1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(SKKN 2022) một số biện pháp giúp học sinh lớp 4 học tốt dấu hiệu chia hết

21 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề (SKKN 2022) Một số biện pháp giúp học sinh lớp 4 học tốt Dấu hiệu chia hết
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội
Chuyên ngành Giáo dục
Thể loại Sáng kiến kinh nghiệm
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 1,55 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dạy "Các dấu hiệu chia hết" cho học sinh lớp 4 là một mạch kiến thức vô cùng quan trọng, giúp học sinh có kỹ năng nhận biết một số bất kỳ nào đó có chia hết cho 2, 3, 5, 9 hay không dựa

Trang 1

2.3 Một số biện pháp giúp học sinh học tốt Dấu hiệu chia hết 5

3 Kết luận và đề nghị 17

1 MỞ ĐẦU 1.1 Lý do chọn đề tài

Cách mạng công nghệ 4.0 là xu thế công nghệ tất yếu mà Việt Nam đang hướng đến để theo kịp các nước phát triển trên thế giới Những nhu cầu về nguồn nhân lực trong thời đại ứng dụng công nghệ, kĩ thuật ngày càng cao thì việc đòi hỏi các nhà trường đào tạo nên những con người mới: thông minh, năngđộng, sáng tạo, và có kĩ năng trong công việc một cách tốt nhất là vô cùng cấp

Trang 2

thiết Bởi vậy, trách nhiệm của hệ thống giáo Giáo dục và Đào tạo là phải gây dựng nguồn nhân lực có chất lượng tốt cho đất nước Trong Chương trình Giáo dục và Đào tạo thì Toán học có vị trí rất quan trọngphù hợp với cuộc sống thực tiễn, đó cũng là công cụ cần thiết cho các môn học khác, giúp học sinh nhận thức thế giới xung quanh để hoạt động có hiệu quả trong thực tiễn.

Khả năng giáo dục nhiều mặt của môn Toán rất cao, nó có khả năng phát triển tư duy logic, phát triển trí tuệ Nó có vai trò to lớn trong việc rèn luyện phương pháp suy nghĩ, suy luận, phương pháp giải quyết vấn đề có căn cứ khoa học toàn diện, chính xác, có nhiều tác dụng phát triển trí thông minh, tư duy độc lập sáng tạo, linh hoạt, góp phần giáo dục ý chí nhẫn nại, kiên trì vượt khó khăn

Từ vị trí và nhiệm vụ vô cùng quan trọng của môn Toán, vấn đề đặt ra cho người dạy là làm thế nào để giờ dạy học toán có hiệu quả cao, học sinh được chủđộng, sáng tạo trong việc chiếm lĩnh kiến thức toán học

Để đạt được mục tiêu này, giáo viên cần nắm bắt đặc điểm tâm lí lứa tuổi họcsinh tiểu học, cấu trúc nội dung chương trình

Ở Tiểu học, số học là nội dung trọng tâm, là hạt nhân của toàn bộ quá trình học toán từ lớp 1 đến lớp 5 Như vậy, việc dạy học số tự nhiên được thực hiện liên tiếp từ đầu lớp 1 đến cuối học kì 1 của lớp 4 theo các mức độ từ đơn giản và

cụ thể đến khái quát và trừu tượng hơn Đây là sự đổi mới cấu trúc và nội dung dạy học toán 4 so với chương trình cải cách giáo dục Chính vì vậy, người giáo viên cần có những đổi mới phương pháp phù hợp với nội dung chương trình để nâng cao chất lượng giáo dục Đặc biệt là nâng cao chất lượng môn Toán trong chương trình hiện hành

Toán 4, ngoài việc tập trung bổ sung hoàn thiện, tổng kết, hệ thống hoá, khái quát hoá về số tự nhiên còn giới thiệu về Dấu hiệu chia hết trong số tự nhiên Dạy "Các dấu hiệu chia hết" cho học sinh lớp 4 là một mạch kiến thức vô cùng quan trọng, giúp học sinh có kỹ năng nhận biết một số bất kỳ nào đó có chia hết cho 2, 3, 5, 9 hay không dựa vào một số dấu hiệu cần thiết không cần thực hiện hết phép tính Đây là cả một vấn đề mới mẻ về nội dung và phương pháp dạy học của giáo viên và học sinh

Đối với học sinh các em chỉ được học các dấu hiệu chia hết trên cơ sở được phát hiện, giới thiệu và tự phát biểu trong sách giáo khoa Học sinh tự giác thôngbáo các kết quả đó và làm theo chứ không được chứng minh Vì vậy các em chưa có kỹ năng vận dụng một cách linh hoạt và sáng tạo vào việc giải các bài toán đòi hỏi sự tư duy nhanh nhạy mà không cần phải tính toán

Là giáo viên có nhiều năm giảng dạy ở lớp 4, bản thân tôi thấy đây là một mảng kiến thức hay nhưng khó, gây khá nhiều khó khăn, vướng mắc đối với cả giáo viên và học sinh Xuất phát từ những lí do trên, tôi đã tìm tòi và đưa ra:

“Một số biện pháp giúp học sinh lớp 4 học tốt Dấu hiệu chia hết.” để góp

phần nâng cao chất lượng dạy học toán nói chung và chất lượng dạy học dạng toán này nói riêng

Trang 3

1.2 Mục đích nghiên cứu.

Nghiên cứu về việc dạy “dấu hiệu chia hết”, giúp giáo viên rút ra được những

kinh nghiệm khi dạy nội dung này nói riêng và việc dạy học toán cho học sinh nói chung

Nghiên cứu về các dấu hiệu chia hết trong số tự nhiên giúp cho giáo viên

nắm sâu hơn về các kiến thức cơ bản chia hết Đa dạng hóa trong vận dụng kiếnthức, giúp cho học sinh nắm chắc kiến thức này vận dụng vào các kiến thức cóliên quan Góp phần tìm ra cách vận dụng linh hoạt các kiến thức cơ bản củamôn học nhằm phát triển năng lực trí tuệ về môn toán cho học sinh lớp 4

1.3 Đối tượng nghiên cứu.

Nội dung chương trình môn Toán lớp 4, trong đó tập trung vào các kiến thức

liên quan đến dấu hiệu chia hết

Các giải pháp, biện pháp thường được vận dụng trong dạy học toán nói chung

và dạy về dấu hiệu chia hết nói riêng

Đối tượng là học sinh lớp 4A - Trường Tiểu học Hòa Lộc.

Thời gian nghiên cứu từ tháng 9/2020 đến tháng 5/2022

1.4 Phương pháp nghiên cứu

1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết.

2 Phương pháp điều tra

3 Phương pháp thống kê

4 Phương pháp thực nghiệm

2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 2.1 Cơ sở lý luận.

Học sinh ở độ tuổi tiểu học mang đặc trưng của giai đoạn tư duy cụ

thể.Trong một chừng mực nào đó, hành động trên các đồ vật làm chỗ dựa hay điểm xuất phát cho tư duy Các thao tác tư duy đã liên kết với nhau thành tổng thể nhưng chưa hoàn toàn tổng quát

Học sinh tiểu học bước đầu có khả năng thực hiện việc phân tích tổng hợp,

trừu tượng hóa - khái quát hóa và những hình thức đơn giản của sự suy

luận,phán đoán Các em phân tích và tổng hợp có khi không đúng hoặc không đầy đủ, dẫn đến khái quát sai khi hình thành khái niệm Khi làm bài, học sinh thường bị ảnh hưởng bởi một số yếu tố cụ thể, tách chúng ra khỏi điều kiện chung để lựa chọn phép tính ứng với yếu tố đó, do vậy dễ mắc sai lầm Các khái niệm toán học được hình thành qua trừu tượng hóa và khái quát hóa từ các đồ vật và sự trừu tượng hóa từ các hành động Chính vì vậy, nội dung về dấu hiệu chia hết được đưa vào học ở lớp 4

Về thời lượng Chương trình Toán 4 dạy "Dấu hiệu chia hết" chỉ có 7 tiết

Song trong quá trình dạy tôi thấy nội dung kiến thức này lại được vận dụng vào làm rất nhiều dạng bài khác nhau ở phần tiếp theo như: Rút gọn phân số, quy đồng mẫu số (tìm mẫu số chung nhỏ nhất); Tìm điều kiện để phân số có giá trị là

số tự nhiên; Viết các số tự nhiên theo dấu hiệu chia hết; Cấu tạo số; Tìm chữ số tận cùng hoặc chữ số còn thiếu của một số; Các bài toán về phép chia có dư và

Trang 4

vận dụng vào bước kiểm tra kết quả bài giải, tự ra đề Trong khi đó, lại có rất ít tài liệu chuẩn hướng dẫn việc dạy về dấu hiệu chia hết sao cho có hiệu quả Chính vì vậy, khi dạy đến nội dung này tôi luôn trăn trở là làm sao cho học sinh không lúng túng và vận dụng thành thạo các dấu hiệu chia hết vào học các nội dung liên quan Nếu ta trang bị thêm cho các em một phần kiến thức cơ bản thì các em có thể dễ dàng nhận diện được và khi đó có thể đưa về hoặc sử dụng các bài toán quen thuộc để giải quyết và làm cơ sở để giúp các em học tốt môn toán

ở lớp trên

Về cấu trúc Chương trình môn Toán lớp 4 có 4 tiết dạy bài mới về Dấu hiệu chia hết cho 2, cho 5, cho 3 và cho 9 Cùng với đó là 3 tiết luyện tập và một số bài tập được lồng ghép vào trong bài học của những tiết khác.Tuy thời lượng ít như vậy nhưng việc vận dụng dấu hiệu chia hết vào làm các dạng bài tập khác lại rất đa dạng và phong phú

Về nội dung của phần lý thuyết về các dấu hiệu chia hết ở sách giáo khoa toán

4, ta thấy:Trong chương trình toán 4, người ta chỉ dạy điều kiện đủ các dấu hiệu chia hết cho 2 ( hoặc 3,5,9) mà không dạy điều kiện cần Vì thế ghi nhớ được phát biểu thành lời ghi trong sách giáo khoa là những điều kiện có dạng "Điều kiện đủ "và diễn đạt bằng ngôn ngữ diễn đạt dễ hiểu đối với học sinh Tiểu học Nội dung kiến thức về dấu hiệu chia hết cho 2;3;5;9 được cung cấp cho học sinh lớp 4 theo trình tự sau :

* Dấu hiệu chia hết cho 2, Dấu hiệu chia hết cho 5.

Hai dấu hiệu này giống nhau ở yếu tố: đều căn cứ vào chữ số tận cùng của nó.Vì vậy được dạy liền nhau và tách ra thành 2 tiết

* Dấu hiệu chia hết cho 3, Dấu hiệu chia hết cho 9.

Hai dấu hiệu này giống nhau ở yếu tố: tính tổng các chữ số của một số Do 9 làbội của 3 nên chương trình đưa dấu hiệu chia hết cho 9 học trước rồi mới học dấu hiệu chia hết cho 3 sau

2.2.Thực trạng vấn đề:

2.2.1 Thực trạng việc dạy-học toán về dấu hiệu chia hết ở khối lớp 4-

Trường Tiêu học Hòa Lộc

Qua thực tế giảng dạy, dự giờ đồng nghiệp ở trường tôi thấy: Khi dạy về các

dấu hiệu chia hết, giáo viên cho rằng quá đơn giản nên mới chỉ bám vào nội dung kiến thức trong sách giáo khoa để giúp học sinh nhận biết về dấu hiệu chia hết cho 2, 3, 5, 9 và hướng dẫn học sinh làm các bài tập là xong và cho rằng phần này đơn giản, thậm chí chưa hết giờ đã hết bài mà không mở rộng kiến thức và tạo tính huống để khắc sâu kiến thức

Ngay cả bản thân tôi lúc đầu khi dạy đến nội dung dấu hiệu chia hết, tôi cũng

cảm thấy đây là nội dung khá đơn giản, dễ truyền thụ cho học sinh, các em cũng tiếp thu nhanh và vận dụng thực hành làm bài tập cũng khá dễ dàng ở những dạng bài đơn giản Tuy nhiên, khi làm đến các bài toán “hợp”, đặc biệt là đến chương 4 “Phân số - Các phép tính với phân số” thì khả năng vận dụng vào để rút gọn phân số, quy đồng mẫu số các phân số của các em còn lúng túng Đó là

Trang 5

chưa kể đến việc vận dụng dấu hiệu chia hết vào làm một số bài tập nâng cao,

kiểm tra kết quả bài làm, tự ra đề toán

Để hoàn thành được mục tiêu đã chọn, tức là học sinh lớp phải hoàn thành 100 % chất lượng môn Toán, chất lượng mũi nhọn môn Toán đạt cao so với mặt bằng huyện, tôi tiến hành khảo sát học sinh lớp 4A vào cuối tháng 1 năm 2021 với đề bài như sau: Đề khảo sát tháng 1 năm 2021 Đề kiểm tra (40 phút) Bài 1 (2 điểm): Trong các số 4134; 51235; 7340; 27450 ;927 a) Các số chia hết cho 2:

b) Các số chia hết cho 3:

c) Các số chia hết cho 5:

d) Các số chia hết cho 9:

Bài 2 (4 điểm): Viết tiếp vào chỗ chấm: Trong các số 560; 56852; 45027; 10 206; 4011 a) Các số vừa chia hết cho 2 vừa chia hết cho 5 là:

b) Các số chia hết cho 2 nhưng không chia hết cho 5 là:

c) Các số chia hết cho 3 nhưng không chia hết cho 9 là:

d) Các số vừa chia hết cho 3 vừa chia hết cho 9 là :

Bài 3 (2 điểm): Thay a; b bằng các chữ số thích hợp : 23ab chia hết cho cả 2;9 và 5 Bài 4 (2 điểm): Một lớp học có ít hơn 35 học sinh và nhiều hơn 20 học sinh Nếu học sinh trong lớp xếp đều thành 3 hàng hoặc thành 5 hàng thì không thừa, không thiếu bạn nào.Tìm số học sinh của lớp học đó Kết quả thu được như sau: Kết quả Số bài HT Tốt Hoàn thành Chưa hoàn thành Điểm 9-10 Điểm 7-8 Điểm 5-6 Điểm <5 SL TL SL TL SL TL SL TL 30 5 16,6 7 23,4 16 53,4 2 6,6 Qua kết quả bài làm của học sinh và bảng thống kê kết quả cho thấy: Nhiều học sinh còn chưa biết vận dụng kiến thức để làm bài tập Trong quá trình làm bài còn lúng túng dẫn đến sai sót nhiều Nhiều em trình bày chưa rõ ràng, bước làm rườm rà, không khoa học, cụ thể như sau: Bài 1: Tất cả HS đều làm đúng vì đây là bài tập với các yêu cầu đơn lẻ, HS chỉ cần nắm được khái niệm về các dấu hiệu chia hết cho 2; 5; 9; 3 là làm được Bài 2: Nếu ý a, yêu cầu "cùng chia hết cho” HS không “vướng”, thì ý b và c đã có một số HS bị nhầm lẫn giữa “chia hết” cho số này và “không chia hết” cho số kia Bài 3: Một số học sinh còn chưa biết vận dụng khi kết hợp dấu hiệu chia hết nhiều số cho nhau Bài 4: Một số HS tìm được kết quả đúng nhưng lập luận chưa rõ ràng

Trang 6

2.2.2 Nguyên nhân thực trạng trên.

a Về phía học sinh.

Các em mới chỉ học thuộc các dấu hiệu chia hết đã học,chưa biết vận dụng khikết hợp dấu hiệu chia hết nhiều số cho nhau, nhất là chia hết cho số này nhưng không chia hết cho số kia Khả năng vận dụng dấu hiệu chia hết để lập luận, giảithích vấn đề trong bài tập còn yếu, nhất là khi vận dụng để làm các bài tập nâng cao và các em chưa biết vận dụng linh hoạt các dấu hiệu chia hết bằng cách phâncác nhóm để dễ dàng nhận biết hơn

b Về phía giáo viên.

Giáo viên đôi khi dạy theo một chiều, đơn điệu trong mạch kiến thức, giảng

dạy còn thuyết trình, giảng giải nhiều, còn hạn chế việc phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong học toán

2.3 Một số biện pháp giúp học sinh lớp 4 học tốt “Dấu hiệu chia hết”.

2.3.1 Củng cố, khắc sâu khái niệm chia hết và chia có dư.

Để học sinh làm tốt các bài toán về dấu hiệu chia hết, trước hết chúng ta cần giúp học sinh nắm vững kiến thức cơ bản, phân tích để hiểu rõ một số khái niệmchia hết và chia có dư

Thực ra chia hết và chia có dư học sinh đã được làm quen ở lớp 3 nhưng chỉ được giới thiệu với từng phép chia cụ thể nên khi lên lớp 4, học sinh cũng chỉ máy móc vận dụng với các dấu hiệu chia hết đơn lẻ

Trong những năm học trước đó tôi cũng chỉ giúp các em nhận biết về phép chia hết và phép chia có dư cụ thể đối với mỗi phép chia khi dạy về phép chia cho số có 1; 2; 3 chữ số Cho nên việc hiểu về hai khái niệm này của học sinh rất

mơ hồ, các em còn lúng túng khi thực hiện các yêu cầu của các bài tập liên quan đến dấu hiệu chia hết Chính vì vậy, trong năm học 2021-2022, tôi đã giúp học sinh rút ra khái niệm tổng quát nhất về hai khái niệm này:

Khi dạy đến tiết 67: Chia cho số có một chữ số (SGK Toán 4 – trang 77)

Sau khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu ví dụ a) 128472 : 6 b) 230859 : 5 tôi đã giúp học sinh rút ra kết luận:

Chia hết: Phép chia hết là phép chia mà ở lượt chia cuối cùng số dư bằng 0 Sau đó giáo viên yêu cầu học sinh chỉ ra một số phép chia hết mà các em đã học ( Trong Vở bài tập)

Bên cạnh đó có em đã phát hiện ra: Trong các bảng chia đã học các phép chia đều là phép chia hết => Đây là cơ sở để GV thực hiện ở bước 1 trong khi thực hiện các bước dạy về dấu hiệu chia hết

Chia có dư: Là phép chia mà ở lượt chia cuối cùng, số dư lớn hơn 0 và bé hơn

số chia

Sau đó tôi yêu cầu học sinh chỉ ra một số phép chia có dư mà các em đã học ( Trong Vở bài tập)

2.3.2.Hướng dẫn học sinh nhận biết các dấu hiệu chia hết cho 2, 3, 5, 9.

Để giúp học sinh nắm vững dấu hiệu chia hết thì bản thân người giáo viên cần phải:

Trang 7

Nắm vững nội dung điều kiện cần và đủ của các dấu hiệu chia hết; phải nắm chắc và sử dụng thành thạo phương pháp và hình thức tổ chức dạy học phù hợp với đối tượng học sinh lớp mình phụ trách.

Cần có sự chuẩn bị trước bài dạy để có khả năng dẫn dắt học sinh biết cách sửdụng các dấu hiệu một cách chặt chẽ, logic

Cần nắm và hiểu rõ nội dung trình bày, các dạng bài tập sẽ vận dụng của sách giáo khoa để từ đó định hướng, dẫn dắt các em nắm vững kiến thức

Khi hình thành kiến thức mới về dấu hiệu chia hết cho học sinh ở mỗi bài tôi đều tiến hành theo các bước sau:

Bước 1: Phát hiện các số chia hết cho 2 ( hoặc 5, 9, 3) từ các bảng chia đã học

Tìm ra đặc điểm của các số chia hết cho 2 ( hoặc 5, 9, 3) trong các bảng chia vừanêu

Bước 2: Phân tích ví dụ (SGK) để làm rõ dấu hiệu chia hết hoặc không chia hết

Tìm các số khác nhau có đặc điểm giống với đặc điểm của các số bị chia trong các bảng chia nêu trên để học sinh so sánh, đối chiếu Từ đó tìm ra điểm chung của các số chia hết cho 2 hoặc 5, 9, 3

Bước 3: Lấy bất kì một số nào đó có cùng đặc điểm với các số chia hết cho 2

( hoặc 5, 9, 3) dưới dạng điều kiện đủ Qua đó rút ra kiến thức cần ghi nhớ được của mỗi bài học Cụ thể:

Dạy dấu hiệu chia hết cho 2, chia hết cho 5 (Dấu hiệu xét chữ số tận cùng)

Ví dụ : Khi dạy bài: Dấu hiệu chia hết cho 2 (SGK Toán 4 – trang 94)

Tôi đã tiến hành như sau: : Bước 1:Tôi yêu cầu học sinh đọc bảng chia 2.

Học sinh nêu được các phép chia có trong bảng là các phép chia hết Học sinh chỉ ra các số bị chia có trong bảng

( -> GV ghi lên bảng như sau: 2; 4; 6; 8; 10

12; 14; 16; 18; 20)

- HS nêu nhận xét về đặc điểm của các số bị chia này.( Lưu ý nhận xét chữ số tận cùng.)

Bước 2: Phân tích ví dụ ( SGK) trang 94 để rút ra kết luận cần ghi nhớ Yêu cầu

học sinh thực hiện các phép tính sau :

Nhận xét về số bị chia ( chữ số tận cùng của số bị chia ), của các phép chia

ở cột bên trái chia hết cho 2, nhận xét về số bị chia ( chữ số tận cùng của số bị chia ) của các phép chia không chia hết cho 2

Rút ra kết luận dấu hiệu chia hết cho 2 : Các số có chữ số tận cùng là 0 ; 2 ;

4 ; 6 ;8 thì chia hết cho 2.

Trang 8

Lưu ý : Các số có chữ số tận cùng là 1 ; 3 ; 5 ; 7 thì không chia hết cho 2 Sau đó yêu cầu mỗi HS lấy một số bất kì và kiểm tra xem số đó có chia hết

cho 2 hay không?

( Khi các em nêu GV nên ghi lên bảng Chẳng hạn: 326; 1400; 432; 678; 1234 301; 457; 235, )

=> HS rút ra đặc điểm chung của các số chia hết cho 2: Là những số có chữ

số tận cùng là 0; 2; 4; 6; 8

Bước 3: Củng cố kiến thức cần ghi nhớ về dấu hiệu chia hết cho 2.

Ở bước này tôi tổ chức trò chơi “Bày tỏ ý kiến”: GV lần lượt đưa ra một số số

tự nhiên, HS giơ thẻ màu đỏ nếu số đó chia hết cho 2; thẻ màu xanh nếu số đó không chia hết cho 2

Sau khi đã nắm được dấu hiệu chia hết cho 2, HS dễ dàng chỉ ra được số chia

hết cho 2 là số chẵn; số không chia hết cho 2 là số lẻ Đây là cơ sở quan trọng

để các em làm các bài tập nâng cao hoặc các bài tập có tính “hợp”

Sau bài này tôi đã đưa ra bài tập tình huống sau:

Bài tập: Thay b ở số 745b bằng chữ số để được số có 4 chữ số và:

- Là số chia hết cho 2

- Là số không chia hết cho 2

(Viết tất cả các số có thể viết được)

Với bài tập này, trước hết HS phải xác định được: Chữ b là biểu thị chữ số ở hàng nào? Yêu cầu của đề là gì?

(HS sẽ xác định được b là chữ số tận cùng)

Để 745b là số chia hết cho 2 thì b lần lượt bằng 0 ; 2 ; 4 ; 6 ; 8

HS viết được các số chia hết cho 2 là: 7450 ; 7452 ; 7454 ; 7456 ; 7458

Tương tự các số không chia hết cho 2 là: 7451; 7453 ; 7455 ; 7457 ; 7459

Từ đó các em tự rút ra được kết luận: Số có chữ số tận cùng là 0; 2; 4; 6; 8 thì chia hết cho 2

* Với các bài dạy về dấu hiệu chia hết cho 5; hoặc 9; 3, tôi cũng tiến hành tương

tự như vậy Khi thực hiện các bước dạy này, GV đã lấy HS làm trung tâm, HS tựtìm tòi khám phá kiến thức, GV chỉ là người dẫn dắt, định hướng HS

Tương tự bài Dấu hiệu chia hết cho 5 thì học sinh đã biết nhận xét các số bị chia, về dấu hiệu chữ số tận cùng

Ở phần củng cố kiến thức cuối tiết học, tôi yêu cầu HS làm bài tập sau:

Bài tập 1:Cho các số: 150 ; 71 ; 123 ; 234 ; 565 ; 566 ; 567 ; 568 ; 569

a)Tìm trong đó các số chia hết cho 5

b)Thực hiện phép chia mỗi số đó cho 5 để tìm thương và số dư

Trang 9

342 : 5 = 68 (dư 2) 567 : 5 = 113 (dư2)

123 : 5 = 24 (dư 3) 568 : 5 = 113 (dư 3)

234 : 5 = 46 (dư 4) 569 : 5 = 113(dư 4)

Qua đó HS rút ra kết luận:

+ Số nào có chữ số tận cùng là 0 hoặc 5 thì số đó chia hết cho 5.

+ Số chia cho 5 dư 1 thì có chữ số tận cùng là 1 hoặc 6.

+Số chia cho 5 dư 2 thì có chữ số tận cùng là 2 hoặc 7.

+Số chia cho 5 dư 3 thì có chữ số tận cùng là 3 hoặc 8.

+Số chia cho 5 dư 4 thì có chữ số tận cùng là 4 hoặc 9.

Như vậy, học sinh nắm vững dấu hiệu chia hết cho 5 đồng thời nắm được đặc điểm những số chia cho 5 còn dư

Qua hai bài về Dấu hiệu chia hết cho 2 và Dấu hiệu chia hết cho 5, học

sinh cần biết dựa vào dấu hiệu xét chữ số tận cùng.

Dạy dấu hiệu chia hết cho 9, chia hết cho 3 (Dấu hiệu xét Tổng các chữ số)

Bài “Dấu hiệu chia hết cho 9” (SGK – trang 97)

Sau khi HS làm xong bài tập 2 (trang 97 – SGK): Trong các số sau, số nào không chia hết cho 9? (96; 108; 7853; 5554; 1097)

Tôi đã chia lớp thành hai dãy và yêu cầu mỗi dãy thực hiện mỗi nhiệm vụ sau: Dãy 1: Thực hiện phép chia các số vừa tìm được cho 9, chỉ ra số dư của mỗi phép chia

Dãy 2: Tìm tổng các chữ số của mỗi số, lấy tổng đó chia cho 9 rồi chỉ ra số dư.Khi hai dãy đã thực hiện xong nhiệm vụ, tôi yêu cầu các em so sánh số dư của mỗi cặp tính tương ứng:

Như vậy, trong quá trình dạy không phải dừng lại dấu hiệu nhận biết đơn lẻ mà

Gv cần cho học sinh tìm tòi , khám phá kiến thức dựa trên nền tảng cơ bản

d) Bài “Dấu hiệu chia hết cho 3” (SGK trang 97)

Đến bài này, tôi chỉ yêu cầu HS so sánh đặc điểm của dấu hiệu chia hết cho 3

và dấu hiệu chia hết cho 9 với nhau để các em tự rút ra được kết luận:

Các số có tổng các chữ số chia hết cho 3 thì chia hết cho 3.

Số dư trong phép chia một số cho 3 chính là số dư của phép chia của số tạo bới tổng các chữ số của số đó cho 3.

Mọi số chia hết cho 9 đều chia hết cho 3 vì 9 là số chia hết cho 3.

Để củng cố lại các kết luận mà HS vừa mới rút ra, tôi đã tổ chức cho HS chơi tròchơi “Ai nhanh hơn ”: Tìm nhanh số dư trong phép chia một số cho 3 hoặc cho

9 Kết quả là các em xác định nhanh, chính xác và rất hào hứng với khám phá của mình

Trang 10

*Tổng hợp các Dấu hiệu chia hết đơn lẻ

Dấu hiệu chia hết cho 3 và Dấu hiệu chia hết cho 9

Số đã chia hết cho 9 thì chắc chắn chia hết cho 3

Xét dấu hiệu chia hết cho cả 2,3,5 và 9

Trong chương trình học, cấu trúc chương trình đã được sắp xếp khoa học,

logic, chặt chẽ, chỉ cần GV nắm và hiểu được mục đích cấu trúc chương trình

thì dạy học sinh sẽ nắm kiến thức chắc và bền vững Đó là xét dấu hiệu chia hết

bằng chữ số tận cùng trước, rồi mới đến dấu hiệu chia hết bằng tổng các chữ số.

Ví dụ: Bài 1e) trang 161 (SGK): Trong các số 605; 7362; 2640; 4136; 1207;

20601 số nào không chia hết cho cả 2 và 9

Để làm được bài này, ngoài việc dựa theo kết quả đã làm ở ý a và b, thì HS còn có thể dựa vào dấu hiệu đã nêu ở trên để tìm ra được số xét dấu hiệu chữ số

tận cùng trước; không chia hết cho 2 và 9 phải là số lẻ và có tổng các chữ số

không chia hết cho 9 (Đó là số: 605; 1207)

Bởi vậy, khi gặp bài toán: Thay a;b bằng chữ cái thích hợp để:

3a4b là số chia hết cho 2 ; 5 và 9

Hướng dẫn:

Học sinh phải xác định xét dấu hiệu nào trước? (dấu hiệu chia hết cho cả 2 và

5 thì tận cùng phải là chữ số 0 Vậy b=0

Thay b=0 để tìm được tổng các chữ số chia hết cho 9 sẽ tìm đươc a=2

Như vậy các em vừa tiếp thu kiến thức mới vừa phải biết tư duy, vận dụng tổng hợp để khắc sâu và mở rộng kiến thức một cách khoa học, bền vững

* Tạo hứng thú học tập cho học sinh:

Trong quá trình dạy học dấu hiệu chia hết, để giúp học sinh hứng thú hơn trong tiết học tôi thường tạo hứng thú cho các em bằng cách tổ chức trò chơi vàocuối tiết học để củng cố kiến thức tránh nhàm chán cho các em như:

Đặt lời mới cho một số bài đồng dao"Dung dăng dung dẻ , Kéo cưa lừa xẻ, Tập

tầm vông

Để giúp các em dễ nhớ về các dấu hiệu chia hết tôi đã đặt lời mới cho một số bài đồng dao về dấu hiệu chia hết giúp các em ghi nhớ, củng cố kiến thức đã học

Ví dụ: Sau khi dạy bài “Dấu hiệu chia hết cho 2”, tôi tổ chức cho HS vừa chơi

trò chơi vừa hát bài “Dung dăng dung dẻ ”

Cách chơi: Phát ngẫu nhiên cho mỗi học sinh trong lớp 1 thẻ hoa ghi một số bất

kì Chia lớp thành 2 dãy và quy ước:

+ Dãy bên tay phải dành cho những bạn cầm thẻ ghi số chẵn

+ Dãy bên tay trái dành cho những bạn cầm thẻ ghi số lẻ

HS vừa hát vừa tìm để ngồi đúng vị trí đã quy ước

Bài đồng dao này giúp các em nắm được dấu hiệu chia hết cho 2 và khái niệm “số chẵn”, “số lẻ”

Dung dăng dung dẻ Dung dăng dung dẻ Dắt trẻ đi chơi Những anh số lẻ

Ngày đăng: 09/06/2022, 21:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w