Nhằm đáp ứng những yêu cầu đổi mới về phương pháp, đáp ứng tốt hơnnhững tiêu chuẩn về kiến thức và kĩ năng mà mục tiêu môn học đã đề ra, tạokhông khí hứng thú trong giờ học, giúp học sin
Trang 1SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
“Kinh nghiệm dạy học phân môn Tiếng Việt nhằm nâng cao hiệu quả học tập, góp phần phát triển phẩm chất, năng lực cho học sinh lớp 9 ở trường THCS Thành Lâm, huyện Bá Thước,
tỉnh Thanh Hóa”
Họ và Tên: Lê Thị Thay
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường Trung học cơ sở Thành Lâm –
Bá Thước - Thanh Hóa.
Lĩnh vực SKKN: Ngữ văn.
THANH HÓA NĂM 2022
Trang 2Nội dung Trang
2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm 2 2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm 3
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 3
2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề 4
Trang 31 MỞ ĐẦU 1.1 Lí do chọn đề tài
Xu hướng giáo dục quốc tế hiện nay là chương trình giáo dục theo địnhhướng phát triển phẩm chất và năng lực, chú trọng vận dụng tri thức vào thực tiễnnhằm chuẩn bị cho con người năng lực, phẩm chất cần thiết giải quyết các tìnhhuống của cuộc sống và nghề nghiệp, gắn hoạt động trí tuệ với hoạt động thựchành Để bắt kịp với xu hướng của thời đại và phù hợp với tình hình đất nướcđang có nhiều thay đổi lớn hiện nay thì đổi mới trong giáo dục là một điều tất yếu.Nghị quyết hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 8 khóa XI xác định:
“Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh”.
Nhằm đáp ứng những yêu cầu đổi mới về phương pháp, đáp ứng tốt hơnnhững tiêu chuẩn về kiến thức và kĩ năng mà mục tiêu môn học đã đề ra, tạokhông khí hứng thú trong giờ học, giúp học sinh yêu thích say mê môn học kiểu
như “có thích mới nhích tư duy” thì phải xem dạy học là một nghệ thuật và giáo
viên là một nghệ sĩ Bản chất của hoạt động dạy học là sự kết hợp của khoa họccông nghệ với nghệ thuật của người dạy Vì vậy trong dạy học giáo viên ngoàivốn hiểu biết sâu rộng và có phương pháp, kĩ thuật dạy học phù hợp với đặc thù
bộ môn cũng cần có những sáng tạo nghệ thuật trong dạy học Trên cơ sở đó tôi
đã mạnh dạn áp dụng “Kinh nghiệm dạy học phân môn Tiếng Việt nhằm nâng cao hiệu quả học tập, góp phần phát triển phẩm chất, năng lực cho học sinh lớp 9 ở trường THCS Thành Lâm, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa”
Hi vọng đề tài này sẽ góp một phần nhỏ vào việc cải tiến phương pháp
dạy học theo xu thế đổi mới hiện nay
1.2 Mục đích nghiên cứu
Năm học 2021-2022, tôi được phân công dạy môn Ngữ văn 9 Tôi nhậnthấy trong khi nói và viết, các em sử dụng chưa thuần thục các từ loại Tiếng Việttrong giao tiếp, lời văn lủng củng, chưa vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn,bài văn diễn đạt ngô nghê, tối nghĩa Bởi thế nhằm đáp ứng những yêu cầu đổimới về dạy học theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh đã đề ra, tạokhông khí hứng thú trong giờ học, giúp học sinh yêu thích say mê môn học mới
là rất cần thiết Chương trình Tiếng Việt hiện nay được biên soạn theo hướng tíchhợp, đồng tâm Muốn tiếp thu bài nhanh học sinh phải có khả năng về tư duylogic, biết khái quát vấn đề một cách hệ thống Qua nghiên cứu lí luận và thựcnghiệm dạy học phân môn Tiến Việt lớp 9 Bản thân tôi thực sự tâm đắc vớiphương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực, khoa học, rất dễ sử dụng và đem lạihiệu quả tối ưu Mong rằng với những kinh nghiệm này có thể giúp quý đồngnghiệp ít nhiều trong việc làm phong phú thêm phương pháp, kĩ thuật dạy họcphân môn Tiếng Việt nói riêng, môn Ngữ văn nói chung
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Trang 4Để thực hiện đề tài này tôi tiến hành nghiên cứu dạy học phần Tiếng Việtlớp 9 và tiến hành thực nghiệm ở học sinh lớp 9 trường THCS Thành Lâm, huyện
Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài sáng kiến kinh nghiệm chúng tôi kết hợp vận dụngtổng hợp các phương pháp cụ thể sau:
- Phương pháp phân tích, phân loại tài liệu liên quan đến việc dạy họcTiếng Việt
- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin
- Phương pháp thống kê, xử lí số liệu: Thống kê hứng thú, kết quả học tậpcủa học sinh trước và sau khi áp dụng phương pháp trong dạy học Tiếng Việt đểđối chứng
2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2 1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
Môn Ngữ văn trong trường THCS được xem là môn chủ đạo chiếm thờilượng số tiết trong tuần khá nhiều so với các môn học khác trong cấp học MônNgữ văn gồm ba phân môn là Văn học, Tiếng Việt, Tập làm văn Ba phân mônnày có quan hệ gắn bó mật thiết hữu cơ với nhau: có kiến thức Tiếng Việt họcsinh mới khai thác hết được giá trị của các tác phẩm văn chương; Học Tiếng Việt,Văn học để có thể làm tốt bài Tập làm văn…Tuy nhiên mỗi phân môn lại mangnhững đặc thù riêng Nếu tác phẩm văn chương tác động nhiều đến tình cảm thìdạy học tiếng Việt tác động nhiều đến tư duy học sinh Dạy học Tiếng Việt phảihình thành ở học sinh năng lực sử dụng thành thạo tiếng Việt với bốn kỹ năng cơ
bản: nghe, nói, đọc, viết để qua đó mà rèn luyện tư duy Từ những hiểu biết nhất
định về tri thức Tiếng Việt và ngôn ngữ (từ, câu, đoạn…) học sinh có ý thức sửdụng đúng đắn và giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt Làm cho các em yêu quíTiếng Việt, có ý thức bảo vệ, phát triển Tiếng Việt, góp phần hình thành nhâncách, bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm Tuy nhiên phân môn Tiếng Việt vừa khô lạivừa khó Một đơn vị kiến thức Tiếng Việt đưa vào bài học thường ngắn nhưngtiếp thu và hiểu thấu đáo, chuẩn xác về nó thì không đơn giản Vì vậy để phát huyhiệu quả giờ dạy học Tiếng Việt tôi thiết nghĩ chúng ta không nên áp dụng mộtcách máy móc mà cần sử dụng cách thức dạy học linh hoạt và có sự sáng tạo nghệthuật trong dạy học Có như thế mới lôi cuốn hấp dẫn, kích thích được tư duy củahọc sinh, đưa học sinh vào vai trò trung tâm của hoạt động học
2 2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
2.2.1 Việc giảng dạy của giáo viên
Thực tế trong nhà trường hiện nay nhiều giáo viên đã tích cực ứng dụngcông nghệ thông tin, có những tìm tòi trong công tác soạn giảng Tuy vậy về
Trang 5phương diện phương pháp và kĩ thuật vẫn còn nhiều hạn chế, nhất là cách thứcgiúp học sinh hiểu vấn đề nhanh, nhớ kiến thức lâu Giáo viên chưa đổi mới cáchghi chép nội dung kiến thức bài học theo kiểu kích thích tư duy mà chủ yếu làquan tâm đến độ chuẩn của nội dung ghi Trong một số tiết học, dù vẫn cố gắngthực hiện theo chủ trương giảm tải nhưng cách tổ chức các đơn vị kiến thức vẫncòn rườm rà, kiểu như phải ghi chép thành câu, đoạn hoàn chỉnh, chưa nắm vữngđặc trưng của môn Tiếng Việt, chưa nắm chắc mục tiêu cuối cùng của quá trìnhdạy học các tri thức Tiếng Việt vì vậy mục đích chính mà giáo viên hướng tới chủyếu là học sinh tiếp thu được kiến thức gì (học cái gì) chứ không phải là học nhưthế nào Khi hướng dẫn học sinh thực hành nhiều giáo viên còn mang tâm lí “sợ”thoát li kiến thức từ sách giáo khoa, ít mở rộng phần luyện tập, thiếu tính độc lậpsáng tạo trong việc tổ chức dạy học Một bộ phận giáo viên chưa thật sự tâmhuyết, đam mê với nghề, lên lớp chưa có sự linh hoạt, sáng tạo chỉ tái hiện sáchgiáo khoa một cách đơn điệu, dạy xuôi một chiều nên hiệu quả đạt được chưa cao.Trong tiết dạy người thầy là trung tâm, dạy theo lối cung cấp, truyền thụ cho họcsinh kiến thức sẵn có trong sách giáo khoa và thường áp đặt luôn kiến thức buộchọc sinh phải công nhận luôn kiến thức đó Học sinh tiếp nhận và làm theo nhưmột cái máy mà không hiểu thực chất của vấn đề Ý thầy nói luôn trở thành “chânlý” mà học sinh chỉ biết tuân theo và chấp nhận Như vậy, học sinh ít có cơ hộisáng tạo, ý chí muốn vươn lên của học sinh có nhiều khả năng bị hạn chế Họcsinh không phát huy được năng lực vốn có của mình Dần dần dẫn đến “mòn” trítuệ của bản thân Nhiều giờ dạy học còn rất nặng nề khô cứng thậm chí căngthẳng hoặc mờ nhạt.
2.2.2 Việc học tập của học sinh
Căn cứ việc quan sát hứng thú và kết quả học tập của học sinh khi họcTiếng Việt ở lớp 9 tôi thấy rằng thực chất sự thành công trong một giờ dạy họcTiếng Việt không chỉ có sự nỗ lực từ phía giáo viên mà quan trọng là cần có sựhưởng ứng tích cực từ phía học sinh Thói quen học thụ động, đối phó của các emhọc sinh là một rào cản lớn đối với quá trình đổi mới phương pháp dạy học Một
số ít các em học sinh còn mang tính thực dụng cho rằng học chủ yếu để phục vụcho các kì thi mà điểm số phân môn Tiếng Việt ít nên chỉ cần đối phó Học theophương pháp mới đòi hỏi phải dành nhiều thời gian để làm bài tập, tham khảo tàiliệu, thu thập xử lí thông tin khoa học…nhưng các em chưa có sự đầu tư thíchđáng cho môn học, chưa hình thành được tư duy phản biện, độc lập trong học tập,chưa vận dụng được vào thực tế đặc biệt là chưa thực sự hứng thú trong học tập
Từ thực trạng đó tôi thấy rằng cần có những giải pháp phát huy điểm mạnh,khắc phục khó khăn nhằm đạt mục tiêu dạy học, phát triển năng lực học sinh, gópphần nâng cao chất lượng giáo dục bằng việc sử dụng một số cách thức dạy họcTiếng Việt theo tinh thần đổi mới
2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
2.3.1 Phương pháp tạo tình huống.
Trang 6Nhiệm vụ quan trọng của dạy học Tiếng Việt là hình thành và rèn luyệncho HS năng lực giao tiếp trên tinh thần gắn chặt với thực tiễn sinh động của tiếngViệt trong đời sống Việc vận dụng các phương pháp dạy học tích cực, đặc biệtphương pháp tình huống (PPTH) là một trong những phương pháp đáp ứng tốtnhất tinh thần dạy học gắn chặt với thực tiễn sinh động, đa dạng của ngôn ngữ dântộc; đảm bảo dạy học thông qua hoạt động và tăng cường cơ hội đọc, viết, nói,nghe cho HS
a Khái niệm và vai trò Dạy học theo tình huống
Dạy học tình huống là gì? Đó là bài học được tổ chức theo một chủ đề phứchợp gắn với các tình huống thực tiễn cuộc sống và nghề nghiệp, tạo điều kiện cho
HS kiến tạo tri thức theo cá nhân và trong mỗi tương tác xã hội của việc học Ngữvăn được coi là môn học công cụ, theo đó, năng lực giao tiếp Tiếng Việt vàthưởng thức văn học hoặc cảm thụ thẩm mỹ là các năng lực mang tính đặc thù của
bộ môn Khi dạy học, những năng lực trên chỉ được hình thành khi GV có ý thứckết nối hoạt động dạy học Ngữ văn nói riêng, tiếng Việt nói chung qua phươngpháp dạy học tích cực
Thế nên việc nắm vững đặc điểm của từng năng lực sẽ là cơ sở giúp GVthiết kế tiến trình tổ chức hoạt động dạy học Tiếng Việt theo định hướng pháttriển năng lực HS một cách hiệu quả, trong đó PPTH là phương pháp có khả năngkhai thác và phát huy cùng lúc nhiều năng lực nhất
Vận dụng dạy học theo các tình huống được gắn với thực tiễn là con đườngquan trọng để khắc phục tình trạng giáo dục hàn lâm, xa rời thực tiễn trong trườngphổ thông, đưa học đi đôi với hành trở nên thiết thực, hiệu quả trong từng phânmôn
PPTH là một phương pháp tích cực trong đó GV sử dụng một tình huốngthực tế hoặc hư cấu để truyền tải, minh họa cho một chủ đề, một nội dung hoặc đểgiúp các em rút ra bài học kinh nghiệm về sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp, chủyếu là nói và viết
Trọng tâm của phương pháp là việc HS phân tích và giải quyết các vấn đề
mà tình huống đặt ra Trong đó các em tự lực nghiên cứu tình huống thực tiễnhình thức làm việc chủ yếu theo nhóm
GV đưa HS đến với những điều đã gặp hoặc sẽ gặp hàng ngày dưới dạngchứa đựng vấn đề cần giải quyết đòi hỏi các em phải có những quyết định tối ưudựa trên cơ sở của các giải pháp được đưa ra và quan trọng nhất là việc HS vậndụng kiến thức được học vào để giải quyết tình huống cụ thể ấy
b Yêu cầu
- Tình huống xây dựng phải phù hợp và phục vụ cho việc thực hiện mụcđích, nội dung bài học
Trang 7- Nội dung tình huống phải đảm bảo tính chính xác khoa học, bám sát kiếnthức chuẩn từ sách giáo khoa.
- Tình huống phải có tính thực tế gắn liền với sự kiện liên quan đến đờisống hàng ngày giúp học sinh có thể liên hệ với bài học một cách dễ dàng
- Tình huống phải hấp dẫn, khơi dậy sự hứng thú, khơi dậy khả năng tự học
* Giáo viên tạo tình huống
- Sử dụng các nguồn kiến thức có tính thực tiễn
- Sử dụng ca dao, tục ngữ, thơ …kết nối với tình huống
- Sử dụng những mẩu chuyện vui, có kịch tính để đưa đến tình huống
* Học sinh: Nhận thức tình huống để tìm cách giải quyết và phát hiện vấn
đề một cách nhẹ nhàng nhất
Trong dạy học Tiếng Việt, PPTH thường triển khai những nội dung nhưphân tích tình huống giao tiếp, tìm hiểu một vấn đề thực tiễn cuộc sống để tạo lậpcuộc thoại, văn bản trong đó liên quan đến cách sử dụng ngôn ngữ, phong cáchnói năng, chuyển tải thông tin, biểu hiện thái độ
Ưu điểm của PPTH là sử dụng sự liên hệ với thực tiễn để tích cực hóa động
cơ của người học Ngoài huy động sự làm việc cá nhân và sự cộng tác của nhóm
để nâng cao năng lực giao tiếp xã hội, PPTH còn thúc đẩy phát triển các năng lựcthen chốt như: Quyết định, giải quyết vấn đề, tư duy, sáng tạo, giao tiếp và hợptác
Ví dụ : Khi dạy bài “Thành phần biệt lập” (Ngữ văn lớp 9 tập 2), GV có
thể cho các nhóm bài tập tình huống gần gũi, gắn với thực tế như sau: “Trời chuyển mưa rồi sau đó đổ mưa nặng hạt Một số HS trên đường đến trường đã gặp phải cơn mưa Vào đến lớp, các bạn cùng chia sẻ về sự việc vừa qua Nếu là những HS ấy, em sẽ trao đổi những gì? Hãy xây dựng đoạn hội thoại ngắn trong
đó có sử dụng các thành phần biệt lập”.
Ưu điểm của PPTH là sử dụng sự liên hệ với thực tiễn để tích cực hóa động
cơ của người học Ngoài huy động sự làm việc cá nhân và sự cộng tác của nhóm
để nâng cao năng lực giao tiếp xã hội, PPTH còn thúc đẩy phát triển các năng lựcthen chốt như: Quyết định, giải quyết vấn đề, tư duy, sáng tạo, giao tiếp và hợptác
Trang 8Để đạt được hiệu quả dạy học Tiếng Việt có vận dụng PPTH, GV cần chú ýcác yêu cầu sau đây: Tình huống phải phù hợp với nội dung, chủ đề bài dạy; cótính thiết thực, điển hình và phản ánh đúng thực tế Nếu là tình huống giả định thìphải hư cấu phù hợp với thực tế.
Bên cạnh, tình huống phải chứa đựng đủ thông tin cần thiết để HS phântích, có những tình tiết hấp dẫn, lôi cuốn được sự chú ý và trí tưởng tượng của cácem
Ngoài ra, tình huống phải có mâu thuẫn, kịch tính, tạo sự cấp bách nhằmthôi thúc HS tích cực tư duy nhằm nhanh chóng tìm ra các phương pháp giảiquyết Trên cơ sở đó HS biết lựa chọn phương án tối ưu cho hoạt động ngôn ngữnhằm đạt được mục đích giao tiếp
Ví dụ : dạy bài “Tường minh, hàm ý” ” (Ngữ văn lớp 9 tập 2), GV có thể
cho tình huống: “Nhìn ba mẹ vất vả và ngày một lớn tuổi, Lan và em thấy thương yêu, lo lắng cho ba mẹ nhiều hơn Là chị em Lan, các em sẽ trao đổi những gì để biểu lộ tình cảm và nhắc nhở nhau san sẻ gánh nặng với ba mẹ Hãy xây dựng đoạn hội thoại ngắn, trong đó có sử dụng hàm ý”.
PPTH được thực hiện theo các bước sau: Giới thiệu tình huống, HS nghiêncứu tình huống, tìm ra phương án giải quyết, trình bày giải pháp, GV tổng kết,đánh giá và rút ra bài học từ tình huống đã cho
Ví dụ: Dạy bài “Tổng kết ngữ pháp – Tiếp theo” (Ngữ văn lớp 9 tập 2), để
giúp học sinh hiểu được câu phân loại theo mục đích nói giáo viên có thể đặt học
sinh vào tình huống: Buổi sáng đến trường, em cùng nhóm bạn có dịp chiêm ngưỡng vẻ đẹp kiêu sa tươi tắn của những bông hồng nhung đỏ thắm đang nghiêng mình trong nắng sớm ban mai Em sẽ nói gì để bộc lộ cảm xúc của mình khi ngắm những bông hoa hồng nhung?
Sau đó giáo viên gọi vài bạn trả lời Học sinh sẽ đưa ra một số cách trả lời
A: “Hoa hồng nhung đẹp quá!”; B: “Hoa hồng nhung đẹp nhỉ?”; C: “Những bông hoa hồng nhung rất đẹp.”…
Giáo viên hỏi: Dựa vào câu phân loại theo mục đích nói, câu trả lời của các bạn thuộc kiểu câu nào ?
Học sinh: Câu trả lời của bạn A là kiểu câu cảm thán, của bạn B là kiểu câu nghi vấn, của bạn C là kiểu câu trần thuật.
Giáo viên: Chức năng của các kiểu câu trên?
Học sinh: Bộc lộ cảm xúc
Giáo viên hỏi: Câu trả lời nào được sử dụng với chức năng chính?
Học sinh: Câu A
Trang 9Từ đó giáo viên chốt kiến thức bài học: Câu phân loại theo mục đích nói ngoài việc được sử dụng với chức năng chính, còn được sử dụng với các chức năng khác.
Như vậy bằng việc tạo ra tình huống là ngữ liệu gần gũi với thực tế để giúphọc sinh làm quen với những tình huống giao tiếp thường gặp trong cuộc sống.Tình huống này đã tạo được không khí học tập thoải mái, học sinh sẽ giải tỏađược gánh nặng về tâm lí và tích cực tham gia vào quá trình tìm hiểu tri thức, Nhucầu giao tiếp cũng sẽ nảy sinh một cách tự nhiên
2.3.2 Tổ chức trò chơi
a Khái niệm và vai trò
- Trò chơi không chỉ là một “công cụ” dạy học mà nó còn là con đườngsáng tạo xuyên suốt quá trình học tập của học sinh Trò chơi học tập là một hoạtđộng được tổ chức có tính chất vui chơi, giải trí Thông qua trò chơi học tập họcsinh có điều kiện “học mà chơi, chơi mà học”
- Kết hợp sử dụng trò chơi trong học tập tạo không khí lớp học vui vẻ, thoảimái; giờ học bớt nặng nề, khô khan, việc ghi nhớ, khắc sâu kiến thức nhẹ nhàng,bền vững hơn Vận dụng trò chơi trong hoạt động dạy học là một trong những bệnpháp tăng cường, tích cực hóa trong hoạt động học tập của học sinh, làm tăngthêm tình cảm yêu thích môn học, tạo không khí thân thiện của thầy và trò
- Không sử dụng quá nhiều hình thức chơi trong một tiết học
- Giáo viên phải nêu rõ thể lệ cuộc chơi và qui định thời gian, đối tượng,cách chơi, luật chơi; đánh giá việc thực hiện trò chơi của học sinh phải toàn diện,công bằng, khách quan
c Biện pháp cụ thể
Trò chơi thường được sử dụng khi kiểm tra bài cũ, củng cố và luyện tập thựchành Hình thức thực hiện trò chơi học tập cũng rất phong phú đa dạng đòi hỏigiáo viên phải lựa chọn hình thức chơi hiệu quả nhất với từng tiết học Trong giờdạy học Tiếng Việt lớp 9 chúng ta có thể lựa chọn một số hình thức tổ chức tròchơi như:
Trò chơi ô chữ
Trang 10- Mục tiêu: Giúp học sinh vận dụng, khắc sâu kiến thức vào giải ô chữ đểlàm bài tập Tiếng Việt Phát huy tư duy nhanh nhạy, sáng tạo.
- Chuẩn bị: Bảng ô chữ trên màn hình máy chiếu
- Thực hiện: Giáo viên kẻ bảng ô chữ trên máy chiếu, đánh số thứ tự hàngngang và hàng dọc Hàng dọc là từ khóa lớn nhất cần tìm cho 5 điểm, các từ khóahàng ngang tìm được cho 1 điểm Học sinh được phép đoán ô chữ hàng dọc khichưa trả lời hết câu hỏi tìm ô chữ hàng ngang nếu phát hiện ra Tổng điểm củabạn nào được nhiều nhất sẽ nhận phần thưởng là điểm 10 và một tràng pháo tay
Ví dụ: Ô chữ dùng cho bài “Tổng kết từ vựng” (Ngữ văn 9, kì 1)
v i Ö g
2 Ô chữ hàng số 2 (10 chữ cái): Những từ được thêm vào câu để cấu tạo câunghi vấn, câu cầu khiến, câu cảm thán và để biểu thị các sắc thái tình cảm củangưới nói
3 Ô chữ hàng số 3 (5 chữ cái): Trong câu ghép mỗi kết cấu chủ- vị được gọi
là gì?
4 Ô chữ hàng số 4 (11 chữ cái): Là từ gợi tả hình ảnh, dáng vẻ, trạng tháicủa sự vật
5 Ô chữ hàng số 5 (7 chữ cái): Câu sau là loại câu nào (Nhận xét về cấu tạo)
“Cảnh vật chung quanh tôi đều thay đổi, vì chính lòng tôi đang có sự thay đổi lớn:hôm nay tôi đi học
6 Ô chữ hàng số 6 (12 chữ cái): Tập hợp những từ có ít nhất một nét chung
về nghĩa là gì?