1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(SKKN 2022) một số giải pháp nâng cao chất lượng dạy và học dạng toán tìm một trong các phần bằng nhau của một số ở lớp 3a1, trường tiểu học lam sơn, huyện ngọc lặc

15 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 1,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dạng toán “Tìm một trong các phần bằng nhau của một số” lớp 3 là một dạng toán cơ bản và có vai trò vô cùng quan trọng trong việc rèn kĩ năng tính toán, khả năng tư duy sáng tạo, góp phầ

Trang 1

1 Mở đầu

1.1 Lí do chọn đề tài

Bậc học đầu tiên các em được cắp sách đến trường đó là bậc Tiểu học Là bậc học tạo nền tảng vững chắc cho các em vào đời Được đến trường đến lớp

đó là niềm vui lớn lao của mỗi trẻ thơ mà mục tiêu của Giáo dục - Đào tạo hiện nay là giáo dục học sinh phát triển một cách toàn diện Sau khi học xong tiểu học, các em được lĩnh hội những kiến thức, kĩ năng mà 8 môn học đã trang bị cho các em để các em tiếp tục học lên lớp trên

Toán học là một mảng kiến thức xuyên suốt quá trình học toán của học sinh Nó không chỉ truyền thụ và rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo tính toán để giúp các

em học tốt môn khác mà còn giúp các em rèn luyện trí thông minh, óc tư duy sáng tạo, khả năng tư duy logic, làm việc khoa học Vì vậy chúng ta cần phải quan tâm tới việc dạy toán ở Tiểu học

Trong chương trình toán Tiểu học, chương trình toán lớp 3 đóng một vai trò quan trọng trong chương trình môn Toán Chương trình kết thúc giai đoạn 1, giúp học sinh có những kiến thức, kĩ năng cơ bản ban đầu để bước vào giai đoạn

hai (Lớp 4-5) Dạng toán “Tìm một trong các phần bằng nhau của một số”

lớp 3 là một dạng toán cơ bản và có vai trò vô cùng quan trọng trong việc rèn kĩ năng tính toán, khả năng tư duy sáng tạo, góp phần phát triển các năng lực toán học như năng lực giao tiếp toán học, năng lực lập luận logic, năng lực tự học tự giải quyết vấn đề và góp phần phát triển các phẩm chất chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm trong học tập của học sinh

Để đạt được mục tiêu của môn học này, người giáo viên phải nắm được nội dung các mạch kiến thức trong chương trình toán tiểu học, đặc biệt là nội dung kiến thức của từng dạng bài trong chương trình Toán lớp 3 Từ đó, người giáo viên xây dựng cho mình phương pháp giảng dạy phù hợp với từng đối tượng học sinh trong lớp mình chủ nhiệm, giúp học sinh tích cực, chủ động trong việc học và vận dụng thành thạo kiến thức trong từng bài Góp phần phát triển tư duy và năng lực học toán của học sinh Từ suy nghĩ trên tôi xin trình bày

kinh nghiệm về: “Một số giải pháp nâng cao chất lượng dạy và học dạng toán

Tìm một trong các phần bằng nhau của một số ở lớp 3A1, Trường Tiểu học Lam Sơn, huyện Ngọc Lặc” để đồng nghiệp tham khảo và góp ý.

1.2 Mục đích nghiên cứu.

- Góp phần nâng cao chất lượng dạy và học dạng toán “Tìm một trong các phần bằng nhau của một số ở lớp 3A1, Trường Tiểu học Lam Sơn, huyện Ngọc Lặc”

- Góp phần phát triển phẩm chất, năng lực đặc thù cũng như các năng lực chung cho học sinh

1.3 Đối tượng nghiên cứu.

- Một số giải pháp nâng cao chất lượng dạy và học dạng toán Tìm một trong các phần bằng nhau của một số ở lớp 3A1, Trường Tiểu học Lam Sơn,

huyện Ngọc Lặc.

- Học sinh lớp 3A1: Năm học 2020 – 2021, năm học 2021 – 2022

1.4 Phương pháp nghiên cứu.

Trang 2

1.4.1 Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết

Nghiên cứu các tài liệu giảng dạy, tài liệu tham khảo về môn Toán lớp 3, Sách giáo khoa môn Toán 3; Các module của Chương trình giáo dục phổ thông năm 2018; Mạng Internet ,

1.4.2 Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin

Qua quá trình giảng dạy trên lớp, qua các tiết thao giảng dự giờ, các buổi sinh hoạt chuyên môn ở tổ,

1.4.3 Phương pháp thống kê xử lý số liệu

Qua khảo sát kết quả giảng dạy trước thực nghiệm, kết quả giảng dạy sau thực nghiệm Từ đó so sánh, đối chiếu hai phương pháp và rút ra kết luận (Trước thực nghiệm - sau thực nghiệm)

2 Nội dung sáng kiến

2.1 Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm.

Giải toán có lời văn ở chương trình Toán 3 có vai trò quan trọng trong việc phát triển các năng lực toán học Nó là nền tảng để giúp học sinh học tốt

các dạng toán điển hình ở lớp 4 Đó là các dạng: Gấp một số lên nhiều lần; Tìm một trong các phần bằng nhau của một số; So sánh số lớn gấp mấy lần số bé;

So sánh số bé bằng một phần mấy số lớn; Bài toán rút về đơn vị

Dạng toán Tìm một trong các phần bằng nhau của một số trong chương

trình toán lớp ba được phân phối thành 2 tiết chính, cụ thể:

- Tiết 1: Tìm một trong các phần bằng nhau của một số (trang 26) được

phân phối dạy ở tiết 25, tuần 5 với mục tiêu: Biết cách tìm một trong các phần bằng nhau của một số Vận dụng được để giải bài toán có lời văn Rèn cách tìm một trong các phần bằng nhau của một số.

- Tiết 2: Luyện tập (trang 26-27) được phân phối dạy ở Tiết 26, tuần 6 với

mục tiêu: Giải các bài toán liên quan đến tìm một trong các phần bằng nhau của một số Thực hành tìm một trong các thành phần bằng nhau của một số

Ngoài 2 tiết được phân phối chính, thì hệ thống bài tập củng cố của dạng toán luôn được bố trí sắp xếp xen kẽ, lồng ghép thường xuyên trong các tiết

luyện tập, ôn tập, bài mới cho đến hết chương trình Toán 3 như: Tiết Luyện tập trang 30 (bài tập 3); Tiết Luyện tập trang 34 (bài tập 4); Tiết Luyện tập trang

36 (bài tập 4); Tiết Luyện tập trang 40 (bài tập 3); Tiết Luyện tập chung trang

49 (bài tập 5b); Tiết Bài toán giải bằng hai phép tính trang 51(Bài tập 2); Tiết Luyện tập trang 52 (bài 2); Tiết Luyện tập trang 62 (bài tập 3); Tiết Luyện tập trang 69 (bài tập 3, bài tập 4); Tiết Chia số có hai chữ số cho số có một chữ số trang 70 (bài tập 2); Tiết Luyện tập chung trang 77 (bài tập 3); Tiết Luyện tập chung trang 90 (Bài tập 4); Tiết Luyện tập chung trang 106 (bài tập 3); Tiết Chia số có bốn chữ số cho số có một chữ số trang 119 (bài tập 2); Tiết Luyện tập trang 120 (bài tập 3); Tiết Chia số có năm chữ số cho số có một chữ số trang 163 (bài tập 2); Tiết Luyện tập trang 165 (bài tập 3); Tiết Luyện tập chung trang 166 (bài tập 3); Tiết Ôn tập bốn phép tính trong phạm vi 100000 trang 172 ( Bài tập 3); Tiết Ôn tập về giải toán trang 176 (bài tập 2, bài tập 3); Tiết ôn tập về giải toán (tiếp) trang 176 ( Bài tập 1) Tiết Luyện tập chung trang

178 (bài tập 3)

Trang 3

Như vậy, ta thấy rằng đây là một dạng toán có tính ứng dụng cao Do đó

nó xuất hiện nhiều, thường xuyên trong chương trình Các dạng toán này rất thiết thực, gắn liền với cuộc sống hàng ngày Đồng thời góp phần phát triển các năng lực chung cũng như các năng lực đặc thù toán học Không những thế, bản

chất của dạng toán này chính là dạng toán Tìm phân số của một số mà các em sẽ

học trong chương trình Toán lớp 4 Nó là nền móng để giúp các em học tốt

chuyên đề phân số, các dạng toán điển hình Tìm phân số của một số; Tìm hai số khi biết tổng và tỉ số của hai số đó; Tìm hai số khi biết hiệu và tỉ số của hai số

đó ở chương trình Toán 4.

2.2 Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm

Năm học 2020 - 2021, tôi được phân công giảng dạy lớp 3A1, Trường Tiểu học Lam Sơn với tổng số 43 học sinh Đó cũng là một năm học đầy khó khăn vì dịch bệnh Covid -19, học sinh phải nghỉ học thường xuyên, chương trình dạy dồn ghép nên đã ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng giáo dục nói

chung, chất lượng môn toán nói riêng, trong đó có dạng Tìm một trong các

phần bằng nhau của một số Qua quá trình giảng dạy dạng toán Tìm một trong các phần bằng nhau của một số, tôi nhận thấy còn những thực trạng sau:

* Thực trạng đối với giáo viên:

Là một giáo viên luôn tâm huyết với nghề, năng lực chuyên môn vững vàng Luôn tích cực tự học, tự bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ Tuy nhiên, do tuổi cao nên quá trình ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy còn hạn chế nên phần nào ảnh hưởng đến việc đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức dạy học, chưa kích thích nhiều sự tìm tòi, sáng tạo và

hứng thú cho học sinh khi học dạng toán “ Tìm một trong các phần bằng nhau

của một số”

*Thực trạng đối với học sinh:

- Một số học sinh học bảng cửu chương ghi nhớ chưa sâu, hay quên nên dẫn đến việc tính sai kết quả

- Một số HS chưa tự giác và tích cực trong học tập, còn ham chơi, chưa chú ý nghe giảng và tiếp thu bài Mặt khác một số ít gia đình chưa thực sự quan tâm đến việc học tập của các em

- Đối những bài toán dạng Tìm một trong các phần bằng nhau của một

số mà có kèm đơn vị đo thì thường học sinh tìm đúng kết quả nhưng quên không

viết tên đơn vị đo

- Tìm một trong các phần bằng nhau của một số là một dạng toán cơ bản

không quá khó với học sinh Học sinh chỉ cần học thuộc quy tắc của giáo viên

đưa ra như: “Muốn tìm một trong các phần bằng nhau của một số ta lấy số đó chia cho số phần” thì vận dụng tìm ngay được kết quả Tuy nhiên, nếu như thế

học sinh sẽ bị dập khuôn, máy móc, không hiểu rõ bản chất của dạng toán Chính vì thế, khi thực hiện một số bài toán hỏi ngược thì học sinh sẽ nhầm lẫn

trong quá trình làm bài, dẫn đến kết quả không đúng Ví dụ “Chiều rộng hình chữ nhật bằng 9cm, chiều rộng bằng chiều dài Tình chiều dài của hình chữ nhật” Nếu không hiểu rõ bản chất của bài toán, áp dụng quy tắc trên một cách

Trang 4

máy móc thì sẽ thực hiện phép tính chia (9 : 3 = 3 cm) để tìm chiều dài dẫn đến sai kết quả

- Đối với những bài toán giải có từ hai phép tính trở lên mà trong đó có vận dụng cách tìm một trong các phần bằng nhau của một số thì học sinh còn

lúng túng khi tìm một trong các phần bằng nhau để giải bài toán Ví dụ “Một đội công nhân có kế hoạch sửa 1450m đường, đội đã sửa được quãng đường đó Hỏi đội công nhân còn bao nhiêu mét đường chưa sửa?” Đối với dạng bài toán

này, một số học sinh thường nhầm lẫn khi tìm số mét đường chưa sửa bằng cách

lấy 1450 : 5 dẫn đến chưa thực đúng yêu cầu bài tập.

Năm 2021- 2022, tiếp tục là năm học đầy khó khăn và thách thức, khi dịch bệnh Covid 19 bùng phát trên diện rộng Nhà nhà, người người bị nhiễm bệnh Học sinh nối tiếp nhau nghỉ vì nhiễm bệnh, nội dung chương trình phải dạy dồn, thời gian ôn tập, tự luyện, củng cố, khắc sâu kiến thức, kĩ năng còn không có nhiều, dẫn đến phần nào ảnh hưởng đến chất lượng môn Toán nói

chung, dạng Tìm một trong các phần bằng nhau của một số nói riêng.

*Kết quả của thực trạng:

Từ những thực trạng mà bản thân đã nhận thấy được, cuối năm học

2020-2021, tôi đã tiến hành khảo sát học sinh một số bài toán về Tìm một trong các

phần bằng nhau của một số, để có số liệu cụ thể và tìm giải pháp khắc phục.

ĐỀ KIỂM TRA MÔN: TOÁN

(Thời gian: 25 phút)

Bài 1 (3 điểm):

a) Tìm của 15kg, 36l, 24 giờ;

b) Tìm của 18cm, 42 phút, 30 ngày.

Bài 2 (2 điểm): Một cửa hàng có 54kg đường, cửa hàng đã bán đi số đường đó Hỏi cửa hàng đã bán đi bao nhiêu ki lô gam đường?

Bài 3 (2,5 điểm): Lớp 3A1 có 32 học sinh Số học sinh nam bằng số học sinh

cả lớp Hỏi lớp 3A1 có bao nhiêu bạn học sinh nữ ?

Câu 4 (2,5 điểm): Một hình chữ nhật có chiều rộng là 6 cm Chiều rộng bằng

chiều dài Tính chu vi của hình chữ nhật đó.

Kết quả khảo sát như sau:

Điểm

Sĩ số

Điểm 9 - 10 Điểm 7 - 8 Điểm 5 - 6 Điểm dưới 5

Qua kết quả khảo sát và những thực trạng còn tồn tại ở năm học 2020

-2021, năm học 2021-2022, bản thân tôi đã rất trăn trở, luôn tự hỏi: Làm thế nào

để nâng cao chất lượng môn toán nói chung, dạng Tìm một trong các phần

bằng nhau của một số nói riêng? Trước những thực trạng, trước những suy nghĩ

Trang 5

của bản thân, tôi đã nghiên cứu tìm ra một số giải pháp áp dụng vào năm học

2021 - 2022, tại lớp 3A1 với sĩ số 30 học sinh do tôi phụ trách

2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.

2.3.1 Giải pháp nâng cao năng lực chuyên môn, kĩ năng ứng dụng Công nghệ thông tin thông qua các hình thức tự học và trao đổi cùng đồng nghiệp, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học dạng toán Tìm một trong các phần bằng nhau của một số.

Công tác tự học, tự bồi dưỡng

Là một giáo viên đã có hơn ba mươi năm gắn bó với công tác dạy học Bằng những kiến thức và kinh nghiệm trong quá trình công tác, tôi đã luôn nỗ lực hết mình cho công việc Ngày nay, khi công nghệ thông tin càng phát triển thì việc ứng dụng công nghệ thông tin vào tất cả các lĩnh vực là một điều tất yếu Trong lĩnh vực giáo dục đào tạo, công nghệ thông tin đã và đang phát triển, áp dụng vào giảng dạy, học tập Vì vậy, tôi luôn có suy nghĩ phải biết tận dụng những tiện ích mà lĩnh vực công nghệ thông tin mang lại, nếu biết cách sử dụng

nó, biến nó thành công cụ thì sẽ mang lại hiệu quả cho công việc của mình Do

đó, tôi luôn tích cực trong công tác tự học, tự bồi dưỡng:

-Thông qua mạng internet, thông qua các trang YouTube tôi đã học những kiến thức, kĩ năng về cách soạn giáo án bằng powerpoint Ví dụ học những kiến thức cơ bản theo những đường link sau:

https://www.youtube.com/watch?v=y4MLO01BIbw;

https://www.youtube.com/watch?v=k0gswclrmrI;

https://www.google.com/search?

ei=vlmzXNKYFZH7wQPWi47wDQ&q=cắt+video+online+nhanh&oq=cắt&gs _l=psy-ab.1.0.35i39j0j0i67j0l7.1793.2640 5058 3.0 1.107.57

(Hình ảnh Giáo viên tự học, tự bồi dưỡng Công nghệ thông tin - Nguồn Vũ Thị Nga,)

-Thông qua việc học tập các modun của chương trình GDPT 2018: Để chuẩn bị cho việc tiếp cận Chương trình GDPT 2018, bản thân tôi nghiêm túc tiếp thu nội dung các modun của chương trình đã triển khai Từ đó, tôi đã vận dụng các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học có hiệu quả

(Hình ảnh Giáo viên tự học, tự bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ - Nguồn Vũ Thị Nga)

Trao đổi cùng đồng nghiệp:

Ngoài việc học bồi dưỡng các modun, tôi cũng đã học hỏi đồng nghiệp trong việc ứng dụng Công nghệ thông tin trong dạy học Từ khi chỉ mới biết cách sử dụng giáo án điện tử tải ở trên mạng về, đến nay tôi đã biết cách khai thác các nguồn tư liệu, biết chỉnh sửa giáo án để dạy học Bằng kiến thức đã học trong các năm trước và cập nhật kiến thức mới, tôi đã từng ngày nâng cao được

kĩ năng ứng dụng, khai thác và sử dụng giáo án điện tử Với việc biết sử dụng các chức năng của bàn phím khi soạn giáo án điện tử, tôi đã thiết kế được các giáo án điện tử để minh họa cho các ví dụ như chia phần bằng nhau, tô số phần tìm được hay như thể hiện kết quả của tìm một phần mấy của một số

Với vai trò là một tổ trưởng chuyên môn phụ trách khối 1, 2, 3, tôi luôn tổ chức các buổi trao đổi chuyên môn tổ để cùng chia sẻ kinh nghiệm hay trong

Trang 6

dạy học Tổ chức các buổi chuyên đề về Ứng dụng Công nghệ thông tin trong dạy học hay chuyên đề dạy học về một chủ đề của từng khối lớp Thông qua đó, giúp bản thân tôi và giáo viên có thêm nhiều kinh nghiệm và sáng tạo trong dạy học.Bản thân tôi cũng đã tham gia và kết nối các nhóm giáo viên trên toàn quốc thông qua Zalo, Fecabook để trao đổi chuyên môn và chia sẻ tài liệu như nhóm Tài liệu học tập lớp 3, nhóm Giáo viên lớp 3, nhóm Chúng tôi là Giáo viên tiểu

học… Khai thác trên trang Thư viện Violet địa chỉ http://baigiang.violet.vn Để

thực hiện được việc lấy tư liệu, trước hết tôi đã tạo một tài khoản cá nhân đăng

kí là thành viên và trao đổi tài liệu cùng các thành viên khác Tại đây tôi đã tải giáo án về để chỉnh sửa cho phù hợp với bài dạy của lớp mình Đồng thời cũng tải giáo án lên trang để chia sẻ cùng đồng nghiệp Kết quả, tôi đã đăng kí với nhà trường 80% số tiết dạy ứng dụng Công nghệ thông tin và tôi đã thực hiện tốt

(Hình ảnh sinh hoạt chuyên môn Tổ 1, Trường Tiểu học Lam Sơn về ứng dụng CNTT vào dạy học)

Là một năm học có nhiều sự thay đổi, vừa xây dựng kế hoạch dạy học phù hợp với tình hình diễn biến dịch bệnh covid - 19 vừa kết hợp dạy học trực tuyến Bản thân tôi đã thực hiện nghiêm túc chỉ đạo của chuyên môn nhà trường trong việc xây dựng kế hoạch dạy học Chủ động linh hoạt vận dụng phân phối chương trình của 35 tuần theo nội dung Công văn số 2345/BGDĐT- GDTH ngày 07/6/2021 và Công văn số 3969/BGDĐT- GDTH ngày10 tháng 9 năm 2021 của Bộ trưởng Bộ GDĐT để xây dựng kế hoạch dạy học theo hướng tăng tiết tăng buổi Dưới sự chỉ đạo chuyên môn của BGH nhà trường và tổ khối, tôi chú trọng nghiên cứu xây dựng Kế hoạch bài học Kết hợp giữa việc học tập các modun về soạn bài, bản thân tôi đã xác định các năng lực đặc thù và năng lực chung, phát triển phẩm chất của từng bài Qua đó hiệu quả dạy học được thể hiện rõ rệt sau mỗi tiết học, mỗi tuần học

(Hình ảnh các đồng nghiệp Trường Tiểu học Lam Sơn thảo luận về dạy học trực tuyến)

2.3.2 Giải pháp rèn học sinh ghi nhớ bảng nhân, bảng chia để vận dụng làm tốt dạng toán Tìm một trong các phần bằng nhau của một số.

Như chúng ta đã biết, dạng toán Tìm một trong các phần bằng nhau của

một số là vận dụng phép chia để giải toán Nếu học sinh không thuộc các bảng

chia (bảng nhân) th́ sẽ hạn chế rất lớn đến việc giải các bài toán ở dạng này Mặc

dù các em có hiểu bài, hiểu cách làm nhưng không biết chia hay chia không thành thạo thì không thể thực hiện được yêu cầu của bài toán Chính vì vậy, trong chương trình toán 3, bên cạnh việc hình thành và học thuộc các bảng nhân, chia 6, 7, 8, 9 thì giáo viên luôn phải tổ chức cho học ôn tập, củng cố lại các bảng nhân, chia mà các em đã học ở lớp 2 Vậy chúng ta rèn học sinh cách ghi nhớ bảng nhân, bảng chia như thế nào cho hiệu quả? Bản thân tôi đã tổ chức cho học sinh như sau:

Thứ nhất: Phải tạo sự thoải mái, hứng thú khi học Nên học theo phương pháp “dễ học trước, khó học sau” Ví dụ: những bảng nhân chia dễ học, dễ nhớ,

dễ thuộc nhất là bảng nhân 5, chia 5; nhân 2, chia 2,

Trang 7

Thứ hai: Tổ chức ôn luyện học thuộc bảng nhân, bảng chia bằng các trò

chơi như Ai nhanh? Ai đúng?, trò chơi Máy tính, trò chơi Truyền điện Ví dụ:

Sau khi học sinh học bảng chia 6, tôi tổ chức cho học sinh chơi trò chơi

“Truyền điện” như sau: Tôi chia lớp thành nhiều đội chơi mỗi đội 4 bạn (chơi

nhiều lượt) Cô giáo làm trọng tài, cử thư ký ghi kết quả chơi Các bạn còn lại làm cổ động viên Khi bắt đầu trò chơi tôi sẽ đọc một phép tính, chẳng hạn 18:3 rồi chỉ vào một em thuộc một trong hai đội, yêu cầu em đó phải nêu ngay kết

quả Nếu kết quả đúng thì em đó có quyền “truyền điện” cho một bạn thuộc đội

của đối phương Em sẽ đọc bất kỳ một phép tính nào trong bảng chia chẳng hạn như 60:10 rồi yêu cầu bạn đó phải lập tức nêu ngay kết quả là 6 Nếu bạn đó trả

lời đúng thì lại được quyền “truyền điện” tiếp đến bạn của đội đối phương Nếu

bạn trả lời sai thì sẽ nhảy lò cò một vòng quanh lớp học Hết thời gian chơi đội nào có nhiều bạn đọc kết quả đúng thì sẽ là đội chiến thắng

(Hình ảnh học sinh lớp 3A1, Trường Tiểu học Lam Sơn tham gia trò chơi – Nguồn Vũ Thị Nga) Thứ ba: Tổ chức cho học sinh học thuộc các bảng nhân, bảng chia theo

tiếng nhạc, cách thực hiện tương tự theo video ở đường link sau:

https://www.youtube.com/watch?v=xeMK33FAUWs; Hoặc tổ chức ôn luyện,

học thuộc dưới dạng đọc vè Hay dùng các video bài hát vui nhộn về bảng cửu chương của nhạc sỹ Song Thy mở cho các em nghe, vận động theo nhịp bài hát vào các buổi buổi sinh hoạt 15 phút đầu giờ, trong phần khởi động, phần củng

cố của một tiết nhằm gây hứng thú, tích cực cho học sinh Sau đây là một số đường link về các video bài hát về các bảng cửu chương:

https://www.youtube.com/watch?v=1bBwsGnOlaE

https://www.youtube.com/watch?v=ZGNmicZhnXw

https://www.youtube.com/watch?v=C-ZQclQV9YY

https://www.youtube.com/watch?v=n3ke0YRyp_I

https://www.youtube.com/watch?v=Y9gkSP0BfPw vb

(Hình ảnh vận động theo bài hát “Đàn gà của em” – Bảng nhân 4 – Nguồn GV Vũ Thị Nga) Thứ tư: Tổ chức cho các em ôn luyện thi đua theo nhóm dưới hình thức Đôi bạn cùng tiến, giáo viên chú ý động viên, khích lệ học sinh kịp thời.

Thứ năm: Tổ chức ôn luyện liên tục, nhiều lần Bất kể có thể là ở đâu,

trong giờ ra chơi hay trong giờ học, giáo viên có thể thường xuyên đặt các câu hỏi, câu đố về các bảng nhân, bảng chia để kích thích tư duy của các em, giúp các em không bị quên Thường xuyên như vậy, sẽ tạo một lối mòn về bảng nhân, bảng chia và từ đó học sinh sẽ phản xạ nhanh trong tính toán

2.3.3 Giải pháp kích thích sự tìm tòi, sáng tạo và hứng thú cho học sinh khi học dạng toán “ Tìm một trong các phần bằng nhau của một số”

Khi dạy bài: “Tìm một trong các phần bằng nhau của một số” (Trang

26, SGK T3), Trong các năm học trước, khi tổ chức cho học sinh tìm hiểu, giải

bài toán: “Chị có 12 cái kẹo, chị cho em số kẹo đó Hỏi chị cho em mấy cái kẹo?” thì tôi chỉ hướng dẫn học sinh phân tích đề rồi từ đó giúp các em: “Biết cách tìm một trong các phần bằng nhau của một số Vận dụng để giải bài toán

Trang 8

có lời văn Nhưng năm học này, trước khi đi tìm hiểu bài toán trong sách giáo

khoa, tôi đã tìm ra giải pháp kích thích sự tìm tòi, sáng tạo và hứng thú cho học

sinh thông qua một hoạt động trải nghiệm, khám phá có tên “Trò chơi chia

kẹo” Cách chơi như sau:

- Giáo viên chuẩn bị một gói kẹo (trung bình chia mỗi bàn khoảng 12 cái kẹo)

- Giáo viên tổ chức cho học sinh hoạt động theo nhóm bàn, phát cho mỗi nhóm 12 cái kẹo, Học sinh các nhóm thực hiện các yêu cầu: Hai bạn cùng bàn chia kẹo cho nhau, bạn này chia kẹo cho bạn kia và ngược lại theo yêu cầu sau:

Em hãy chia cho bạn hay số kẹo hoặc hay số kẹo Tính xem bạn được chia thì bạn sẽ được bao nhiêu cái kẹo?

- Học sinh các nhóm thực hiện chơi bạn này chia kẹo cho bạn kia và ngược lại Lưu ý phải tính xem bạn được chia thì được bao nhiêu cái kẹo Giáo viên quan sát, khích lệ các nhóm

- Giáo viên mời một số nhóm chơi trước lớp Yêu cầu học sinh vừa chia

kẹo vừa trình bày cách chia trước lớp ví dụ: “Tôi có 12 cái kẹo, tôi chia cho bạn

số kẹo, tức là tôi chia số kẹo đó thành ba phần bằng nhau, rồi tôi lấy cho bạn một phần và bạn được 4 cái keo Hoặc “Tôi có 12 cái kẹo, tôi chia cho bạn

số kẹo, tức là tôi chia số kẹo đó thành sáu phần bằng nhau, rồi tôi lấy cho bạn một phần Tức là bạn được chia 2 cái kẹo” Học sinh cả lớp quan sát, lắng

nghe, nhận xét

(Hình ảnh học sinh hứng thú, tìm tòi trong hoạt động Trò chơi chia kẹo- Nguồn Vũ Thị Nga)

(Hình ảnh học sinh hứng thú, tìm tòi trong hoạt động Trò chơi chia kẹo - Nguồn Vũ Thị Nga)

- Sau nhiều lần học sinh thực hiện “trò chơi chia kẹo”, giáo viên cần giúp học sinh hiểu rõ được bản chất của việc chia cho bạn hay số kẹo hoặc hay số kẹo nghĩa là ta đi tìm ; ; ; của 12 Vậy muốn chia cho bạn

số kẹo tức là số kẹo đó được chia thành hai phần bằng nhau rồi chia cho bạn

một phần hoặc muốn chia cho bạn số kẹo thì ta phải chia số kẹo đó thành ba phần bằng nhau rồi chia cho bạn một phần Từ đó học có thể thể rút cách tìm một trong các phần bằng nhau của một số

Như vậy qua trò chơi, học sinh được khám phá, trải nghiệm việc chia kẹo

để có hiểu biết ban đầu về Tìm một trong các phần bằng nhau của một số Sau

đó học sinh có thể vận dụng làm ngay bài toán (phần ví dụ trang 26, SGK Toán 3) một cách nhanh chóng mà không cần sự gợi ý, hướng dẫn của giáo viên Từ

đó học sinh sẽ rút ra được cách Tìm một trong các phần bằng nhau của một số

một cách nhanh nhất Tôi nhận thấy tất cả học sinh rất tích cực, chủ động và hứng thú với bài học Và đặc biệt là các em rất hiểu bài

2.3.4.Giải pháp ứng dụng Công nghệ thông tin khi dạy tiết “Tìm một trong các phần bằng nhau của một số”

Trang 9

Như chúng ta đã biết, việc ứng dụng Công nghệ thông tin trong dạy học không những tiết kiệm thời gian, tiết kiệm tiền của mà còn góp phần làm cho giờ học trở nên sinh động, hiệu quả, kích thích được tính tích cực, sáng tạo của học sinh Đối với những tiết dạy có ứng dụng công nghệ thông tin học sinh sẽ được trực quan, dễ hiểu, dễ nhớ hơn Vậy làm thế nào để chúng ta có thể ứng

dụng công nghệ thông tin vào dạy môn Toán lớp 3 nói chung, tiết Tìm một

trong các phần bằng nhau của một số nói riêng tích cực và hiệu quả?

Với mục tiêu cơ bản cần đạt được sau bài học là học sinh biết cách tìm một trong các phần bằng nhau của một số Áp dụng để giải bài toán có lời văn

và rèn luyện giải toán đơn về một phần mấy của một số Chính vì vậy, tôi đã nghiên cứu tìm cách ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy Tổ chức cho học sinh khởi động, khám phá và thực hành luyện tập một cách trực quan sinh động nhất, cụ thể:

*Phần khởi động: Để gây được hứng thú học tập cũng như qua đó khơi

gợi những kiến thức đã học để liên kết với bài mới, tôi tổ chức cho học sinh khởi

động qua trò chơi Ai nhanh? Ai đúng? Thông qua một số câu hỏi Ví dụ:

- Giáo viên xuất hiện hình ảnh những quả cam, yêu cầu học sinh khoanh vào

số cam trong hình Sau đó giáo viên xuất hiện hiệu ứng để chốt kết quả như hình sau:

- Hoặc giáo viên xuất hiện một số hình sau, hỏi: Đã tô màu vào hình nào? Sau khi học sinh trả lời, giáo viên kết luận bằng cách dùng hiệu ứng nhấp nháy với những hình đã tô màu

Nhờ có sự trực quan, sinh động, tất cả học sinh đều hứng thú và có tâm thế thoải mái để bước vào giờ học Từ đó, giáo viên dẫn dắt, kích thích học sinh

đi khám phá, hình thành kiến thức mới

*Phần khám phá, hình thành kiến thức:

Giáo viên xuất hiện bài toán: “Chị có 12 cái kẹo, chị cho em số kẹo Hỏi chị cho em mấy cái kẹo?” trên powerpoint, yêu cầu học sinh đọc đề, phân

tích bài toán, xem bài toán cho biết gì? yêu cầu làm gì? Giáo viên dùng hiệu ứng gạch dưới những ý mà học sinh đã phân tích

Sau đó giáo viên xuất hiện hình ảnh 12 cái kẹo và hỏi:

- Chị có tất cả bao nhiêu cái kẹo? Chị chia cho em bao nhiêu?

Trang 10

- Muốn lấy số kẹo của 12 cái kẹo ta làm thế nào?

Học sinh thảo luận nhóm đôi, trình bày trước lớp (Ta lấy 12 cái kẹo chia thành 3 phần bằng nhau, sau đó lấy đi một phần)

- 12 cái kẹo, chia làm 3 phần bằng nhau thì mỗi phần được mấy cái kẹo? (Mỗi phần được 4 cái kẹo)

- Vậy muốn tìm số kẹo của 12 cái kẹo ta làm như thế nào?

Từ đó học sinh rút ra cách muốn tìm một trong các phần bằng nhau của một số ta lấy số đó chia cho số phần bằng nhau Giáo viên cần lưu ý học sinh

muốn Tìm một trong các phần bằng nhau của một số thì cần xác định rõ số

đó là số nào? Có như vậy học sinh sẽ không bị nhầm lẫn trong quá trình làm

bài

(Hình ảnh dạy và học trong giờ Toán: Tìm một trong các phần bằng nhau của một số – Cô

giáo Vũ Thị Nga – Trường Tiểu học Lam Sơn)

*Phần luyện tập, thực hành: Đối với bài 1, tôi đã ứng dụng công nghệ

thông tin, tổ chức cho học sinh thực hành, luyện tập bài tập này thông qua trò chơi “Oẳn-tù-tì” Trò chơi gồm bốn câu hỏi ở bài tập 1, được giáo viên thiết kế,

trình chiếu trên powerpoint với các slide về hướng dẫn học sinh cách chơi, các

câu hỏi với các đáp án và hiệu ứng làm cho trò chơi thêm sinh động Ví dụ như:

(Hình ảnh một số slide trò chơi Oẳn – Tù – Tì)

Ngày đăng: 09/06/2022, 20:53

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

(Hình ảnh Giáo viên tự học, tự bồi dưỡng Công nghệ thông ti n- Nguồn Vũ Thị Nga,) - (SKKN 2022) một số giải pháp nâng cao chất lượng dạy và học dạng toán tìm một trong các phần bằng nhau của một số ở lớp 3a1, trường tiểu học lam sơn, huyện ngọc lặc
nh ảnh Giáo viên tự học, tự bồi dưỡng Công nghệ thông ti n- Nguồn Vũ Thị Nga,) (Trang 5)
- Giáo viên xuất hiện hình ảnh những quả cam, yêu cầu học sinh khoanh vào số cam trong hình - (SKKN 2022) một số giải pháp nâng cao chất lượng dạy và học dạng toán tìm một trong các phần bằng nhau của một số ở lớp 3a1, trường tiểu học lam sơn, huyện ngọc lặc
i áo viên xuất hiện hình ảnh những quả cam, yêu cầu học sinh khoanh vào số cam trong hình (Trang 10)
- Hoặc giáo viên xuất hiện một số hình sau, hỏi: Đã tô màu vào hình nào? Sau khi học sinh trả lời, giáo viên kết luận bằng cách dùng hiệu ứng nhấp nháy với những hình đã tô màu  . - (SKKN 2022) một số giải pháp nâng cao chất lượng dạy và học dạng toán tìm một trong các phần bằng nhau của một số ở lớp 3a1, trường tiểu học lam sơn, huyện ngọc lặc
o ặc giáo viên xuất hiện một số hình sau, hỏi: Đã tô màu vào hình nào? Sau khi học sinh trả lời, giáo viên kết luận bằng cách dùng hiệu ứng nhấp nháy với những hình đã tô màu (Trang 10)
(Hình ảnh dạy và học trong giờ Toán: Tìm một trong các phần bằng nhau của một số – Cô giáo Vũ Thị Nga – Trường Tiểu học Lam Sơn) - (SKKN 2022) một số giải pháp nâng cao chất lượng dạy và học dạng toán tìm một trong các phần bằng nhau của một số ở lớp 3a1, trường tiểu học lam sơn, huyện ngọc lặc
nh ảnh dạy và học trong giờ Toán: Tìm một trong các phần bằng nhau của một số – Cô giáo Vũ Thị Nga – Trường Tiểu học Lam Sơn) (Trang 11)
Câu 4 (2,5 điểm): Một hình chữ nhật có chiều rộng là 6 cm. Chiều rộng bằng  chiều dài - (SKKN 2022) một số giải pháp nâng cao chất lượng dạy và học dạng toán tìm một trong các phần bằng nhau của một số ở lớp 3a1, trường tiểu học lam sơn, huyện ngọc lặc
u 4 (2,5 điểm): Một hình chữ nhật có chiều rộng là 6 cm. Chiều rộng bằng chiều dài (Trang 15)

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w