Nhờ những hình ảnh nhân hóa trong thơ ca, biện pháp tu từ nhân hóa còn giúp cho các em cảm nhận được những cái hay, cái đẹp của cuộc sống, góp phần mở mang trí thức, làm phong phú về tâm
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO NGA SƠN
-****** -
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ HỌC TỐT BIỆN PHÁP TU TỪ NHÂN HÓA CHO HỌC SINH LỚP 3C TRƯỜNG TIỂU HỌC THỊ TRẤN NGA SƠN HUYỆN NGA SƠN, TỈNH THANH HÓA
Trang 22.2 Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng
2.3 Các biện pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề 4
Trang 3Như chúng ta đã biết Giáo dục Tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, phẩm chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản cho học sinh Trong chương trình giáo dục phổ thông, mỗi môn học đều xác định rõ mục tiêu, nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học trong đó giáo viên là người trực tiếp tìm hiểu, nghiên cứu cụ thể nội dung từng bài để xây dựng phương pháp dạy học, hình thức tổ chức phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh, làm sao qua mỗi bài học học sinh đạt chuẩn kiến thức, kĩ năng Xuất phát từ yêu cầu đổi mới nội dung chương trình phương pháp dạy học Một trong những nhiệm vụ quan trọng của giáo dục đào tạo hiện nay là hình thành và phát triển nhân cách cho học sinh một cách toàn diện theo mục tiêu phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Trong chương trình giáo dục tiểu học, Tiếng việt nói chung, phân môn LTVC nói riêng đặc biệt rất quan trọng Với tính chất thực hành toàn diện, tổng hợp và sáng tạo, phân môn LTVC giúp các em hình thành và phát triển vốn ngôn ngữ của mình biết sử dụng Tiếng việt có văn hoá Hình thành kĩ năng ứng xử trong các tình huống giao tiếp cụ thể Dạy Tiếng Việt trong nhà trường Tiểu học nhằm hình thành và phát triển ở học sinh các kỹ năng mà bước đầu là các kĩ năng nghe, nói đọc viết và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi.Thông qua môn Tiếng Việt, giáo viên rèn cho học sinh năng lực tư duy, khả năng quan sát, óc tưởng tượng, óc thẩm mỹ
Trong phân môn LTVC, biện pháp tu từ nhân hoá cũng rất quan trọng trong việc hình thành cho học sinh Tiểu học tình cảm gần gũi, yêu thích thế giới xung quanh Song song với biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa có khả năng khắc họa hình ảnh và gây ấn tượng mạnh mẽ, có tác dụng làm cho lời nói sinh động, diễn đạt mọi sắc thái biểu cảm của sụ vật được liên tưởng giống như con người Bởi nhờ nhân hoá, các con vật, đồ vật trở nên sống động, có hồn, có tính cách như con người, trở thành người bạn thân thiết của các em Nhân hoá được sử dụng rất nhiều trong thơ văn viết cho thiếu nhi Nhân hoá góp phần nâng cánh ước mơ, phát triển năng lực cảm thụ và khả năng tư duy Nhờ những hình ảnh nhân hóa trong thơ ca, biện pháp tu từ nhân hóa còn giúp cho các em cảm nhận được những cái hay, cái đẹp của cuộc sống, góp phần mở mang trí thức, làm phong phú về tâm hồn, tạo húng thú cho các em khi vận dụng viết những đoạn văn được hay hơn, có cảm xúc hơn
Trong quá trình giảng dạy, tôi nhận thấy việc giúp học sinh nhận biết, hiểu
và vận dụng các biện pháp tu từ nhân hoá là một kiến thức khó, còn gặp rất nhiều vướng mắc Với mong muốn làm thế nào để việc dạy và học phân môn LTVC nói chung, biện pháp tu từ nhân hóa nói riêng có hiệu quả, học sinh hứng thú học tập, cảm nhận được cái hay, cái đẹp thông qua tác dụng của biện pháp tu từ nhân hóa , đồng thời việc dạy và học đó cũng đảm bảo đúng yêu cầu đặc trưng của bộ môn
Do vậy, tôi đã tìm tòi nghiên cứu và mạnh dạn đưa ra “Một số giải pháp để học tốt biện pháp tu từ nhân hoá cho học sinh lớp 3C Trường Tiểu học Thị Trấn Nga Sơn”
Trang 41.2 Mục đích nghiên cứu
- Giúp học sinh lớp 3C Trường Tiểu học Thị Trấn Nga Sơn nhận biết được khái niệm của biện pháp tu từ nhân hoá, các cách nhân hoá
- Giúp các em cảm nhận được cái hay, cái đẹp của nhân hoá trong thơ, văn
- Biết vận dụng trong quá trình viết văn, học cảm thụ văn học, giao tiếp trong cuộc sống
- Các em biết yêu thiên nhiên hơn
1.3 Đối tượng nghiên cứu
- Sáng kiến được thực hiện khảo sát trên đối tượng học sinh lớp 3C Trường Tiểu học Thị Trấn Nga Sơn
1.4 Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu lí thuyết qua sách, các loại tài liệu có liên quan về nhân hóa
- Phương pháp thực nghiệm tại lớp, xây dựng các dạng đề, các dạng bài tập
về nhân hóa
- Phương pháp điều tra đối với khả năng và nhận thức của học sinh lớp 3C trường Tiểu học Thị Trấn
- Phương pháp giảng giải
2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm:
Trong chương trình Tiếng việt lớp 3 nói chung, phân môn LTVC nói riêng học sinh tiếp tục được mở rộng vốn từ qua các chủ điểm đã học nhằm cung cấp cho học snh những kiến thức sơ giản về từ Qua đó học sinh biết sử dụng trong giao tiếp, viết văn Bên cạnh đó, học sinh còn biết sử dụng dấu câu khi viết, khi đọc, rèn kĩ năng đặt và trả lời câu hỏi theo các kiểu câu Ngoài ra, học sinh còn nhận biết về biện pháp tu từ nhân hoá thông qua các dạng bài tập thực hành, hình thành cho học sinh một số hiểu biết và kĩ năng ban đầu về nhân hoá Học sinh biết cảm nhận được cái hay về những hình ảnh nhân hoá đẹp và vận dụng trong
quá trình viết văn
Nội dung chương trình phân môn Luyện từ và câu có vai trò quan trọng hàng đầu Với tính chất thực hành toàn diện, tổng hợp và sáng tạo, môn Luyện từ
và câu sẽ giúp các em hình thành, phát triển vốn ngôn ngữ của mình, biết sử dụng Tiếng Việt có văn hóa, sản sinh văn bản trong tư duy, giao tiếp và học tập, hình thành kỹ năng ứng xử trong các tình huống giao tiếp cụ thể của cuộc sống, làm cơ
sở hình thành kỹ năng tiếp nhận và sản sinh văn bản ở các lớp trên
Bên cạnh đó biện pháp nhân hoá cũng có vai trò rất quan trọng trong việc hình thành cho học sinh tiểu học tình cảm gần gũi, yêu thích thế giới xung quanh Bởi vì nhân hoá có khả năng khắc học hình ảnh và gây ấn tượng mạnh mẽ làm nên một hình thức miêu tả sinh động Nhờ có nhân hóa mà các con vật, đồ vật, cây cối,…thân thuộc trong cuộc sống trở nên sống động, có hồn, có những đặc điểm và tính cách như con người, trở thành những người bạn tuổi thơ thân thiết của các em nhỏ Nhân hóa được sử dụng rất nhiều trong các tác phẩm văn thơ viết cho thiếu nhi Nhân hóa góp phần phát triển năng lực cảm thụ văn học và khả năng tư duy hình tượng cho các em học sinh Tiểu học
Trang 5Từ vai trò trên, tôi nhận thấy cần phải làm thế nào để học sinh học tốt biện pháp tu từ nhân hóa một cách tự tin và đạt kết quả tốt nên tôi tìm hiểu nghiên cứu
“Một số giải pháp để học học tốt biện pháp tu từ nhân hoá cho học sinh lớp 3C Trường Tiểu học Thị Trấn Nga Sơn”
2.2 Thực trạng dạy phân môn LTVC ở trường tiểu học Thị Trấn Nga Sơn:
Trường Tiểu học Thị Trấn nằm ở trung tâm Thị Trấn Nga Sơn, là trường tiểu học đạt chuẩn mức độ 2 thuộc tốp đầu của tỉnh Thanh Hóa Là một ngôi trường có bề dày truyền thống về hoạt động dạy và học cũng như tất cả các hoạt
động khác Nhà trường, địa phương luôn quan tâm, chỉ đạọ sát sao đến công tác
giáo dục và tạo mọi điều kiện tốt nhất về cơ sở vật chất
Thực tế trong nhiều năm giảng dạy ở lớp 3 và được dự giờ các đồng nghiệp
có các tiết dạy về biện pháp tu từ nhân hóa, tôi thấy có nhũng ưu điểm và những mặt còn tồn tại như sau:
- Chưa dành nhiều nhiều thời gian đàu tư nghiên cứu làm thế nào để dạy tốt biện pháp tu từ nhân hóa sao cho có hiệu quả nhất
* Về học sinh:
Ưu điểm:
- Học sinh trường Tiểu học Thị trấn Nga Sơn có chất lượng đại trà tương đối tốt Học sinh ngoan ngoãn, thông minh, tiếp thu bài tốt, có tinh thần tự học và ham thích, say mê học tập
- Đại bộ phận cha mẹ học sinh có trình độ dân trí cao Vì vậy việc đầu tư, chăm lo cho con em học hành được các gia đình đặc biệt quan tâm, ủng hộ
Trang 6*Đề bài khảo sát:
Câu 1 Đọc bài thơ sau và trả lời câu hỏi:
Hôm nay trời nắng chang chang
Mèo con đi học chẳng mang thứ gì
Chỉ mang một chiếc bút chì
Và mang một mẩu bánh mì con con
a Bài thơ trên đã nhân hóa con vật nào?
b Con vật đó đã được nhân hóa bằng cách nào?
c Việc sử dụng biện pháp nhân hóa như vậy có tác dụng gì?
Câu 2 Em hãy viết một đoạn văn từ 4 đến 5 câu miêu tả cánh đồng lúa
chín Trong đó có sử dụng biện pháp nhân hóa
* Kết quả như sau:
Tổng số học sinh: 41 em
- Số học sinh HS nhận biết được sự vật nhân hoá: 26 em – 63,4 %
- Số học sinh HS nhận biết các cách nhân hoá 22 – 53.7%
- Số học sinh HS cảm nhận được cái hay của nhân hoá 10 em – 24,4 %
- HS biết vận dụng trong quá trình viết văn và giao tiếp: 10 em – 24,4 %
HS cảm nhận được cái hay của nhân
hoá
HS biết vận dụng trong quá trình viết văn và giao tiếp
Nhìn vào bảng số liệu trên, cho thấy số học sinh nắm vững được cả bốn nội dung trên chưa cao Số học sinh chủ yếu chỉ nhận biết được sự vật nhân hóa và các cách nhân hóa còn hạn chế rất nhiều Các em chưa cảm nhận được cái hay của nhân hóa và chưa vận dụng được nhân hóa ttrong quá trình viết văn và giao tiếp nên kết quả học tập chưa cao Để khơi dậy niềm yêu thích môn học và nâng cao chất lượng học tập môn LTVC lớp 3 là phương pháp thiết yếu cần được áp dụng thường xuyên và hiệu quả nên tôi luôn băn khoăn trăn trở trong việc làm thế nào để học sinh học tốt biện pháp tu từ nhân hóa Muốn đạt được điều đó cần phải
có giải pháp thực hiện
2.3 Các biện pháp thực hiện
Tiếng Việt có vài trò rất quan trọng như vậy, giúp cho học sinh có kiến
thức về vốn từ, trang bị cho học sinh một hệ thống kĩ năng hoạt động giao tiếp bằng Tiếng Việt, đồng thời còn bồi dưỡng năng lực tư duy cũng như sự ham thích học Tiếng Việt Để học sinh lĩnh hội được kiến thức về biện pháp tu từ nhân hóa
có hiệu quả và làm thế nào để nâng cao chất lượng dạy và học về biện pháp tu từ
nhân hóa, trong quá trình giảng dạy tôi rút ra một số giải pháp như sau:
2.3.1 Giải pháp 1: Tìm hiểu về nội dung chương trình SGK lớp 3 và các dạng bài tập về biện pháp tu từ nhân hóa
Từ thực tế giảng dạy một số năm ở lớp 3 và qua dự giờ một số đồng nghiệp tôi thấy giáo viên chưa thực sự quan tâm đến hệ thống chương trình, dạy
Trang 7đến đâu biết đến đó, chưa có sự đầu tư chuẩn bị kỹ để xây dựng kế hoạch bài dạy theo hệ thống logic Nhằm mục đích cho việc nghiên cứu, trước tiên tôi đã thống
kê và tổng hợp nội dung chương trình về biện pháp tu từ nhân hóa trong phân môn LTVC của chương trình SGK lớp 3 phục vụ cho việc giảng dạy
a Hệ thống mạch kiến thức
Kiến thức về biện pháp tu từ nhân hóa được đưa vào giảng dạy trong chương trình lớp 3 phân môn LTVC gồm 6 tiết ở Học kì II (bắt đầu từ tuần 19 đến tuần 33) được hệ thống theo mạch kiến thúc sau:
Tuần Nội dung kiến thức
19 Khái niệm về nhân hoá
25 Bước đầu cảm nhận về cái hay của những hình ảnh nhân hoá
28 Tiếp tục củng cố về nhân hoá
33 - Cảm nhận cái hay về những hình ảnh nhân hoá đẹp
- Viết một đoạn văn có hình ảnh nhân hoá
Việc tìm hiểu nội dung chương trình SGK giúp bản thân tôi nắm rõ được nội dung chương trình từ đó tôi tìm hiểu, nghiên cứu cụ thể nội dung từng bài để xây dựng phương pháp dạy học, hình thức tổ chức sao cho phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh làm sao qua mỗi bài học học sinh đạt chuẩn kiến thức, kĩ năng
b Phân dạng bài tập
Trong chương trình học kiến thức tu từ nhân hóa được xậy dựng qua các dạng bài tập như sau:
* Bài tập nhận biết biện pháp tu từ nhân hoá
Dạng bài tập này thường là nêu ngữ liệu qua đoạn văn, khổ thơ Trong đó có
sử dụng biện pháp tu từ nhân hoá, từ đó học sinh hiểu được khái niệm nhân hoá Dạng bài tập này được chia thành các bài tập nhỏ:
+ Nhận diện (tìm) sự vật nhân hoá
+ Tìm từ ngữ thể hiện biện pháp nhân hoá
Ví dụ 1: Tuần 19
Đọc hai khổ thơ dưới đây và trả lời câu hỏi:
Mặt trời gác núi Bóng tối lan dần Anh Đóm chuyên cần Lên đèn đi gác
Theo làn gió mát Đóm đi rất êm
Đi sốt một đêm
Lo cho người ngủ
(Võ Quảng)
Trang 8a Con đom đúm được gọi bằng gỡ?
b Tớnh nết và hoạt động của đom đúm được tả bằng những từ ngữ nào? Đõy là bài đầu tiờn học sinh được tỡm hiểu về khỏi niệm nhõn hoỏ và hai cỏch nhõn hoỏ Vậy khi dạy giỏo viờn cần tỡm hiểu rừ nội dung của bài, dự kiến phương phỏp dạy học, hỡnh thức tổ chức phự hợp với đặc điểm tỡnh hỡnh lớp dự kiến cỏc tỡnh huống cú thể xảy ra, nội dung kiến thức khú mà học sinh khú nắm bắt Do đú, tụi tiến hành thực dạy như sau:
- Cho học sinh đọc yờu cầu và xỏc định yờu cầu bài tập
- Thảo luận theo nhúm đụi và điền kết quả vào bảng sau:
Con đom đúm
được gọi bằng gỡ? Tớnh nết của đom đúm được tả bằng từ ngữ nào? Hoạt động của đom đúm được tả bằng những từ ngữ nào? Anh Chuyờn cần Lờn đốn, đi gỏc, đi rất ờm, đi
suốt đờm, lo cho người ngủ
- Lớp nhận xột- Giỏo viờn nhận xột củng cố: Con đom đúm trong bài thơ được gọi bằng “anh” là từ dựng để gọi người; tớnh nết và hoạt động của đom đúm được tả bằng những từ ngữ chỉ tớnh nết và hoạt động của con người Như vậy con đom đúm đó được nhõn hoỏ
Tuy nhiờn, với dạng bài tập này, phần lớn học sinh cũn lỳng tỳng khi xỏc định từ chỉ tớnh nết, hoạt động của đom đúm và hệ thống lại kiến thức để đưa ra được khỏi niệm nhõn hoỏ Do vậy, giỏo viờn cần sử dụng thờm cỏc cõu hỏi cụ thể giỳp học sinh dễ xỏc định
Vớ dụ:
- Hai khổ thơ trờn núi đến con vật nào? (con đom đúm)
- Con đom đúm được gọi bằng gỡ?
-Từ nào chỉ tớnh nết con người? (chuyờn cần)
-Từ nào chỉ hoạt động của con người?(lờn đốn, đi gỏc, đi rất ờm, đi suốt một đờm,lo)
* Cỏc từ chuyờn cần, lờn đốn, đi gỏc ,… trờn dựng chỉ hoạt động của ai? (con người), từ chuyờn cần chỉ tớnh nết của ai?(con người), cỏch gọi anh dựng
để xưng hụ với ai? (con người) song cỏc từ này dựng để xưng hụ, chỉ tớnh nết, hoạt động của con vật nào? (đom đúm) Vậy cỏch gọi, cỏch tả vốn để gọi, để
tả ng-ời đem gán cho con đom đóm, nh- vậy con đom đóm ở đây đ-ợc nhân hoá
Vớ dụ 2: Tuần 21
Đọc bài thơ sau:
ễng trời bật lửa
Chị mõy vừa kộo đến Trăng sao trốn cả rồi Đất núng lũng chờ đợi Xuống đi nào, mưa ơi!
Mưa! Mưa xuống thật rồi Đất hả hờ uống nước ễng sấm vỗ tay cười Làm bộ bừng tỉnh giấc
Trang 9Chớp bỗng loè chói mắt Soi sáng khắp ruộng vườn Ơ! Ông trời bật lửa
Xem lúa vừa trổ bông
và tìm hiểu thêm các cách nhân hoá
- Trước hết, GV đọc diễn cảm bài thơ, học sinh đọc lại Việc đọc diễn cảm rất quan trọng vì nó giúp học sinh phần nào trả lời được câu hỏi
- Học sinh đọc yêu cầu và xác định yêu cầu bài tập
- Học sinh trao đổi theo cặp đôi và hoàn thành bảng sau, một nhóm điền vào phiếu khổ to theo nội dung trong bảng sau:
Xuống đi nào, mưa ơi!
- Các nhóm báo cáo kết quả, nhóm khác nhận xét, giáo viên củng cố
+ Sự vật nào được nhân hoá? (Mặt trời, mây, mưa, trăng sao, đất, sấm)
+ Có mấy cách nhân hoá? Đó là những cách nào?
Từ bài tập trên GV hướng dẫn, cho HS nêu các cách nhân hóa Có 3 cách nhân hoá:
1 Gọi sự vật bằng từ dùng để gọi con người
2.Tả sự vật bằng những từ ngữ dùng để gọi con người
3 Nói với sự vật thân mật như nói với một người bạn
Đối với dạng bài tập này, từ sự phân tích và hướng dẫn của GV, học sinh tiếp thu rất nhanh và rất hào hứng học tập Các em dễ dàng nhận biết được sự vật nhân hóa và tìm được từ ngữ thể hiện nhân hóa
Trang 10Một số hình ảnh học sinh tích cực say mê học tập, hăng hái phát biểu ý kiến
* Bài tập suy luận phân tích
Đây là dạng bài tập kích thích sự tưởng tượng giúp học sinh nhận biết được tác dụng của nhân hóa, cái hay, cái đẹp của biện pháp nhân hoá
Cô gió chăn mây trên đồng
Bác mặt trời đạp xe qua ngọn núi
(Trần Đăng Khoa)
Với bài tập này, trọng tâm là giúp học sinh bước đầu cảm nhận được cái hay, cái đẹp của biện pháp tu từ nhân hoá Cũng như các bài tập trước đó, cho học sinh đọc yêu cầu và xác định yêu cầu bài tập Học sinh suy nghĩ và nêu kết quả suy nghĩ của mình Ở bài tập này đối với đối tượng và trình độ nhận thức của học sinh lớp tôi giáo viên cần làm rõ bằng hệ thống câu hỏi nhỏ như:
- Tìm những sự vật và con vật được nhân hoá
- Các sự vật, con vật được tả bằng những từ ngữ nào?
- Cách gọi và tả sự vật, con vật như vậy có gì hay?
Để học sinh trả lời được và hiểu rõ hơn về vấn đề tìm hiểu, giáo viên thiết kế bảng sau:
Tên các sự
vật, con
vật
Các sự vật, con vật được gọi Các sự vật, con vật được tả
Cách gọi và tả sự vật, con vật
Làm cho các sự vật, con vật trở nên sinh động, gần gũi, đáng yêu hơn
Tre cậu bá vai nhau thì thầm đứng
học
sông
Mặt trời bác đạp xe qua ngọn núi
Trang 11Gợi ý cho học sinh thấy các hình ảnh phất phơ bím tóc, bá vai nhau thì thầm đứng học, áo trắng, khiêng nắng qua sông, chăn mây trên đồng, đạp xe qua ngọn núi có hay không? Các từ ngữ này chỉ dùng để tả ai? Dùng để tả con vật, sự vật nhằm mục đích gì?
Đàn cò “mặc áo trắng” và biết khiêng như con người Lại không phải khiêng một cái gì cụ thể mà là khiêng nắng- đàn cò khiêng nắng qua sông- một bức tranh thật đẹp với đầy đủ những cảnh sắc tạo nên sự mê hồn mà dễ hiểu Đó là bức tranh với hình ảnh những cánh cò màu trắng nổi bật trên nền vàng của nắng
và lấp lánh của dòng nước trên sông
Cho học sinh hiểu về tác dụng của nhân hoá: Nhằm làm cho thế giới loài vật, cây cối, đồ vật trở nên gần gũi với con người, biểu thị được những suy nghĩ, tình cảm của con người
Kết luận: Nhờ nhân hoá mà làm cho các sự vật, con vật trở nên sinh động, gần gũi, đáng yêu
* Bài tập tạo lời
Ngoài việc nắm bắt, hiểu được thế nào là nhân hoá, các cách nhân hoá, hiểu tác dụng của biện pháp nhân hoá mà học sinh còn phải biết vận dụng kiến thức đó viết một đoạn văn có hình ảnh nhân hóa Dạng bài tập này được phân thành các dạng nhỏ sau: Tìm những từ chỉ người, chỉ đặc điểm, dấu hiệu của con người, điền vào chỗ trống cho thích hợp nhằm diễn tả sự vật bằng cách nhân hoá; Sử dụng biện pháp tu từ nhân hoá để diễn đạt lại những câu văn cho sinh động, gợi cảm; tập viết đoạn văn có sử dụng biện pháp tu từ nhân hoá
Ví dụ Tuần 33: Hãy viết một đoạn văn ngắn (từ 4 đến 5 câu) trong đó có sử dụng phép nhân hoá để tả bầu trời buổi sớm hoặc tả một vườn cây
Đây là tuần cuối cùng học sinh được củng cố khái niệm nhân hoá, các cách nhân hoá và tập viết đoạn văn có sử dụng biện pháp tu từ nhân hoá Đây cũng là dạng bài tập khó, để học sinh viết được đoạn văn đã khó trong đó có sử dụng biện pháp nghệ thuật nhân hoá lại càng khó hơn Bởi vì, kĩ năng viết văn của các em còn hạn chế Hạn chế về khả năng sử dụng vốn từ, hạn chế về khả năng diễn đạt, hạn chế về khả năng lựa chọn hình ảnh đẹp, Do vậy, khi hướng dẫn học sinh làm bài tập này, giáo viên phải:
- Cho học sinh đọc kĩ đề bài
- Học sinh xác định yêu cầu bài tập Giáo viên nhấn mạnh các từ ngữ tả bầu trời buổi sớm hoặc tả một vườn cây trong đó có sử dụng biện pháp nghệ thuật nhân hoá
- Học sinh lựa chon nội dung viết cho mình
- Cho học sinh tìm các bài thơ, bài văn tả vườn cây (Quạt cho bà ngủ, Ngày hội rừng xanh, Bài hát trồng cây, Mặt trời xanh của tôi, ) hay những đặc điểm về bầu trời buổi sáng(Bầu trời, mặt đất, cây cối, con người, không gian, )
- Cho học sinh viết bài
- Một số học sinh đọc bài- học sinh khác nhận xét- giáo viên nhận xét
Với năm học trước, tôi đã thực dạy như trên nhưng chỉ có một số học sinh giỏi viết được đoạn văn trong đó có 1 đến hai câu có sử dụng biện pháp nhân hoá Với năm học này tôi mạnh dạn đưa ra biện pháp và hình thức tổ chức dạy học như sau:
Trang 12Trước đó, vào tiết học tăng cường trong tuần tôi đã cho học sinh học ngoại khoá tại vườn trường để tìm hiểu
Ví dụ Tả một vườn cây
Tôi tổ chức cho các em quan sát và thảo luận theo nhóm với hệ thống câu hỏi đã chuẩn bị sẵn Từ đó định hướng cho các em khả năng quan sát và có kĩ năng viết văn Song đối với tiết học này, tôi chỉ định hướng cho các em sử dụng biện pháp tu từ nhân hoá để viết đoạn văn theo yêu cầu
Trước khi học sinh thảo luận, tôi định hướng cho các em cách quan sát (không gian, thời gian, cảnh bầu trời, mặt đất, sự vật xung quanh, )
Ví dụ
- Em thấy bầu trời thế nào? (Cao vời vợi, trong xanh)
- Trên trời có gì? (Ông mặt trời, những đám mây trắng)
- Gió thổi thế nào? (Nhè nhẹ)
- Cây cối thế nào? (Có chim hót trong vòm lá, hoa đang nở)
- Sân trường thế nào? (Có rất nhiều cây, cây đang đâm chồi nảy lộc)……
Sau khi định hướng cho các em cách quan sát tôi tiếp tục định hướng cho các em sử dụng biện pháp tu từ nhân hoá cho các câu trả lời trên
Tổng số học sinh trong lớp: 40, tôi chia thành 4 nhóm 4 nhóm có nhiệm vụ quan sát và thảo luận theo hệ thống câu hỏi
Hỏi: Em hãy sử dụng biện pháp nhân hoá để viết lại các câu văn sau cho sinh động hơn
- Bầu trời cao vời vợi: + Bầu trời trầm ngâm
+ Bầu trời khoác lên mình chiếc áo xanh kì diệu
- Mặt trời: + Bác mặt trời đạp xe qua ngọn núi
+ Ông mặt trời nấp sau bụi tre
- Những tia nắng vàng toả khắp vườn cây:
+ Những tia nắng vàng đang nhảy nhót khắp vườn cây + Những tia nắng vàng đùa vui, tinh nghịch
- Mùa xuân, sân trường mướt xanh màu lá
+ Mùa xuân, sân trường khoác chiếc áo mướt xanh màu lá
+ Mùa xuân ấm áp, dịu dàng
- Mấy con chim đang hót ríu rít trên vòm cây
+ Mấy chú chim đang trò chuyện ríu rít trên vòm cây
+ Những chú chim non đang vui ca trong vòm lá
- Những bông hoa nở trong nắng sớm
+ Những bông hoa tươi cười trong nắng sớm
+ Những bông hoa thì thầm toả hương
- Gió thổi nhè nhẹ
+ Những chị gió nhón chân đi nhè nhẹ trên những cành cây
- Mỗi khi làn gió thoảng qua, cây cối trong vườn lại đung đưa
+ Mỗi khi chị gió dạo ngang qua, cây cối trong vườn lại rung rinh chào đón
Sau khi học sinh quan sát, thảo luận và viết kết quả vào phiếu thì các em báo báo kết quả thảo luận của nhóm mình, các nhóm khác nhận xét, bổ sung
Tuy nhiên, đối với yêu cầu của bài này thì các em phải viết đoạn văn và có
sử dụng biện pháp tu từ nhân hoá nên tôi chỉ định hướng hệ thống câu hỏi trên để