Bên cạnh đó, phần lớn giáo viên còn dạy chay, chưa vận dụng tốt các phương pháp, hình thức dạy học tích cực để tổ chức các hoạt động dạy học Tiếng Việt, chưa quan tâm đến mọi đối tượng h
Trang 11 PHẦN MỞ ĐẦU 1.1 Lí do chọn đề tài
Tiếng Việt là môn học có ý nghĩa quan trọng ở Tiểu học, bởi môn Tiếng Việt có mục tiêu cơ bản là hình thành và phát triển ở học sinh bốn kĩ năng sử dụng Tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) Đây là những kĩ năng không thể thiếu để học sinh có thể học tập, giao tiếp Tuy nhiên, không ít học sinh không thích học Tiếng Việt Trong các giờ học Tiếng Việt, các em học tập thụ động, thiếu tự tin Nhiều em còn rụt rè, không dám bày tỏ ý kiến riêng của mình Bên cạnh đó, phần lớn giáo viên còn dạy chay, chưa vận dụng tốt các phương pháp, hình thức dạy học tích cực để tổ chức các hoạt động dạy học Tiếng Việt, chưa quan tâm đến mọi đối tượng học sinh trong lớp, đặc biệt là học sinh chưa hoàn thành môn Tiếng Việt Làm thế nào để giúp học sinh yêu thích môn Tiếng Việt, nắm chắc nội dung của từng tiết học, của từng chủ điểm Việc sử dụng sơ đồ tư duy sẽ cho học sinh cái nhìn tổng quan và bao quát nhất về vấn đề, từ đó giúp tìm ra những
“mật mã” còn ẩn dấu, phát huy tiềm năng tư duy của não bộ Có thể thấy, cấu tạo của sơ đồ tư duy bao gồm chủ đề chính, nhánh con, từ khóa, hình ảnh gợi nhớ, liên kết, màu sắc và kích cỡ Với ưu điểm là dễ nhìn, dễ nắm bắt, có khả năng kích thích hứng thú học tập, khả năng sáng tạo cũng như phát huy tối đa tiềm năng ghi nhớ của bộ não và hình thành tư duy logic Khi các em đã biết, đã hiểu,
đã nhớ thì các em sẽ yêu thích môn học đem lại cho người học hứng thú, niềm
vui trong học tập Do đó tôi đã chọn đề tài: “Phát huy tính tích cực của học sinh lớp 5 trong môn Tiếng Việt bằng sơ đồ tư duy” là một biện pháp góp
phần nâng cao chất lượng giáo dục
1.2 Mục đích nghiên cứu
Với đề tài này mục đích nghiên cứu chính giúp giáo viên, học sinh trong việc trình bày các ý tưởng một cách rõ ràng, suy nghĩ sáng tạo, học tập thông qua biểu đồ, tóm tắt thông tin của một bài học hay một quyển sách, bài báo, hệ thống lại kiến thức đã học, tăng cường khả năng ghi nhớ, đưa ra ý tưởng mới, … nâng cao chất lượng dạy học
Trang 2a Đối tương nghiên cứu:
Học sinh lớp 5 trường Tiểu học Thăng Long 2
b Phạm vi nghiên cứu:
Do thời gian có hạn tôi trực tiếp đứng lớp 2 tiết/ tuần, nên tôi chỉ chọn nghiên cứu phát huy tính tích cực của học sinh lớp 5 trong môn Tiếng Việt bằng
sơ đồ tư duy ở học sinh lớp 5B, Trường Tiểu học Thăng Long 2
1.4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Đọc và nghiên cứu các tài liệu có
liên quan như sách giáo khoa, sách giáo viên Tiếng Việt lớp 5, tìm hiểu các tài liệu, tham khảo mạng internet về SĐTD
- Phương pháp điều tra: Điều tra thực trạng dạy và học Tiếng Việt lớp 5.
- Phương pháp trao đổi, thảo luận: Trao đổi với đồng nghiệp, với giáo
viên về các vấn đề có liên quan đến đề tài
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Kiểm tra tính hiệu quả khi sử
dụng sơ đồ tư duy trong học tập
2 PHẦN NỘI DUNG
Trang 31 Cơ sở lí luận về vận dụng sơ đồ tư duy (SĐTD) trong dạy học
1.1 Khái niệm – Cấu trúc sơ đồ tư duy
a Khái niệm SĐTD
Sơ đồ tư duy còn gọi là bản đồ tư duy hay lược đồ tư duy, … là một hình thức ghi chép nhằm tìm tòi, đào sâu, mở rộng một ý tưởng, hệ thống hóa một chủ đề hay một mạch kiến thức,…bằng cách kết hợp việc sử dụng đồng thời hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết với sự tư duy tích cực Đặc biệt đây là sơ
đồ mở, không yêu cầu tỉ lệ, chi tiết chặt chẽ như Bản đồ địa lí, có thể vẽ thêm hoặc bớt các nhánh Mỗi người vẽ một kiểu khác nhau, dùng màu sắc, hình ảnh, các cụm từ diễn đạt khác nhau Cùng một chủ đề nhưng mỗi người có thể thể hiện nó dưới dạng SĐTD theo một cách riêng Do đó việc lập SĐTD phát huy được tối đa khả năng sáng tạo của mỗi người
b Cấu trúc Sơ đồ Tư duy
Cấu trúc của một SĐTD gồm có: Phần Chủ đề (nội dung chính); các nhánh chính (triển khai cho chủ đề); nhánh phụ (triển khai nhánh chính); phần Minh họa (kí hiệu, biểu tượng, tranh ảnh, … kèm theo, làm cho SĐTD thêm sinh động, dễ hình dung, liên tưởng)
1.2 Tác dụng của SĐTD trong dạy học
Sử dụng SĐTD là một công cụ hữu ích trong giảng dạy và học tập Nó giúp giáo viên, học sinh trong việc trình bày các ý tưởng một cách rõ ràng, suy nghĩ sáng tạo, học tập thông qua biểu đồ, tóm tắt thông tin của một bài học hay một quyển sách, bài báo, hệ thống lại kiến thức đã học, tăng cường khả năng ghi nhớ, đưa ra ý tưởng mới, …
SĐTD có thể vận dụng một cách linh hoạt trong tất cả các lĩnh vực của đời sống, đặc biệt trong công tác quản lí, trong tất cả các môn học và bất kì giai đoạn nào của tiến trình bài dạy
- Sử dụng SĐTD sẽ dễ dàng hơn trong việc phát triển ý tưởng, tìm tòi xây dựng kiến thức mới Nhờ sự liên kết các nét vẽ cùng màu sắc thích hợp và cách diễn đạt riêng của mỗi người, SĐTD giúp bộ não liên tưởng, liên kết các kiến thức đã học trong sách vở, đã biết trong cuộc sống, … để phát triển, mở rộng ý
Trang 4tưởng Sau khi học sinh tự thiết lập SĐTD kết hợp việc thảo luận nhóm dưới sự góp ý, dẫn dắt của giáo viên, học sinh lĩnh hội kiến thức của bài học một cách nhẹ nhàng tự nhiên, học sinh nhớ được phần cốt lõi của bài ngay tại lớp
- Cách học này còn phát triển được năng lực riêng của từng học sinh không chỉ về trí tuệ vẽ gì, viết gì mà còn phát triển về khả năng thẩm mỹ do thiết
kế bố cục, màu sắc, các đường nét cho đẹp, sắp xếp các ý khoa học, xúc tích, …
Đó chính là học sinh đã được “học cách học”
- SĐTD giúp học sinh tiết kiệm thời gian, có thói quen tự ghi chép hay tổng kết một vấn đề, một nội dung đã học theo cách hiểu của mình
- SĐTD giúp học sinh dễ ôn tập, dễ xem lại kiến thức khi cần
- SĐTD giúp học sinh nhìn thấy bức tranh tổng thể
- Tổ chức và phân loại được suy nghĩ của học sinh
- Nhiều vấn đề khác …
1.3 Cách vẽ SĐTD
a Vẽ SĐTD bằng phần mềm
Các phần mềm tiêu biểu như Mind maping, Buzan’s I Mind map TM, Inspiration, …Vẽ SĐTD bằng phần mềm thường dành cho giáo viên vì địa phương chưa đủ điều kiện cho học sinh tiếp cận
b Vẽ SĐTD bằng tay
Bước 1: Từ trung tâm tờ giấy, viết từ hay cụm từ khóa cô đọng, có thể
vẽ kèm một hình ảnh hay đính một bức tranh minh họa Chú ý sử dụng màu sắc
vì màu sắc có tác dụng kích thích não Tuy nhiên không lạm dụng nhiều màu sắc
Bước 2: Vẽ một đường phân nhánh từ trung tâm cho mỗi ý quan trọng,
sử dụng từ hay cụm từ khóa cho mỗi nhánh Chú ý phân bố các ý chính sao cho cân xứng
Bước 3: Từ mỗi ý quan trọng, , vẽ tiếp các phân nhánh mới là các ý phụ
bổ sung cho nó
Trang 5Bước 4: Từ các ý phụ này, lại mở ra các phân nhánh chi tiết nhất Trong
quá trình này, người tạo SĐTD có thể kèm theo tranh ảnh minh họa cho ý mình cần diễn đạt
1.4 Lưu ý khi vẽ SĐTD
- Khi vẽ theo nhóm, giáo viên cần hướng dẫn học sinh cách tìm ra ý tưởng.
Tìm ý tưởng như thế nào? 3 Kết hợp các ý tưởng
5 Cử thành viên ghi lại tất cả các ý tưởng phát triển các ý tưởng4 Đặt câu hỏi để
2 Tôn trọng ý kiến của người khác
1 Để các ý tưởng phát triển tự do
6 Khi không có thêm
ý tưởng mới bắt đầu
lập SĐTD
- SĐTD là một sơ đồ mở nên không yêu cầu tất cả các nhóm HS có chung một kiểu SĐTD Giáo viên chỉ nên chỉnh sửa cho học sinh về mặt kiến thức, góp
ý thêm về đường nét, màu sắc, hình thức nếu cần
- Bắt đầu từ trung tâm với hình ảnh của chủ đề vì một hình ảnh có thể diễn đạt được cả ngàn từ và giúp học sinh sử dụng trí tưởng tượng của mình Một hình ảnh ở trung tâm sẽ giúp ta tập trung được vào chủ đề và làm cho các
em hưng phấn hơn
- Nối các nhánh chính (cấp 1) đến hình ảnh trung tâm, nối các nhánh cấp
2 đến các nhánh cấp 1, … bằng các đường cong với màu sắc khác nhau
- Các nhánh chính cần tô đậm, các nhánh cấp 2, cấp 3 mảnh dần
- Không sử dụng quá nhiều màu sắc (1 đến 2 màu để tiết kiệm thời gian)
- Vẽ nhánh cong để tránh buồn tẻ, tạo sự mềm mại, cuốn hút
- Dùng từ ngữ ngắn gọn (1 đến 2 từ)
- Môn học nào cũng có thể sử dụng SĐTD Đặc biệt dùng để ôn tập
Trang 6- Giáo viên thường xuyên cho học sinh vẽ SĐTD.
2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
2.1 Thuận lợi
- Cơ sở vật chất, thiết bị dạy học của nhà trường tạm đủ để phục vụ việc dạy học theo yêu cầu tối thiểu, đáp ứng nhu cầu cho việc dạy và học
- Trường Tiểu học Thăng Long 2 có đội ngũ giáo viên trẻ khỏe, có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt; trình độ đạt chuẩn trở lên, chuyên môn đều xếp loại Khá, Xuất sắc Yêu nghề, mến trẻ, tận tụy, sáng tạo trong công việc
- Giáo viên thường xuyên tự học và tự bồi dưỡng để nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ Một số giáo viên đã sử dụng công nghệ thông tin hỗ trợ cho việc dạy học mang lại kết quả cao
- Học sinh khối 4,5 đã ý thức về việc học tập, các em hiếu học, tích cực tham gia các hoạt động học tập, phát huy được tính chủ động, sáng tạo, tự tin, mạnh dạn
2.2 Khó khăn
- Cơ sở vật chất của nhà trường về phòng học năm học 2021 – 2022 này còn thiếu, chưa đáp ứng nhu cầu cho việc dạy và học hai buổi/ ngày
- Học sinh tiếp thu kiến thức một cách thụ động, thiếu tự tin, không giám bày tỏ ý kiến riêng của mình
- Đa số học sinh có cha mẹ làm nghề nông( làm lúa nước) nên đời sống còn nhiều khó khăn Việc đầu tư cho con học hành còn nhiều hạn chế
- Việc sử dụng SĐTD trong dạy học hầu như chưa có giáo viên nào sử dụng
- HS phải làm quen với cách học mới giáo viên phải hướng dẫn cách vẽ SĐTD cho học sinh
2.3 Thực trang kết quả của khi học sinh môn Tiếng Việt qua khảo sát đầu năm:
Lớp
Sĩ số học sinh
thành Số
lượng
Tỉ lệ
%
Số lượng
Tỉ lệ
%
Số lượng
Tỉ lệ
%
Trang 75B 31 0 0 20 68 11 32
3 Các giải pháp để “Phát huy tính tích cực của học sinh Lớp 5 trong môn Tiếng Việt bằng sơ đồ tư duy”.
a Cho HS làm quen với SĐTD
- Sau khi tìm hiểu các tài liệu, tham khảo mạng internet về SĐTD, tôi đã thiết kế một số SĐTD để trang trí lớp học như Sơ đồ lớp học, Nội quy lớp học, nội dung các môn học để trang trí góc học tập, … với mục đích cho HS làm quen với SĐTD
Ví dụ 1: SĐTD Nội dung chương trình Tiếng Việt lớp 5 hiện hành
Việt Nam –
Tổ quốc em
Con người với thiên nhiên
Cánh chim hòa bình
Người công dân
Giữ lấy màu xanh
Vì hạnh phúc con người
Những chủ nhân
tương lai
Nam và nữ
Vì cuộc sống thanh bình
Nhớ nguồn
Ví dụ 2: SĐTD Cấu tạo bài văn tả người
Trang 8MỞ BÀI
THÂN BÀI
KẾT BÀI
Giới thiệu người định tả
CẤU TẠO
BÀI VĂN TẢ NGƯỜI
Nêu cảm nghĩ
về người được tả
(Hoặc) Nêu tình cảm về người được tả
và bình luận thêm Nêu tình cảm về người được tả
Tả ngoại hình
Tả tình tình, hoạt động
Tầm vóc, cách ăn mặc Khuôn mặt, mái tóc Cặp mắt, hàm răng, …
GHI NHỚ
Lời nói,
cử chỉ Thói quen Cách cư xử với người khác
Ví dụ 3: SĐTD Ôn tập phần Con người và sức khỏe (Khoa học 5)
Con người
và sức khỏe
Vệ sinh phòng bệnh Sự sinh sản và PT của cơ thể người
An toàn cuộc sống
Sự lớn lên và PT của cơ thể người
Sự sinh sản
Không sử dụng
các chất gây nghiện
Dùng thuốc
an toàn
Bảo vệ sức khỏe
tuổi dậy thì
Phòng một số bệnh
Vệ sinh
tuổi dậy thì
Phòng tránh xâm hại
Phòng tránh tai nạn đường bộ
Khoa học:Điều em cần nhớ
Trang 9Ví dụ 4: SĐTD Nội dung chương trình môn Toán lớp 5.
Ôn tập
cuối năm
Hình học
Số TP
Các phép tính với số TP
Ôn tập.
Bảng ĐV đo diện tích
4
Số đo thời gian.
Toán chuyển
động đều.
1
5
4
3
2
Ví dụ 5: SĐTD Nội dung chương trình môn Lịch sử lớp 5
Lịch sử Việt Nam (1858 – 1976)
Lịch sử 5
Trang 10Ví dụ 6: SĐTD Nội dung chương trình môn Địa lí lớp 5.
Các DT Sự phân bố DC Nông nghiệp
Lâm nghiệp và thủy sản
Công nghiệp
Thương mại và du lịch
Giao thông vận tải
Dân số nước ta Đất và rừng Vùng biển nước ta Sông ngòi
Khí hậu Địa hình và khoáng sản
- Tiếp đó tôi lập kế hoạch cho một số tiết dạy có sử dụng SĐTD Kết hợp với bài giảng có sử dụng công nghệ thông tin là một số SĐTD vẽ bằng tay trên giấy A4, giấy A3, giấy A0 Tôi tiến hành dạy học nhằm mục đích cho học sinh làm quen cách học với SĐTD Giảng giải, hướng dẫn các em hiểu như thế nào là SĐTD, cách vẽ SĐTD, tác dụng của SĐTD và một số lưu ý khi vẽ SĐTD
- Lúc đầu, các em cảm thấy rất lạ lẫm Nhưng với màu sắc, hình ảnh, cách học mới đã hấp dẫn các em, các em đã hiểu bài rất nhanh và tiếp cận với cách học mới một cách tích cực và hào hứng
- Sau tiết học làm quen với SĐTD, học sinh luôn tập vẽ SĐTD, mong muốn được học với SĐTD trong các tiết học tiếp theo, ở tất cả các môn học
b Sử dụng SĐTD trong dạy học Tiếng Việt 5
- Có thể nói hầu như phân môn Tiếng Việt nào cũng có thể sử dụng SĐTD
để dạy học Trong phân môn Tập đọc có thể sử dụng khi dạy bài Quang cảnh làng mạc ngày mùa , phân môn Chính tả có thể sử dụng khi dạy ôn tập cách ghi dấu thanh …, Luyện từ và câu có thể sử dụng khi dạy bài Từ đồng nghĩa,
Từ nhiều nghĩa, Nối các vế câu ghép bằng quan hệ từ, ôn tập về từ và nghĩa
Trang 11của từ, … Đặc biệt trong phân môn Tập làm văn sử dụng SĐTD khi dạy về cấu tạo bài văn, lập dàn ý các bài văn Tả cảnh, Tả người, Thuyết trình tranh luận, …
- Giáo viên là người hướng dẫn, gợi ý để học sinh chủ động tiếp thu kiến thức Tính tích cực và sáng tạo của học sinh sẽ được phát huy, lớp học sẽ sinh động hơn, giúp các em thích học và yêu thích môn Tiếng Việt hơn
- Dùng phương tiện sẵn có như bảng lớp, bảng phụ, phấn màu, bút màu, giấy A4, A0, …
- Giáo viên dùng phấn màu vẽ trực tiếp lên bảng, có thể vẽ trên giấy A4, A0 bằng bút màu
- Có thể vẽ trước một SĐTD chỉ có nhánh Giáo viên giảng tới đâu thì hướng dẫn cho học sinh điền chữ tới đó
c Ứng dụng SĐTD trong phân môn Tập làm văn, khi dạy dạng bài văn Tả cảnh
Khi xây dựng dàn ý cho một bài văn là yêu cầu không dễ đối với đa số học sinh Thông thường các em chỉ tiến hành lập dàn ý khi giáo viên yêu cầu và làm chiếu lệ, nên khi viết bài văn hoàn chỉnh các em gặp khó khăn trong tìm ý, sắp xếp ý và diễn đạt thành lời văn Sử dụng SĐTD là một công cụ có ưu thế, là một phương tiện hướng dẫn học sinh làm dàn ý cho bài văn
Để phát triển năng lực tư duy và kĩ năng sáng tạo của học sinh, khi dạy bài văn tả cảnh, tôi đã ứng dụng SĐTD vào các tiết dạy như:
Tiết 1 Ứng dụng SĐTD để tóm tắt nội dung bài học.
Bài Cấu tạo bài văn tả cảnh (Tiếng Việt 5, tập 1, trang 11)
Mục tiêu: HS hiểu được dàn ý của bài văn tả cảnh gồm 3 phần: Mở bài
(Giới thiệu bao quát về cảnh sẽ tả), Thân bài (Tả từng phần của cảnh hoặc sự thay đổi của cảnh theo thời gian), Kết bài (Nêu nhận xét hoặc cảm nghĩ của người viết)
Bước 1 Hình thành kiến thức: học sinh phân tích 2 ngữ liệu mẫu:
- Hoàng hôn trên sông Hương (Theo Hoàng Phủ Ngọc Tường): Học sinh
rút ra được cấu tạo 3 phần của bài văn tả cảnh, chức năng của từng phần và trình
tự miêu tả cảnh theo thời gian
Trang 12- Quang cảnh làng mạc ngày mùa (Theo Tô Hoài): Học sinh củng cố cấu
tạo 3 phần của bài văn tả cảnh, chức năng của từng phần và trình tự miêu tả theo trình tự không gian
Bước 2 Hướng dẫn học sinh rút ra được cấu trúc của bài văn tả cảnh và
thể hiện kiến thức bằng SĐTD
- Chuẩn bị: Giấy A4, bút màu, …
- Xác định chủ đề chính của SĐTD là Cấu tạo bài văn tả cảnh.
- Tiến hành làm việc theo cặp Học sinh lập SĐTD theo gợi ý của giáo viên: + Bài văn tả cảnh được cấu tạo bởi những phần nào? (cấp 1)
+ Trong từng phần, các em nên trình bày những nội dung gì? (cấp 2)
+ Trong từng nội dung, các em có thể triển khai ý chi tiết nào? (học sinh căn
cứ vào 2 ngữ liệu mẫu đã tiếp xúc để triển khai (cấp 3)
- Lưu ý các em về màu sắc, phân bậc sơ đồ, dùng mũi tên gắn kết các ý, …
- Nhận xét, thảo luận, chỉnh sửa để hoàn thiện SĐTD về cấu tạo bài văn tả cảnh GV là cố vấn giúp HS hoàn chỉnh SĐTD
- Tổng hợp ý của HS thông qua SĐTD mà GV đã chuẩn bị Mời 1 HS lên trình bày lại SĐTD một lần nữa
MỞ BÀI
THÂN BÀI
KẾT BÀI
Giới thiệu bao quát cảnh sẽ tả
CẤU TẠO BÀI VĂN TẢ CẢNH
Nêu nhận xét hoặc cảm nghĩ của người viết
Kết bài theo kiểu không mở rộng (Hoặc) Kết bài theo kiểu mở rộng
Tả từng phần của cảnh
Tả sự thay đổi của cảnh theo thời gian
Bầu trời Mặt đất Cây cối, … Sáng Trưa Chiều, …
Tiết 2 Ứng dụng SĐTD để lập dàn ý cho bài văn miêu tả cụ thể