn trở làm thế nào để các em làm tốt bài văn biểu cảm, làm thếnào để các em nắm vững đặc điểm của bài văn biểu cảm, đoạn văn biểu cảm,cách viết mở bài, cách viết kết bài, cách sử dụng yếu tố tự sự, miêu tả để đem lạihiệu quả cao trong bài văn biểu cảm
2.3 Giải pháp và tổ chức thực hiện:
Trong quá trình thực tế giảng dạy, căn cứ vào lượng kiến thức cần củng
cố, bổ sung; tham khảo một số tài liệu dạy học tập làm văn biểu cảm, tôi đã tiếnhành soạn bài, tổ chức các hoạt động dạy học trên lớp với những nội dung sau:
2.3.1 Rèn luyện cho học sinh ôn luyện, củng cố những kiến thức cơ bản về đặc điểm của văn biểu cảm.
Đặc điểm của văn biểu cảm:
Xét về nội dung: Văn biểu cảm chủ yếu tập trung vào việc thể hiện tình
cảm của con người Đó thường là những tình cảm chân thật, nảy sinh từ cuộcsống hiện thực vốn rất phong phú và đa dạng của con người nhưng đã được nânglên thành những tình cảm cao đẹp, lớn lao và thấm nhuần tư tưởng nhân văn Vìvậy mà văn biểu cảm rất dễ tác động vào tình cảm người đọc, người nghe; dễ tạonên sự đồng cảm giữa con người với con người Qua các tác phẩm văn học, quacác bài văn phát biểu cảm nghĩ người đọc dễ dàng nhận ra tình cảm, cảm xúccủa người viết đối với đối tượng biểu cảm
Xét về cách thức biểu hiện: Có hai cách biểu hiện chính: Biểu cảm trực
tiếp và biểu cảm gián tiếp
Biểu cảm trực tiếp: Trong văn bản, khi người viết công khai thổ lộ tìnhcảm, tư tưởng (yêu, ghét, vui, buồn, phản đối, ngợi ca ) của mình trước sự vật,con người khi đó họ đang biểu cảm một cách trực tiếp
Ví dụ: Chiều chiều ra đứng ngõ sau
Trông về quê mẹ mà đau chín chiều
(Ca dao)
Mỗi bài văn biểu cảm tập trung thể hiện tình cảm của người viết về mộtđối tượng nhất định Để đạt được tình cảm ấy, người viết có thể trình bày bằngthơ, bằng phát biểu cảm nghĩ Thông thường, người viết có thể chọn một hìnhảnh có ý nghĩa ẩn dụ, tượng trưng để gửi gắm tình cảm của mình, hoặc trực tiếp
Trang 6biểu đạt bằng cách thổ lộ những nỗi niềm, cảm xúc trong lòng Nhiều khi trongvăn biểu cảm, việc bộc lộ trực tiếp và gián tiếp được sử dụng kết hợp, hài hòađạt hiệu quả cao Ví dụ: Trong cổng trường mở ra (Lí Lan), để diễn tả nỗi xúcđộng, sự hồi hộp của người mẹ trong đêm trước ngày khai trường đầu tiên củacon, ngoài việc sử dụng bộc lộ trực tiếp (người mẹ thì thầm trò chuyện với con -
và cũng là đang nói chuyện với lòng mình), tác giả Lí Lan còn để cho người mẹnhớ lại những câu chuyện, những sự việc, những thuộc tính nào đó có khả nănggợi cảm để biểu hiện tư tưởng, tình cảm của mình
Về bố cục: Văn biểu cảm thường có bố cục như những bài văn khác, tuynhiên, bài văn biểu cảm được tổ chức theo mạch cảm xúc của người viết Dovậy, trình tự các ý, các phần trong văn bản biểu cảm thường được sắp xếp rất tựnhiên, không gò bó, máy móc
Về thái độ tình cảm: Văn biểu cảm phải đảm bảo tính chân thực, trong
sáng, rõ ràng, không giả dối, sáo rỗng thì bài văn mới có giá trị
Phân biệt văn biểu cảm với văn miêu tả và tự sự:
Phân biệt với văn miêu tả:
cảnh, đồ vật, loài vật với mục đích tái tạo lại đối tượng, giúp người đọc, ngườinghe cảm nhận được nó Trong văn miêu tả, con người cũng bộc lộ tư tưởng,cảm xúc nhưng đó không phải là nội dung chủ yếu của phương thức biểu đạt.Nội dung chủ yếu của phương thức biểu đạt trong bài văn là miêu tả
Văn biểu cảm: Trong văn biểu cảm, đối tượng biểu cảm là những cảnh
vật, đồ vật, con người; song đó không phải là đối tượng chủ yếu Đối tượng chủyếu của văn biểu cảm là bộc lộ tư tưởng, tình cảm Khi viết văn biểu cảm, người
ta không miêu tả đồ vật, cảnh vật đạt tới mức hoàn chỉnh, cụ thể Người ta chỉchọn những chi tiết, những thuộc tính, sự việc nào đó có khả năng khơi gợi cảmxúc, tư tưởng, tình cảm của mình
Phân biệt văn biểu cảm với văn tự sự:
đuôi, có nguyên nhân, có diễn biến, có kết quả Khi viết bài văn tự sự các yếutố: cốt truyện, nhân vật, chi tiết, ngôi kể là những yếu tố cơ bản tạo nên sự hấpdẫn người đọc, người nghe
xúc thông qua sự việc Do đó, yếu tố tự sự trong văn biểu cảm thường là nhớ lạinhững sự việc để lại ấn tượng sâu đậm, chứ không đi sâu vào nguyên nhân kếtquả
Các yếu tố tự sự và miêu tả trong văn biểu cảm
- Trong bài văn biểu cảm yếu tố tự sự và miêu tả có tác dụng hỗ trợ rất lớncho việc biểu cảm
- Muốn phát biểu được cảm nghĩ rộng và sâu, hãy dùng tự sự và miêu tả
để gợi ra đối tượng biểu cảm và gửi gắm cảm xúc
- Các yếu tố tự sự có tác dụng hỗ trợ rất lớn cho việc biểu cảm Các yếu tố
tự sự có tác dụng gợi cảm giác manh, nhất là khi biểu cảm về hành động cao cả,nghĩa khí, vị tha hoặc các hành vi thiếu đạo đức Tuy nhiên, trong truyện, yếu tố
tự sự làm cho tình tiết gay cấn, hấp dẫn, gợi đợi chờ Còn trong văn bản biểu
Trang 7cảm, cái quan trọng là ý nghĩa sâu xa của việc buộc người ta, nhớ lâu, suy nghĩ
và cảm xúc về nó
- Trong văn bản biểu cảm, yêu tố miếu tả có tác dụng khêu gợi, cảm thụ
và tưởng tượng Miêu tả chân thực, có sức gợi cảm lớn, hỗ trợ cho văn biểu cảm Đúng tự sự và miêu tả trong văn biểu cảm cũng phải quan sát đối tượngcảm xúc, dùng kết quả quan sát mà lựa chọn sự vật, chi tiết nào gay cấn nhất, đểsuy ngẫm, liên tưởng những liên quan đến tình cảm
Lưu ý: Trong văn bản biểu cảm, yếu tố tự sự và miêu tả chỉ nhằm khêu gợi cảm
xúc chi phối, chứ không nhằm mục đích kể chuyện, miêu tả đầy đủ sự việc,
- Khi làm bài văn biểu cảm cần chú ý các bước sau:
cứ vào các từ ngữ và cấu trúc của đề bài để xác định nội dung tư tưởng, tình cảmcủa bài viết sẽ cần hướng tới Cần đọc kỹ đề bài để có cái nhìn tổng quát, chú ýkhông bỏ sót một chi tiết nào để tránh những chỗ hiểu sai
Bước 2 Phân tích đề: Một đề ra cho học sinh là đặt cho học sinh trước một tình
huống có vấn đề Vì thế, khâu phân tích đề là phải tìm cho ra được tình huống cóvấn đề, nghĩa là phải phát hiện ra được vấn đề cần giải quyết nằm trong kết cấucủa đề bài
Ví dụ: Đề 1: Cảm nghĩ về dòng sông quê hương
- Đối tượng biểu cảm là dòng sông quê hương
- Định hướng tình cảm là biểu cảm
Ví dụ: Đề 2: Cánh diều tuổi thơ
- Đối tượng biểu cảm là: Cánh diều tuổi thơ
- Định hướng tình cảm là: Tình yêu, nỗi nhớ dành cho một tình cảm quenthuộc gắn bó với bao ký ức tuổi thơ; qua đó gửi gắm ước mơ, hoài bão
Khi phân tích đề bài văn biểu cảm cần lưu ý: Một đề bài thường có hai bộphận:
- Bộ phận A: Chứa đựng những dữ kiện, những điều đề bài cho biết trước
Bộ phận này thường gồm những chi tiết sau:
+ Lời dẫn giải, giới thiệu hay xuất xứ của một trích văn
+ Trích văn: Câu nói, ý kiến phát biểu hoặc câu thơ được trích dẫn
- Bộ phận B: Chứa đựng những điều mà đề bài yêu cầu phải thực hiệnnghĩa là cách thức giải quyết vấn đề Bộ phận này thường được diễn đạt dướimột câu cầu khiến:
Em hãy phát biểu cảm nghĩ về
Em có cảm tưởng gì về
Bài thơ, tác phẩm để lại cho em suy nghĩ, cảm xúc gì
Sự việc, con người mà em yêu thích
Ví dụ 1: Phát biểu cảm nghĩ về thầy, cô giáo – những người lái đò đưa thế
hệ trẻ cập bến tương lai
Trang 8- Bộ phận A: Thầy, cô giáo – những người lái đò đưa thế hệ trẻ cập bếntương lai.
- Bộ phận B: Phát biểu cảm nghĩ
Ví dụ 2: Loài cây mà em yêu thích
- Bộ phận A: Loài cây
- Bộ phận B: yêu thích nhất
2.3.2.2 Rèn kỹ năng tìm ý trong bài văn biểu cảm:
Mục đích của tìm ý: Chính là chuẩn bị các vật liệu cho việc xây dựngcông trình kiến trúc tức là bài tập làm văn Vật liệu tốt, phong phú sẽ tạo điềukiện thuận lợi cho việc thi công, sẽ đảm bảo độ bền vững của công trình Đối vớiviệc tập làm văn cũng như vậy, tìm được nhiều ý, ý chính xác, độc đáo sẽ tạođiều kiện để viết một bài tập làm văn đúng và hay
Phương pháp lập ý: Đối với bài văn biểu cảm về sự vật, con người, có thể sử dùng những cách lập ý sau:
Liên hệ hiện tại với tương lai: Đây là cách phát triển ý Chính tương lai sẽ
đem đến một sự biến đổi về đối tượng và sự biến đổi đó sẽ tăng thêm tình cảm,làm tăng thêm ấn tượng của người viết
Ví dụ: Nhà văn Thép Mới đã từ hiện tại, liên hệ tới tương lai khi viết về
Cây tre Việt Nam.
sắt
trên đường trường ta dấn bước, tre xanh vẫn là bóng mát
- Hồi tưởng về quá khứ và suy nghĩ về hiện tại: Đây cũng là một cách màngười viết bộc lộ tình cảm, cảm xúc của mình, quá khứ bao giờ cũng lưu lại dấu
ấn ký ức của mỗi người Nhớ về quá khứ là để so sánh với hiện tại, làm tăngthêm ấn tượng, tình cảm của hiện tại và cũng có thể đối với quá khứ
Ví dụ: Nhà thơ Xuân Quỳnh hồi tưởng lại tuổi thơ với tiếng gà trưa và kỷniệm về bà để cắt nghĩa về mục đích cuộc kháng chiến chống đế quốc Mĩ củachúng ta
- Tưởng tượng, mong ước, hứa hẹn: Để lập ý, người viết có thể phát huytrí tưởng tượng của mình, hình dung ra những cảnh tượng, thể hiện mong ước,tình cảm của mình Có thể hình dung khi mình đã lớn, đã rời xa nơi ở, đã đảmnhận một công việc có thể mong muốn một hoàn cảnh mới tất cả những gì
có thể xảy ra, với mơ ước của mình
Ví dụ: Cậu bé En-ri-cô hình dung mình đã lớn để khẳng định cậu mãi mãikhông quên được cô giáo yêu quý với những kỷ niệm sâu sắc về cô
- Quan sát, suy ngẫm: Người viết bao giờ cũng phải tập trung để quan sátđối tượng biểu cảm của mình Viết về người thân thì phải quan sát dáng người,
vẻ mặt, nụ cười Viết về sự vật thì quan sát đặc điểm nổi bật của sự vật Viết vềtác phẩm văn học thì phải đọc đi, đọc lại tác phẩm để hiểu, có ấn tượng, có cảm
Trang 9Đối với bài văn biểu cảm về sự vật và con người, vẫn áp dụng cách lập ý
chung như đã trình bày, tuy nhiên cần chú ý đến đặc trưng của tác phẩm Là tácphẩm văn xuôi, cần chú ý đến nhân vật, chi tiết Liên tưởng, so sánh với cácnhân vật và chi tiết trong tác phẩm của các tác giả khác Khi lập ý cho bài vănbiểu cảm về một tác phẩm thơ, cần nhấn mạnh cảm xúc do bài thơ tạo ra Chú ýcác câu thơ, hình ảnh thơ, các nổi bật về nhịp, tiết tấu
Biểu cảm về tác phẩm văn học mặc dù mang nhiều yếu tố cảm nhận chủquan của người viết, song vẫn phải phù hợp với quy luật khách quan Nhữngcảm xúc, đánh giá riêng, dù độc đáo đến đâu cũng phải căn cứ vào một nội dungtác phẩm, các chi tiết trong tác phẩm thì mới có ý nghĩa, mới có sức thuyết phục
2.3.2.3 Rèn kỹ năng lập dàn ý trong văn biểu cảm:
- Mục đích của lập dàn ý:
+ Nhìn được một cách bao quát, toàn cục nội dung chủ yếu và những yêucầu cơ bản mà bài làm cần đạt được, đồng thời cũng thấy được mức độ phải giảiquyết vẫn đề Từ đó tránh được tình trạng bài làm xa đề, lệch trọng tâm hay lạc
đề Vấn đề càng phong phú, phức tạp càng cần phải có dàn ý chi tiết
+ Thông qua việc làm dàn ý có điều kiện suy nghĩ sâu xa và toàn diện hơn
để rà soát, điều chỉnh và phát triển hệ thống luận điểm Suy nghĩ, cân nhắc, bỏbớt những ý trùng lặp vô ích, bổ sung những ý chưa có, Làm như vậy sẽ tránhđược tình trạng bỏ sót những ý quan trọng, đặc sắc hoặc cần thiết và không đểlọt vào những ý thừa, bài văn sẽ không rườm rà, luộm thuộm
+ Khi đã có dàn ý cụ thể, dễ hình dung được trên những nét lớn các phần,các đoạn, trọng tâm, trọng điểm, ý lớn, ý phụ của bài văn Từ đó để phân bố thờigian phù hợp cho bài làm, dành thời gian thỏa đáng cho phần trọng tâm, trọngđiểm, phân lượng chính xác giữa các phần trong bài Tránh được tình trạng bài
làm mất cân đối, đầu voi đuôi chuột.
2.3.2.4 Rèn luyện cho học sinh kỹ năng viết đoạn văn biểu cảm.
2.3.2.4.1 Đặc điểm của đoạn văn biểu cảm
- Mỗi đoạn văn biểu cảm tập trung biểu đạt một tình cảm chủ yếu như yêu
thiên nhiên, yêu loài vật, yêu con người, yêu thương trường lớp, bạn hữu, yêugia đình, yêu quê hương đất nước, ghét thói tầm thường, độc ác
- Để biểu đạt tình cảm ấy, người viết có thể chọn hình ảnh có ý nghĩa ẩn
dụ, tượng trưng (Một đồ vật, một loài cây cỏ, một danh lam thắng cảnh hay mộthiện tượng nào đó) để gửi gắm cảm xúc, ý nghĩ của mình, trang trải nỗi lòngmình một cách kín đáo hoặc nồng hậu, mãnh liệt, thiết tha
- Cũng như đoạn văn thuộc các thể khác, đoạn văn biểu cảm cũng có bố
cục ba phần
+ Mở đoạn: Có thế giới thiệu sự vật, cảnh vật trong thời gian và ‘không
gian Cảm xúc ban đầu của người viết
+ Phát triển đoạn: Biểu lộ cảm xúc, ý nghĩ một cách cụ thể, chi tiết, sâu
sắc
+ Kết thúc đoạn: Kết đọng cảm xúc, ý nghĩ của mình.
- Đoạn văn biểu cảm chỉ thực sự có giá trị khi tình cảm và tư tưởng hòa
quyện với nhau chặt chẽ Cảm xúc phải chân thực, trong sáng, tư tưởng phải tiến
bộ, đúng đắn Câu văn, lời văn, giọng văn phải có giá trị biểu cảm
Trang 10- Trong văn biểu cảm, tình cảm con người đã cố suy nghĩ, khác với trạng
thái, cảm xúc (biểu cảm ra nét mặt, cử chỉ)
- Có hai cách (lối) biểu cảm:
hỡi, tôi, ta Tác dụng bộc lộ, biểu hiện tình cảm, thái độ đối với sự việc có liênquan Điều này thấy rõ nhất trong thơ trữ tình, trong tùy bút, trong đối thoại nộitâm của nhân vật
Trong biểu cảm trực tiếp, người viết sử dụng ngôi thứ nhất : tôi, em,chúng em, nhằm bộc lộ hẳn cảm xúc, bằng lời than thở, nhắn nhủ, hô hào : ôi,
ơi, hỡi ơi
Ví dụ: Mẹ ơi! Con khổ quá mẹ ơi! Sao mẹ đi lâu thế? Mãi không về! Người ta đánh con vì con dám cướp lại đồ chơi của con mà con giằng lấy Người ta lại còn chửi con, chửi cả mẹ nữa ! Mẹ xa con, mẹ có biết không?
(Nguyên Hồng)
+ Biểu cảm gián tiếp: Thông qua cách miêu tả cử chỉ, động tác, thái độ
của nhân vật và tình cảm của người viết
+ Biểu cảm gián tiếp: là cách bộc lộ tình cảm, cảm xúc thông qua hìnhảnh một phong cảnh, một câu chuyện, một suy nghĩ
Ví dụ: Đó là quê hương ta đang lên tiếng hát Tiếng ngân nga dội lên từ lòng đất ở trong đó có một góc vườn có đôi cây sầu đông và giàn bầu đong đưa quả nặng, một ngày đã xa, mẹ ta đã còn nhúm nhau của ta thuở ta mới lọt lòng (Nguyên Ngọc).
Mặc dù vậy, biểu cảm trực tiếp và biểu cảm gián tiếp không đối lập nhau,không tách rời nhau mà cần được bổ sung cho nhau để giúp cho biểu cảm sâusắc, tinh tế hơn
2.3.2.4.2 Yêu cầu của đoạn văn biểu cảm:
Cũng như các bài văn khác, đoạn văn trong biểu cảm cũng có những yêucầu cụ thể nhằm giúp học sinh nắm một cách khái quát về mặt hình thức cũngnhư nội dung đoạn văn biểu cảm Từ đó, các em mới có thể viết đoạn (xây dựngđoạn) đúng với yêu cầu
+ Yêu cầu trước hết phải nắm được dấu hiệu, quy ước khi viết đoạn vănbiểu cảm: Đoạn văn là một phần của văn bản được tính từ chỗ viết hoa lùi đầudòng đến chỗ chấm xuống hàng
+ Trước khi viết đoạn văn biểu cảm, tôi hướng dẫn cho các em tìm hiểu
đề, xác đinh ý và từ việc xác định được ý chính của bài mà đi đến xây dựng câuchủ đề Việc viết câu chủ đề đúng với ý chính đã tìm được ở trên sẽ giúp họcsinh định hướng cách lựa chọn nội dung trình bày theo cấu trúc diễn dịch, quinạp hay các kiểu cấu trúc khác Đồng thời cũng định hướng cho các em lựa chọncác phép liên kết, cách dùng từ ngữ cho phù hợp với cảm xúc trong bài viết củamình
+ Câu chủ đề có thể đứng đầu đoạn (theo cấu trúc diễn dịch), có thể đứng
ở cuối đoạn (theo cấu trúc qui nạp) Câu chủ đề phải mang nội dung khái quát,lời lẽ ngắn gọn, hàm súc và vừa đủ hai thành phần chính của câu: chủ ngữ và vịngữ Các câu còn lại trong đoạn văn có nhiệm vụ diễn giải, chứng minh, làm rõhoặc kết luận những cảm xúc đã thể hiện trong câu chủ đề
Trang 11+ Các câu trong đoạn văn biểu cảm phải được liên kết với nhau một cáchchặt chẽ bằng các phét liên kết, phương tiện liên kết, từ ngữ - câu liên kết, hoặccác mối quan hệ phụ thuộc, không phụ thuộc giữa các đoạn văn mở bài, kết bài + Đoạn văn phải có sự lựa chọn, sử dụng ngôn ngữ trong sáng, chuẩn mựcgiàu giá trị biểu cảm để gợi ra được cảm xúc, tình cảm của người viết, có sứcthuyết phục, lay động người đọc, người nghe Từ ngữ ấy phải thể hiện được thái
độ rõ ràng của người viết: đó là tình cảm buồn, vui, yêu ghét, hay thích thú Cóthể biểu cảm trực tiếp hoặc biểu cảm gián tiếp hoặc kết hơp giữa hai lối biểucảm
Ví dụ: Em thương con cò trong bài ca dao vì thân phận, vì cảnh nghèo, vìgieo neo phải ăn đêm Vạc mới đi ăn đêm, “con cò mà đi ăn đêm “là một nghịch
lí đầy bi kịch Bi kịch ấy làm ta rơi lệ khi nghe tiếng kêu thảm thiết của cò:
Ông ơi ông vớt tôi nao
Tôi có lòng nào ông hãy xào măng.
Đoạn văn biểu cảm thể hiện được năng lực: Tri giác ngôn ngữ nghệ huật,
năng lực tưởng tượng, năng lực phân tích, chứng minh, năng lực cảm xúc thẩmmĩ
2.3.3.4.3 Rèn luyện kỹ năng viết đoạn văn biểu cảm:
Rèn các kĩ năng làm văn nói chung và viết đoạn văn biểu cảm nói riêngkhông chỉ xuất hiện từ mục đích, yêu cầu của môn học (mang tính thực hànhtổng hợp cao) Điều quan trọng nhất khi viết đoạn văn biểu cảm là học sinh nắmvững các thao tác, cách thức trình bày đoạn văn biểu cảm, để từ các kĩ năng tậplàm văn phát triển thành kĩ xảo, thói quen làm văn
Để thực hành những điều nói trên đây, tôi cho học sinh đi vào thực tế bằngmột ví dụ cụ thể sau:
Đề bài: Phát biểu cảm nghĩ về bài ca dao:
Đêm qua ra đứng bờ ao
Trông cá cá lặn, trông sao sao mờ
Buồn trông con nhện chăng tơ,Nhện ơi, nhện hỡi, nhện chờ mối ai?
Buồn trông chênh chếch sao mai, Sao ơi, sao hỡi, nhớ ai sao mờ?
trơ trơ
Trên đây là một bài văn biểu cảm về một bài ca dao Vì vậy, để văn biểucảm bao giờ cũng nêu ra một đối tượng biểu cảm và định hướng tình cảm chobài viết Xác định rõ các bước làm bài văn biểu cảm: Tìm hiểu đề, ý, lập dàn ý,viết các đoạn văn mở bài, thân bài, kết bài
- Xác định ý cho đoạn văn biểu cảm: Khi xác định ý cho đoạn văn biểu
cảm cần xác định:
+ Đối tượng biểu cảm trong đề bài trên?
+ Mục đích biểu cảm?
+ Cảm xúc, tình cảm trong các trường hợp
+ Tình cảm, cảm xúc phải chân thật, trong sáng có sức thuyết phục
+ Lời văn, hơi văn, mạch văn phải phù hợp, gợi cảm
Trang 12Trước hết tôi cho học sinh hình dung cụ thể đối tượng biểu cảm ở đây là:
Bài ca dao Bài ca dao ấy nói về lòng thương nhớ và tình cảm thủy chung củanhân vật trữ tình khi xa quê hương Hình thành được cảm xúc, tình cảm của
mình sau khi đọc xong bài ca dao Lời văn, giọng văn phải bộc lộ cảm xúc, tình
cảm chân thành khi đọc hiểu bài ca dao: Bài ca dao thấm thía bao nỗi buồnthương tha thiết, mong chờ, nhớ trông Quá trình tìm hiểu đề là quá trình xácđịnh ý cho bài văn biểu cảm Ý của bài văn nằm ngay trong từ ngữ, hình ảnh:Đêm qua, đứng bờ ao, trông, buồn trông, buồn trông (mức độ tăng dần), rồi: Sao
ơi, sao hỡi, tưởng, nhớ ba năm, đá mòn, dạ chẳng mòn trong kết cấu của bài cadao Chẳng hạn theo yêu cầu của đề cần xác định các ý chính sau:
+ Nỗi cô đơn, buồn vắng, chờ mong
+ Cảnh vật với nỗi nhớ cố hương.
+ Sự gắn bó thủy chung của người lữ khách đối với gia đình và quêhương
+ Nỗi lòng của nhân vật trữ tình trong bài ca dao và cảm xúc, tình cảmcủa tâm hồn con người
Như vậy chúng ta đã xác định các ý trong bài văn biểu cảm và mỗi ý trênđây có thể được xây dựng bằng môt hoặc hai đoạn văn
- Xác định câu chủ đề: Từ những ý được xác định trên đây, hướng dẫn
cho học sinh tập viết các câu chủ đề Đây là khâu quan trọng trong việc tạo lậpđoạn văn Vì có viết được câu chủ đề thì mới có thể triển khai ý của đoạn văn vàlựa chọn nội dung trình bày của đoạn văn Trước hết xác định câu chủ đề mangtính khái quát cao cho toàn bài văn
Ví dụ: Bài ca dao Đêm qua ra đứng bờ ao diễn tả bao nỗi buồn thương
nhớ, cô đơn và lòng chung thủy của người lữ khách đối với quê nhà Ta xác địnhcâu chủ đề trong từng đoạn văn như sau:
+ Câu chủ đề 1 Tâm trạng của người lữ khách luôn lẻ loi, trống vắng, chờmong cứ vương vẫn mài không thôi
+ Câu chủ đề 2: Nỗi nhớ quê nhà của nhân vật trữ tình diễn ra triền miên.+ Câu chủ đề 3: Lời thơ thấm thía bao nỗi buồn thương, nhớ - tấm lòngthủy chung đối với quê nhà
+ Câu chủ đề 4: Tấm lòng thủy chung tỏa sáng trong bài ca dao và tâmhồn con người
Từ đó định hướng cho các em viết các đoạn văn bằng việc lựa chọn cácphép liên kết, phương tiện liên kết, từ ngữ liên kết
- Liên kết đoạn văn và cách dùng từ, ngữ khi xây dựng đoạn văn:
Cũng như các kiểu văn bản khác, bài văn biểu cảm là một thể thống nhất
về hình thức, hoàn chỉnh về nội dung Trong đó, đoạn văn có một vai trò hết sứcquan trọng trong việc cấu thành một văn bản biểu cảm hoàn chỉnh Vì vậy, cáccâu, các đoạn trong văn bản phải liên kết với nhau một cách chặt chẽ
Rèn kỹ năng viết đoạn văn và việc sử dụng các cách liên kết là một thaotác không thể thiếu được Các đoạn văn mở bài, thân bài, kết bài có thể đượcviết theo các cách như sau:
2.3.2.4.4 Rèn luyện cho học sinh kỹ năng viết từng phần cho bài văn biểu cảm.