1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(SKKN 2022) Một số giải pháp rèn kỹ năng nghe-nói cho học sinh lớp 3E trong dạy học phân môn Tập làm văn lớp 3 ở trường TH Vĩnh Long, huyện -Vĩnh Lộc - Tỉnh Thanh hóa

28 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 809,81 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ góc nhìn của hoạt động nói năng các phân môn Tập đọc, Luyện từ và câu, Chính tả, Tập viết, Kể chuyện, Tập làm văn đều lấy trục hoạt động giao tiếp làm điểm tựa, lấy trục rèn kĩ năng g

Trang 1

1.1 Lí do chọn đề tài

Bước sang thế kỉ XXI, điều kiện kinh tế xã hội nước ta có những thay đổi lớn Đất nước bước vào thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá Cơ cấu kinh tế, trình độ phát triển sản xuất khoa học kĩ thuật, nhu cầu xã hội, thu nhập quốc dân có những bước phát triển quan trọng Vấn đề hội nhập, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, xu hướng quốc tế hoá, toàn cầu hoá trong kinh tế đang thường xuyên đặt ra và ngày càng cấp bách Những thay đổi đó trong kinh tế xã hội, trong giáo dục đã dẫn tới yêu cầu mới trong dạy tiếng nói chung, tiếng mẹ

đẻ nói riêng Để Tiếng Việt ngày càng trở thành công cụ đắc lực cho sự phát triển kinh tế xã hội, cho sự phát triển giáo dục, việc dạy tiếng cần phải nhằm vào

cả hai chức năng của ngôn ngữ: vừa là công cụ của tư duy, vừa là công cụ của giao tiếp; phải chú trọng cả vào 4 kĩ năng: nghe, nói, đọc, viết Từ góc nhìn của hoạt động nói năng các phân môn Tập đọc, Luyện từ và câu, Chính tả, Tập viết,

Kể chuyện, Tập làm văn đều lấy trục hoạt động giao tiếp làm điểm tựa, lấy trục rèn kĩ năng giao tiếp làm mục đích dạy học Đặc biệt so với chương trình cũ, phân môn Tập làm văn là phần thể hiện rõ nhất việc dạy Tiếng Việt theo hướng giao tiếp Một trong những mục đích quan trọng nhất của dạy Tập làm văn cho học sinh trong nhà trường là giúp các em hiểu và sử dụng được Tiếng Việt - một phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của người Việt

Xuất phát từ tầm quan trọng của phân môn Tập làm văn ở trường Tiểu học, chương trình Tiểu học 2000 đã chú trọng việc rèn luyện cho học sinh các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết thông qua hệ thống các bài tập Qua đó dần hình thành cho các em thái độ học tập tích cực, tác phong linh hoạt, nhanh nhẹn trong hoạt động và giao tiếp Để đạt được điều này thì yêu cầu về đổi mới phương pháp dạy học thể hiện được quan điểm giao tiếp, phát huy tính tích cực của học sinh là một việc làm cần thiết đối với mỗi giáo viên và mỗi nhà trường Song trong thực

tế, việc đổi mới phương pháp nâng cao chất lượng dạy - học Tập làm văn còn gặp nhiều khó khăn Một số giáo viên quá quen với phương pháp dạy cũ, chưa phát huy được tính tích cực của học sinh Giáo viên còn giảng nhiều, chưa chú trọng đến việc rèn luyện các kĩ năng cho học sinh Việc sử dụng các hình thức luyện tập còn đơn điệu không gây được hứng thú học tập cho học sinh Bên cạnh

đó, học sinh ở nông thôn còn nhút nhát, vốn từ ngữ hạn chế, chưa mạnh dạn tham gia giao tiếp nên các em còn ngại học phân môn này Vì vậy việc rèn kĩ năng, đặc biệt là kĩ năng nghe - nói cho học sinh còn nhiều hạn chế, chất lượng học tập phân môn Tập làm văn chưa cao

Là một giáo viên trực tiếp tham gia công tác giảng dạy ở lớp 3 trong nhiều năm, tôi luôn trăn trở với câu hỏi “Làm thế nào để hướng học sinh vào hoạt động giao tiếp, phát triển kĩ năng nghe - nói, phát huy tính sáng tạo chủ động của học sinh trong giờ Tập làm văn nhằm nâng cao chất lượng dạy học phân môn tập làm văn lớp 3 nói riêng, chất lượng dạy học môn Tiếng Việt ở trường Tiểu học Vĩnh Long nói chung”? Xuất phát từ những mong muốn đó, tôi đã

quyết định lựa chọn “ Một số giải pháp rèn kĩ năng nghe - nói cho học sinh lớp 3E trong dạy học phân môn Tập làm văn lớp 3 ở trường Tiểu học Vĩnh Long - Huyện Vĩnh Lộc - Tỉnh Thanh Hoá” làm vấn đề nghiên cứu

Trang 2

1.3 Đối tượng nghiên cứu

Một số giải pháp rèn kĩ năng nghe - nói cho học sinh lớp 3E trong dạy học phân môn Tập làm văn lớp 3 ở trường Tiểu học Vĩnh Long

Giáo viên và học sinh lớp 3E trường Tiểu học Vĩnh Long

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp nghiên cứu chủ yếu được sử dụng như sau:

1.4.1 Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lí thuyết

Tôi tiến hành đọc, tìm hiểu, nghiên cứu, chắt lọc từ một số tài liệu liên quan như: Thiết kế bài giảng Tiếng Việt lớp 3, Sách giáo viên Tiếng Việt 3, nguồn Iternet và đặc biệt là khai thác nội dung chương trình sách giáo khoa Tiếng Việt Tiểu học ở lớp 2 và lớp 3

1.4.2 Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế thu thập thông tin

Tôi tiến hành quan sát, thu thập những thao tác, những biểu hiện ở các giờ dạy của giáo viên, khảo sát học sinh

1.4.3 Phương pháp thực nghiệm

Để kiểm nghiệm và đánh giá hiệu quả của việc vận dụng các biện pháp dạy học đã đề xuất, tôi soạn giáo án, tổ chức thực nghiệm cách dạy mới Chọn hai lớp có trình độ ngang nhau một lớp dạy theo cách dạy mới, một lớp dạy theo cách dạy cũ, so sánh đối chiếu kết quả để rút ra kết luận

1.4.4 Phương pháp thống kê xử lí số liệu

Thu thập thống kê số liệu, phân tích và xử lí số liệu điều tra khảo sát

1.4.5 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm

Để tìm ra được phương pháp dạy học vấn đề này một cách thiết thực và

có hiệu quả, tôi học hỏi kinh nghiệm giảng dạy, trao đổi ý kiến dạy học vấn đề này với nhiều giáo viên khác và đúc rút kinh nghiệm từ bản thân qua dạy học ở

lớp 3

Trang 3

2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 2.1 Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm

“Tập làm văn là một trong những phân môn có vị trí quan trọng của môn Tiếng Việt Phân môn Tập làm văn rèn cho học sinh tạo lập văn bản, góp phần dạy học sinh sử dụng Tiếng Việt trong đời sống sinh hoạt” [1] Để làm được một bài văn không những học sinh phải sử dụng cả bốn kỹ năng: nghe - nói - đọc - viết mà còn phải vận dụng các kỹ năng về Tiếng Việt, về cuộc sống thực tiễn Vì vậy Tập làm văn là phân môn có tính tổng hợp, có liên quan mật thiết đến các môn học khác

“Mục tiêu của phân môn tập làm văn lớp 3 là rèn cả 4 kĩ năng nghe, nói, đọc và viết Trong giờ Tập làm văn, học sinh được cung cấp kiến thức về cách làm bài và làm các bài tập (nói, viết) xây dựng được các loại văn bản và các bộ phận cấu thành của văn bản Bên cạnh đó, học sinh còn tập kể lại những mẩu chuyện được nghe thầy, cô kể trên lớp” [1] Trong quá trình dạy một tiết Tập làm văn, để đạt mục tiêu đề ra ngoài phương pháp của thầy, học sinh cần phải có vốn kiến thức ngôn ngữ về đời sống thực tế, khả năng nói và viết phải trôi chảy, lưu loát rõ ràng để người nghe hiểu được nội dung mình cần nói, cần viết Đó chính là yêu cầu cần đạt trong việc rèn luyện khả năng giao tiếp và góp phần đắc lực vào việc giữ gìn, phát huy sự trong sáng của Tiếng Việt và hình thành nhân cách con người Việt Nam

Về nội dung, phân môn Tập làm văn lớp 3 tiếp tục đường hướng chung là hình thành và phát triển các kĩ năng giao tiếp cho học sinh, nhưng so với lớp 2, ở lớp 3, học sinh được dạy các kĩ năng giao tiếp bậc cao hơn: không phải là những nghi thức lời nói thông thường như chào hỏi, cảm ơn, xin lỗi, mà là các hoạt động giao tiếp có tính chất chính thức như viết thư, làm đơn, khai giấy tờ, hội họp, giới thiệu hoạt động, viết quảng cáo, làm báo cáo “Tăng cường rèn luyện

kĩ năng nói thông qua hình thức nghe - kể (trung bình 3 tuần / 1 lần nghe và kể

lại một mẩu chuyện - chủ yếu là mẩu chuyện vui) và tăng cường các hình thức sinh hoạt tập thể tự nhiên như họp nhóm, họp tổ, giới thiệu tranh ảnh về các cảnh đẹp đất nước cho lớp hoặc tổ nghe, ” [1] Có thể nói Tập làm văn là phân môn thực hành và rèn luyện tổng hợp, có tính chất tích hợp các phân môn khác trong môn Tiếng Việt Qua từng nội dung bài dạy, phân môn Tập làm văn bồi dưỡng thái độ ứng xử có văn hoá, tinh thần trách nhiệm trong công việc, bồi dưỡng tình cảm lành mạnh tốt đẹp cho học sinh

2.2 Thực trạng dạy học phân môn Tập làm văn lớp 3 trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm ở trường tiểu học Vĩnh Long

2.2.1 Thực trạng việc dạy của giáo viên

Để tìm hiểu thực trạng dạy học nội dung nghe - nói trong phân môn Tập làm văn cho học sinh lớp 3, tôi đã tiến hành dự giờ một số tiết học của các giáo

Trang 4

- Tiết Tập làm văn “Nghe - kể: Dại gì mà đổi Điền vào giấy tờ in sẵn” ngày 22 tháng 9 năm 2021 của cô Trần Thị Huyền, lớp 3B

- Tiết Tập làm văn “nghe - kể: Không nỡ nhìn” ngày 4 tháng 10 năm 2021 của cô Lê Thị Hương, lớp 3D

Qua dự giờ tôi nhận thấy các đồng chí chưa coi trọng việc dạy học theo định hướng tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh, cụ thể như sau:

Giáo viên chưa thống kê, phân biệt được sự khác nhau cơ bản của các kiểu bài Tập làm văn trong chương trình và phương pháp đặc trưng của mỗi dạng bài này Vì vậy còn dạy một cách dập khuôn máy móc theo một quy trình

đã định sẵn, chưa có sự linh hoạt sáng tạo trong từng bài dạy Giáo viên mới chỉ chú ý đến việc cho học sinh làm lần lượt các bài tập trong sách giáo khoa mà sau mỗi bài tập chưa chú ý hướng dẫn học sinh rút ra nội dung kiến thức cơ bản mà các em cần được lĩnh hội

Ngoài ra, tôi còn quan sát một số tiết tập làm văn do giáo viên khác trong khối xây dựng để dạy và đã nhận thấy: Khi lập kế hoạch dạy học hầu hết giáo viên chưa xác định một cách đầy đủ và chính xác mục đích của từng bài tập nhằm đạt được là gì? Chưa tìm hiểu những kiến thức cũ liên quan đến bài học và hướng học sinh tới những kiến thức sẽ học ở những bài sau, lớp sau nên tiết dạy còn rời rạc, không có sự liên kết giữa các bài học, các phân môn

Về phương pháp giảng dạy của giáo viên còn chậm đổi mới Giáo viên quá quen với phương pháp dạy cũ: giảng giải, thuyết trình nhiều vì sợ học sinh không hiểu nên thời gian dành cho học sinh luyện tập ít, chưa phát huy được tính tích cực sáng tạo của học sinh Do vậy học sinh không có cơ hội để phát huy khả năng nói, viết theo cách nghĩ và vốn hiểu biết của mình

Giáo viên chưa chú trọng đến việc rèn kĩ năng cho học sinh đặc biệt là kĩ năng nghe - nói Trong các giờ học chưa quan tâm đến các đối tượng học sinh trong lớp mà thường mới tập trung cho các em học sinh hoàn thành tốt được nói trước lớp

2.2.2 Thực trạng việc học phân môn tập làm văn của học sinh

Từ việc dạy học theo kiểu áp đặt, khô khan của giáo viên, qua thực tế cho thấy các em thường ngại học Tiếng Việt hơn học Toán Trong các bài luyện nói, học sinh còn nhút nhát, chưa mạnh dạn, diễn đạt chưa rõ ràng mạch lạc thường bắt chước theo mẫu, lời nói không tự nhiên, chưa có sự sáng tạo trong các tình huống giao tiếp thông thường Về kĩ năng viết của học sinh cũng còn nhiều hạn chế Bài viết chưa có sự liên kết về ý, chưa sáng tạo mà còn viết theo kiểu trả lời lần lượt từng câu hỏi Kĩ năng trình bày bài chưa tốt, thường bắt chước theo mẫu trong sách giáo khoa hoặc mẫu của giáo viên Học sinh chưa mạnh dạn khi phát biểu ý kiến, tổ chức cuộc họp hay giới thiệu về bản thân, về người thân chưa tự nhiên Trong các bài tập nghe - kể, khả năng nghe để nhớ và nắm nội dung truyện còn chậm nên khi kể nhiều học sinh chưa kể được liền mạch mà chủ yếu trả lời riêng rẽ từng câu hỏi theo nội dung truyện

2.2.3 Kết quả của thực trạng

* Với học sinh:

Thực trạng trên được thể hiện khi tôi dự giờ và khảo sát chất lượng của lớp 3E và lớp 3D ở trường Vĩnh Long vào tháng 9 năm học 2021 - 2022:

Trang 5

Bài 1: Em hãy kể 5 - 7 câu về gia đình em (Tuần 3)

Bài 2: Nghe - kể lại câu chuyện Dại gì mà đổi (Tuần 4)

Kết quả như sau:

Bảng 1: Tổng hợp kết quả bài kiểm tra khảo sát

* Với giáo viên:

Tôi đã dự giờ 4 đồng chí giáo viên trong khối

Kết quả: 3 tiết đạt giờ dạy Khá, 1 tiết đạt giờ dạy Giỏi

2.2.4 Nguyên nhân của thực trạng

Qua dự giờ, trao đổi với đồng nghiệp và qua khảo chất lượng tôi đã tìm ra nguyên nhân học sinh học chưa nói tốt trong giờ tập làm văn nghe - kể lại câu

chuyện như sau:

Trong tiết học, giáo viên quá chú trọng vào hình thành kiến thức mà xem nhẹ việc thực hành rèn luyện kĩ năng nói cho học sinh theo các đối tượng khác nhau

Giáo viên chưa chịu khó suy nghĩ, tìm tòi, vận dụng các phương pháp dạy học và hình thức dạy học khác nhau vào các tiết dạy mà chỉ giảng dạy theo một quy trình áp đặt rập khuôn, chưa chú trọng sửa lỗi cho học sinh trong quá trình luyện nói

Khả năng tự tin nói trước lớp của học sinh không tốt, nhiều em còn thiếu

tự tin, ngại nói trước lớp, không tự tin giơ tay phát biểu trong giờ học, nếu được

cô gọi thì miễn cưỡng đứng lên trả lời

Học sinh không được rèn luyện nói trước lớp thường xuyên nên khi bạn nói cũng không tập trung nghe Vì vậy khả năng phân tích nhận xét đánh giá bài bạn còn yếu chưa có kĩ năng chữa lỗi giúp nhau

Học sinh lớp 3 các em vẫn đang ở lứa tuổi tò mò, ham học hỏi hay bắt chước nhưng lại chóng chán, nhanh quên, ngại tìm hiểu những văn bản dài và khó như tập làm văn, các em còn học thụ động, bắt buộc, trong giờ học còn tỏ ra

uể oải, mệt mỏi không thích học môn Tập làm văn

Là giáo viên trực tiếp dạy học lớp 3, tôi đã băn khoăn trăn trở rất nhiều về vấn đề này Để việc dạy và học đạt hiệu quả cao hơn, tôi mạnh dạn nghiên cứu, tìm tòi và học hỏi đồng nghiệp để đưa ra một số giải pháp giúp học sinh lớp 3 nghe - nói tốt nhằm đáp ứng với yêu cầu phát triển giáo dục toàn diện trong giai đoạn hiện nay

Trang 6

2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề:

2.3.1 Giải pháp 1: Vận dụng linh hoạt các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học để hướng dẫn học sinh thực hành nghe - nói trong giờ Tập làm văn “Nghe – kể lại câu chuyện”

Để giúp học sinh tích cực chủ động rèn kĩ năng nghe - nói trong giờ Tập làm văn Nghe kể lại câu chuyện, trong quá trình thực hiện tùy theo nội dung từng câu chuyện, tôi làm như sau:

2.3.1.1 Hướng dẫn học sinh xem tranh và đoán nội dung truyện

Để nâng cao chất lượng kể chuyện trong giờ Tập làm văn tôi tổ chức cho học sinh xem tranh và đoán được nội dung truyện Muốn vậy tôi đã chuẩn bị tranh chu đáo, đẹp, đảm bảo nội dung câu chuyện Trước khi học sinh quan sát tranh, tôi giao việc để định hướng học sinh khi quan sát tranh Thông qua đó học sinh nêu được nội dung truyện Cụ thể:

Giáo viên đưa tranh phóng to hoặc cho học sinh quan sát tranh SGK

Học sinh thảo luận cặp, đoán nội dung truyện (Ảnh 1 - Phụ lục 1)

Giáo viên ghi một số ý kiến cơ bản (nhân vật, một vài sự kiện) mà học sinh đã đoán được lên bảng

Học sinh nghe giáo viên kể chuyện hai lần

Học sinh đối chiếu giữa nội dung câu chuyện vừa được nghe với nội dung mình đã đoán để điều chỉnh những điều đã được ghi trên lớp (cho học sinh làm vào phiếu học tập)

Học sinh trao đổi về một vài điều thú vị hay ý nghĩa của câu chuyện Học sinh kể lại câu chuyện theo cặp (theo nhóm)

Đại diện nhóm học sinh kể lại câu chuyện trước lớp (có thể nhập vai kể) Học sinh nhận xét, giáo viên bổ sung, nhận xét chung

Ví dụ:

Nghe kể lại câu chuyện: Dại gì mà đổi (Bài tập 1, Tiếng Việt 3,

Tập 1, trang 36) [2]

Nội dung câu chuyện trong Sách giáo viên Tiếng Việt 3, tập 1, trang 103

a Chuẩn bị:

Tranh vẽ ở sách giáo khoa phóng to

Phiếu bài tập: Em hãy xem tranh và đoán thử xem nội dung câu chuyện theo bảng sau và điều chỉnh lại khi nghe truyện

Câu hỏi gợi ý a Thử đoán nội

dung câu chuyện

b Điều chỉnh nội dung khi nghe kể

Câu chuyện có mấy nhân vật

Họ đang làm gì?

Người mẹ đã nói với con điều gì? Người con trả lời mẹ ra sao?

Kết quả câu chuyện như thế nào?

Trang 7

b Cách tiến hành:

Giáo viên treo tranh vẽ trên bảng, chia nhóm học sinh và phát phiếu học tập cho các nhóm, cho học sinh đọc yêu cầu của bài tập ghi trên phiếu và tiến hành làm bài tập a

Giáo viên theo dõi, gọi đại diện các nhóm nêu một số ý và ghi lên bảng Giáo viên kể chuyện 2 lần (nội dung câu chuyện có trong Sách giáo viên) học sinh đối chiếu giữa nội dung câu chuyện vừa được nghe với nội dung mình

đã đoán để điều chỉnh ở phần b của bài tập

Ví dụ:

Câu hỏi gợi ý a Thử đoán nội dung b Điều chỉnh nội dung khi

nghe kể Câu chuyện có mấy

nhân vật? Câu chuyện có hai nhân vật Câu chuyện có hai nhân vật

Họ đang làm gì? Họ đang nói chuyện với

nhau

Người mẹ dọa sẽ đổi cậu

bé để lấy một đưa con ngoan về nuôi

Người mẹ đã nói

với con điều gì?

người con trả lời

mẹ chẳng bao giờ đổi được đâu vì không ai dại gì mà đổi đứa con ngoan lấy đưa con nghịch ngợm cả

Kết quả câu chuyện

Giáo viên bao quát lớp, kèm cặp thêm cho học sinh chưa hoàn thành Cho học sinh trao đổi về một điều thú vị trong truyện hay nêu ý nghĩa chuyện: Câu chuyện buồn cười ở chỗ nào? (Chuyện buồn cười vì cậu bé nghịch ngợm mới 4 tuổi cũng biết rằng không ai muốn đổi một đứa con ngoan lấy một đứa con nghịch ngợm) Giáo viên chốt lại nội dung: Không ai dại gì mà đổi một đứa con ngoan lấy một đứa con nghịch ngợm cả

Cho học sinh kể lại chuyện theo nhóm

Đại diện nhóm kể lại trước lớp Học sinh nhận xét bổ sung, giáo viên nhận xét chung

2.3.1.2 Hướng dẫn học sinh dự đoán diễn biến câu chuyện

Giáo viên kể một phần đầu của câu chuyện sau đó đặt câu hỏi đề nghị học sinh đoán sự kiện gì có thể xảy ra tiếp theo Giáo viên ghi một vài ý học sinh đoán lên bảng

Học sinh nghe giáo viên kể tiếp rồi trao đổi đối chiếu điều được nghe với điều đã đoán để điều chỉnh phần được ghi trên bảng

Giáo viên kể lại câu chuyện 2 lần đề nghị học sinh nêu thêm một số tình tiết nữa phần đầu của truyện (ở hoạt động này giáo viên có thể dùng thẻ từ ghi

Trang 8

các sự kiện thể hiện trong phần đầu của truyện và học sinh chọn đưa vào dàn ý

đã có trên bảng)

Học sinh trao đổi về ý nghĩa hoặc một vài chi tiết thú vị trong câu chuyện Học sinh kể lại câu chuyện (theo nhóm hay cặp)

Đại diện vài nhóm học sinh kể lại câu chuyện trước lớp

Cả lớp nhận xét, giáo viên bổ sung và nhận xét chung

Ví dụ minh hoạ: Nghe kể lại câu chuyện Dại gì mà đổi (Bài tập 1, Tiếng Việt 3, Tập 1, Trang 36) [2]

Nội dung câu chuyện trong Sách giáo viên Tiếng Việt 3, Tập 1, trang 103 [3]

a Chuẩn bị: Tranh vẽ ở sách giáo khoa phóng to

b Cách tiến hành:

Giáo viên treo tranh vẽ lên bảng

Giáo viên kể phần đầu của câu chuyện kết hợp chỉ tranh: “Có một cậu bé

4 tuổi nhưng rất nghịch ngợm Một hôm, mẹ cậu doạ sẽ đổi cậu để lấy một đứa trẻ ngoan về nuôi.”

Giáo viên hỏi: Các em thử đoán xem cậu bé trả lời như thế nào?

Giáo viên ghi một vài ý học sinh đoán lên bảng:

Ví dụ :

Cậu bé òa khóc

Cậu bé hét lên

Cậu bé mừng rỡ

Cậu bé không đồng ý đổi

Giáo viên kể tiếp câu chuyện và cho học sinh đối chiếu điều được nghe với điều đã đoán để điều chỉnh phần ghi ở bảng

Giáo viên kể chuyện lần 2, đề nghị học sinh nêu lên một số tình tiết nửa phần đầu của câu chuyện Giáo viên có thể đưa lên một số thẻ từ ghi một số tình tiết của câu chuyện

Ví dụ:

Mẹ sẽ chẳng đổi được đâu!

Vì sao thế?

Chẳng ai muốn đổi đứa con ngoan để lấy đứa con nghịch

Học sinh trao đổi về ý nghĩa hoặc một vài chi tiết thú vị của câu chuyện Học sinh kể lại câu chuyện (theo nhóm hay cặp) kết hợp câu hỏi gợi ý ở sách giáo khoa

Đại diện vài nhóm học sinh kể trước lớp

Cả lớp nhận xét, giáo viên bổ sung, nhận xét chung

2.3.1.3: Xây dựng mạng câu chuyện

Bước 1: Giáo viên kể lần 1, hỏi học sinh câu chuyện có mấy nhân vật Giáo viên phác hoạ hình các nhân vật ấy lên bảng (bằng cách vẽ các ô tròn rồi ghi tên các nhân vật đó vào)

Bước 2: Giáo viên kể lần 2

Học sinh chú ý nghe, viết xung quanh nhân vật một số từ hay cụm từ thể hiện hành động, suy nghĩ của nhân vật (xây dựng mạng câu chuyện) Nếu học sinh có khó khăn thì giáo viên đặt một số gợi ý

Học sinh trao đổi, điều chỉnh mạng câu chuyện theo nhóm hoặc cả lớp

Trang 9

Bước 3: Học sinh kể

Học sinh kể tốt nhìn mạng câu chuyện kể mẫu trước lớp

Học sinh kể theo cặp (nhóm)

Học sinh chọn kể những chi tiết hay nhất, giải thích vì sao hay?

Học sinh thảo luận theo ý nghĩa của câu chuyện

Ví dụ: Nghe - kể lại câu chuyện “Chàng trai làng Phù Ủng” [2]

Giáo viên kể chuyện lần 2 Học sinh nghe - xây dựng mạng câu chuyện Học sinh thảo luận rồi điều chỉnh mạng câu chuyện, có thể như sau:

Học sinh nhận xét, giáo viên bổ sung và động viên khuyến khích các em

Học sinh dựa vào mạng câu chuyện để kể lại theo nhóm, giáo viên kèm cặp giúp đỡ học sinh chưa hoàn thành

Đại diện nhóm kể trước lớp Học sinh nhận xét, giáo viên bổ sung, nhận xét chung Giáo viên hỏi học sinh: Qua câu chuyện này, em biết gì về Phạm Ngũ Lão? (Giáo viên nói thêm: Phạm Ngũ Lão là một người có tài và nhân hậu, biết cách giúp đỡ người nghèo khổ)

Cả lớp và giáo viên bình chọn bạn kể chuyện hay, hiểu câu chuyện nhất

* Một số lưu ý khi dạy dạng bài trên:

Có rất nhiều cách để tiến hành giờ học dạy dạng bài “Nghe - kể lại câu chuyện” Giáo viên có thể tuỳ vào tình hình của lớp, trình độ học sinh để chọn cách dạy phù hợp nhất

Cho dù dạy theo cách nào, giáo viên cũng phải có sự chuẩn bị bài trước (Tranh ảnh phục vụ nội dung câu chuyện hoặc xây dựng mạng câu chuyện, phiếu bài tập) để giờ học sinh động, gây hứng thú học tập cho học sinh hơn

Chú ý giao việc cho học sinh rõ ràng đặc biệt là khi hoạt động nhóm và nên theo dõi kèm cặp thêm cho học sinh nhút nhát, chưa hoàn thành, tạo cho các

em niềm tin, mạnh dạn hơn trong học tập

Trang 10

2.3.2 Giải pháp 2: Tạo hứng thú cho học sinh thông qua các trò chơi học tập

Ngoài việc vận dụng linh hoạt, thay đổi hình thức tổ chức cho học sinh nghe - kể theo các phương án đã nêu, để tạo hứng thú học tập cho học sinh tôi đã

sử dụng thêm phương pháp tổ chức trò chơi học tập như : Đóng vai - Thi kể theo lời nhân vật; Đi tìm diễn viên (Ảnh 4, phụ lục 1)

2.3.2.1 Trò chơi đóng vai

Yêu cầu của kiểu bài Nghe - kể lại câu chuyện không chú trọng đến yếu tố nhập vai, thể hiện sự sáng tạo khi kể nhưng đây chính là một yếu tố cơ bản để bồi dưỡng phát huy học sinh năng khiếu Hơn nữa việc tổ chức trò chơi đóng vai

sẽ làm thay đổi không khí lớp học tạo cho học sinh hứng thú khi kể và khi nghe bạn kể góp phần nâng cao hiệu quả giờ dạy Để tổ chức trò chơi đóng vai có hiệu quả, tôi đã tiến hành như sau:

Trước hết cho học sinh nhận xét về số nhân vật trong truyện

Chia nhóm, học sinh tự nhận vai

Học sinh tập kể phân vai trong nhóm

Thi kể giữa các nhóm

Bình bầu nhóm kể hay nhất

Tuyên dương khen thưởng

2.3.2.2 Trò chơi “Đi tìm diễn viên”

Giáo viên nêu tên trò chơi

Phổ biến cách chơi: Học sinh chọn một nhân vật trong câu chuyện vừa được nghe Tập nói lời của nhân vật ấy kết hợp cử chỉ điệu bộ sao cho phù hợp Nhiều học sinh cùng thể hiện 1 vai diễn

Cho học sinh diễn trước lớp

Học sinh cả lớp bình chọn “ Diễn viên xuất sắc nhất” của lớp

Lưu ý: Trước khi cho học sinh thi kể, cho cả lớp bầu ban giám khảo và nêu cách tính điểm của Ban giám khảo

Sau khi nghe xong truyện, học sinh phải xếp đúng theo trình tự: a - c - d -

g - b - e rồi dựa vào trình tự đó để kể lại câu chuyện

2.3.3 Giải pháp 3: Luyện cho học sinh cách kể hay, nói về một chủ đề ở phân môn Tập làm văn lớp 3

Mục đích: Nội dung các bài tập thuộc dạng bài này nhằm rèn cho học sinh kỹ năng diễn đạt bằng lời nói về một chủ đề nào đó: Nói viết về thành thị hoặc nông thôn; kể về gia đình; kể về một buổi thi đấu thể thao

Xem xét cách triển khai câu hỏi gợi ý ở mỗi đề, chúng ta có thể thấy dạng

đề này hầu như là sự kết hợp của nhiều thể loại: miêu tả, tường thuật, thuyết

Trang 11

minh và phát biểu cảm nghĩ Trong sách giáo viên, các kiểu đề này chủ yếu được tiến hành theo một trình tự như sau:

Giáo viên giới thiệu bài

Giáo viên hướng dẫn học sinh làm bài

Học sinh đọc và xác định yêu cầu của bài tập

Giáo viên cho học sinh tìm ý theo hệ thống câu hỏi trong sách giáo khoa,

hệ thống câu hỏi trong sách giáo viên hoặc giải thích cho học sinh cách làm bài

Một học sinh kể mẫu và giáo viên nhận xét

Học sinh tập nói theo tổ (nhóm)

Đại diện một số nhóm nói trước lớp Cả lớp và giáo viên nhận xét

Cả lớp viết bài vào vở nếu bài yêu cầu cả nói và viết

Theo tôi khi dạy dạng đề này ngoài phương án được nêu trên trong sách giáo viên, giáo viên có thể sử dụng mạng ý nghĩa để giúp học sinh tìm kiếm và phát triển diễn đạt ý tưởng tạo cho các em sự mạnh dạn tự tin trong học tập

Sử dụng “Mạng ý nghĩa” là như sử dụng một đồ dùng dạy học, một biện

pháp dạy học cụ thể - Sử dụng mạng ý nghĩa là cách thức giáo viên tổ chức cho

học sinh suy nghĩ diễn đạt một cách chủ động và sáng tạo trong dạy học Tập làm

văn Phương pháp này hướng đến việc cá thể hoá tối đa hoạt động nói và viết

của học sinh sao cho sản phẩm làm văn của các em vừa bảo đảm được chuẩn mực cơ bản của một thể loại văn bản, vừa thể hiện bản chất cái tôi của mỗi học sinh trên cơ sở khai thác khái niệm và hiểu biết có trước của các em cũng như những ý tưởng và ngôn từ trong các bài đọc theo chủ đề mà các em đã được học trong sách giáo khoa

Tiến trình thực hiện phương pháp mạng ý nghĩa:

* Hoạt động 1: Tìm hiểu đề

Học sinh định hình cụ thể đối tượng nói hay viết trong trí nhớ đồng thời biết đối tượng đó là ai? Là gì? ở đâu? Lúc nào? vào khung chủ đề Trong trường hợp dùng vật thật hay tranh ảnh thì khung chủ đề cũng chính là chúng

Để thực hiện hoạt động này giáo viên có thể sử dụng các bước sau:

Giáo viên trò chuyện khơi gợi rồi đề nghị học sinh nghĩ về đối tượng Tạo tình huống khơi gợi rồi đề nghị học sinh nghĩ đến chủ đề hay đề tài

Kể một mẩu chuyện nhỏ kết hợp đặt câu hỏi hướng học sinh đến đề tài Dùng tranh ảnh hoăc mẫu vật thật do giáo viên mang đến lớp hay do học sinh tự sưu tầm

Cho học sinh tô màu rồi đặt tên cho một hình vẽ nào đó (do giáo viên cung cấp) liên quan đến đề tài

Sử dụng mô hình (khung ngôi nhà, khung ngôi trường .) Trên nền khung giáo viên hướng dẫn học sinh vẽ hay viết thêm chi tiết vào

Sử dụng một đoạn văn mẫu lấy từ bài tập đọc đã học hay từ các bài làm của học sinh

* Hoạt động 2: Tìm ý

Học sinh tập trung động não nghĩ về đối tượng đã xác định trong khung chủ đề và viết ra bất kì những từ ngữ nào liên quan đến đối tượng ấy Khi tiến hành hoạt động này giáo viên cần sử dụng một trong các bước sau:

Sử dụng hệ thống câu hỏi để kích thích và định hướng cho học sinh phát

Trang 12

triển ý Cần lưu ý câu hỏi phải có tính chất mở, hướng đến việc khơi gợi kinh nghiệm riêng của các em

Ví dụ: Đối với văn miêu tả, câu hỏi có thể được triển khai theo hướng mở sau: Em thấy gì? Em nghe gì? Em nghĩ gì? Em cảm thấy gì?

Đưa ra một khung mạng trong đó cho sẵn vài ý, phần còn lại để học sinh suy nghĩ và đưa thêm ý vào để hoàn thành mạng (khung mạng ý nghĩa có thể được trình bày dưới nhiều hình thức khác nhau tuỳ theo nội dung từng bài: Bông hoa, chùm bong bóng, mạng nhện, một cây với những cành lá )

Đối với học sinh đã quen với việc sử dụng mạng, giáo viên nên để các em

tự nghĩ và viết ra các ý mà không cần đưa một hệ thống câu hỏi hoàn chỉnh

Học sinh viết các ý dưới dạng từ hay cụm từ xung quanh chủ đề Giáo viên tuyệt đối tránh viết chốt lại một số từ về đề bài Cần xoá đi những ý đã được ghi lên bảng trong giai đoạn làm mẫu nghĩa là khi học sinh làm việc cá nhân trong phiếu học tập thì trên bảng chỉ còn lại khung mạng trống

Mỗi học sinh xem lại các ý trong mạng và đánh số thứ tự

Gọi vài học sinh lên thể hiện mạng ý nghĩa của mình đã làm trước lớp để

cả lớp theo dõi việc làm mẫu của một số học sinh Ngoài khung mạng làm mẫu, giáo viên vẽ sẵn trên bảng các mạng tương tự và che chúng lại Sau khi học sinh

đã tìm ý và hình thành mạng ý nghĩa trong phiếu bài tập, giáo viên cho một số

em lên thể hiện lại ý của mình vào các khung mạng trên bảng

* Hoạt động 4: Học sinh diễn đạt các ý trong mạng ý nghĩa thành bài dưới dạng nói

Giáo viên hướng dẫn học sinh nhìn mạng ý nghĩa của mình diễn đạt thành câu, thành bài trước lớp hay theo nhóm, cặp, theo nhóm đôi

Hình thành và phát triển “môi trường tư liệu ở lớp học” để giúp học sinh

có điều kiện dễ dàng sử dụng từ ngữ khi tìm ý và ý thành bài

Thu thập và trưng bày các bài văn của học sinh hoàn thành tốt năm trước Phân tích điểm hay của các bài đọc tiêu biểu cho các thể loại văn bản, giới thiệu thành bộ sưu tập và trưng bày

Xây dựng từ điển lớp: Giáo viên đưa ra, hướng dẫn học sinh thu thập danh mục từ mà các em đã biết theo chủ đề Tập làm văn trong sách giáo khoa

Tập cho học sinh có thói quen quan tâm đến các trường hợp sử dụng từ hay trong khi đọc, kể chuyện hay luyện từ và câu

* Hoạt động 5: Trao đổi, sửa chữa và nhận xét

Cho vài nhóm học sinh thể hiện lại trước lớp rồi tổ chức trao đổi nhận xét

và rút kinh nghiệm về cách nói phù hợp với yêu cầu của nội dung và thể loại của

đề bài

Ví dụ:

Đề bài: Nói về quê hương em (Bài tập 2, Tiếng Việt 3, Tập1) [2]

1 Chuẩn bị: Phiếu học tập

Trang 13

a Hoàn thành bảng dưới đây:

Tên bài đọc Quê hương là Chi tiết làm em xúc động nhất

Giọng quê hương

Quê hương

Đất quý, đất yêu

Vẽ quê hương

Chõ bánh khúc của dì tôi

b Đánh dấu X trước mỗi câu nếu em đồng ý Qua các bài đọc trên em thấy quê hương: Là tất cả những gì gần gũi, thân thương đối với mình Là nơi mình sinh ra và lớn lên Là những điều mình có thể nghe, có thể thấy, có thể sờ, có thể nếm Là cái gì đó mà khi xa mình thấy nhớ thương c Các em hãy nghĩ về quê hương mình Quê em ở đâu? Em yêu nhất cảnh vật gì ở quê hương? Cảnh vật đó có gì đáng nhớ? Tình cảm của em đối với quê hương như thế nào? 2 Cách tiến hành: * Hoạt động 1: Giúp học sinh tìm hiểu yêu cầu của đề bài và chuẩn bị thông tin ý tưởng để nói Trước hết giáo viên phát phiếu học tập cho học sinh và dẫn dắt học sinh hoàn thành bài tập a, b trên phiếu (theo nhóm) Giáo viên treo bảng phụ có ghi các bài tập a, b trên bảng Cho các nhóm tự nêu kết quả bài làm của mình, các nhóm khác nhận xét, giáo viên bổ sung hoàn thành bài tập * Hoạt động 2: Học sinh tập trung động não nghĩ về quê hương đã xác định trong khung chủ đề và viết ra bất kì những từ ngữ nào liên quan đến quê hương mà mình đang nghĩ tới Giáo viên treo bài tập (ghi sẵn ở bảng phụ) lên bảng kèm với lời dẫn dắt để kích thích học sinh hồi tưởng Học sinh làm vào giấy nháp; giáo viên đồng thời gọi hai em làm vào bảng phụ ghi vào khung chủ đề cụm từ “Quê hương em” rồi sau đó ghi ra bất kì ý tưởng nào của mình có được xung quanh chủ đề ấy (lưu ý học sinh chỉ ghi từ hoặc cụm từ) Ví dụ:

ngôi nhà vườn bách thú thành phố con sông quê hương em cây đa, giếng nước

nông thôn đường phố nhà cao tầng

Hoạt động 3: Học sinh đánh số thứ tự các ý mình vừa tìm được, giáo viên hướng dẫn các em sắp xếp các ý bằng số thứ tự 1, 2, 3

Trang 14

Giáo viên bao quát lớp, chú ý học sinh để giúp các em điều chỉnh

Hoạt động 4: Học sinh nhìn mạng của mình và nói Cho hai em nói mẫu trước lớp

Ví dụ :

Em sinh ra và lớp lên ở nông thôn Quê hương em thật là đẹp Ở đó có cây

đa cổ thụ che bóng rợp cả một vùng Giếng nước trong veo Trước mặt ngôi nhà

em là con sông quê hương Em rất thích tắm mình dưới con sông ấy khi mùa hè đến Em yêu quê hương của mình

Hoặc: Em và gia đình sống ở thành phố Ở đó em thấy có nhiều ngôi nhà cao tầng Trên đường phố, mọi người và xe cộ đi lại tấp nập Ngày nghỉ, em thường được bố mẹ dẫn đi xem vườn bách thú, được ngồi trên lưng chú voi con Cảm giác của em lúc đó rất là thích Em yêu quý nơi này

Cả lớp nhận xét, giáo viên bổ sung

Hoạt động 5: Học sinh nói theo cặp (hoặc nhóm 4)

Giáo viên bao quát lớp đặc biệt lưu ý giúp học sinh nhút nhát

Hoạt động 6: Học sinh nói thể hiện trước lớp

Giáo viên gọi đại diện nhóm lên nói trước lớp (không nhìn mạng ý nghĩa) Nếu là học sinh nắm bài chưa tốt, giáo viên cho học sinh nhìn mạng để nói

Tổ chức cho học sinh thể hiện mở rộng cảm xúc về quê hương mình Khuyến khích học sinh tự tìm đặt thêm câu hỏi mở rộng Giáo viên nhận xét chung

Ví dụ 2:

Dạy bài: Kể về gia đình (Bài tập 1, Tiếng Việt 3, Tập 1, Trang 28) [2] Đối với bài tập này, giáo viên cần rèn cho học sinh kỹ năng nói: Kể được một cách đơn giản về gia đình mình với một người bạn mới quen

Giáo viên treo bảng phụ lên bảng Học sinh đọc thầm và hồi tưởng

Học sinh làm vào giấy nháp Giáo viên gọi đồng thời hai em làm vào bảng phụ, ghi vào khung chủ đề cụm từ “gia đình mình” rồi sau đó ghi ra bất kì ý tưởng nào của mình có được xung quanh chủ đề đó

Hoạt động 2: Học sinh đánh số thứ tự của mình vừa tìm được theo thứ tự Giáo viên bao quát lớp đặc biệt là chú ý học sinh chưa hoàn thành để giúp các em điều chỉnh

Hoạt động 3: Học sinh nhìn mạng ý nghĩa của mình và nói

Giáo viên gọi 2 em đại diện kể về gia đình mình trước lớp

Ví dụ:

Gia đình tớ có 5 người: Bố mẹ tớ, anh Hải, chị Hằng và tớ Bố tớ là công nhân nhà máy dệt Mẹ tớ làm nhân viên bán hàng tại siêu thị Anh Hải, chị Hằng

Ngày đăng: 09/06/2022, 21:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w