Bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt, góp phần hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của Tiếng Việt, góp phần hình nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa cho học sinh.” [1
Trang 1PHÒNG GD&ĐT TRIỆU SƠN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIÚP HỌC SINH HỌC TỐT
DẠNG VĂN MIÊU TẢ LỚP 5
Người thực hiện: Đào Thị Hà
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường TH Thọ Tân
SKKN thuộc lĩnh vực ( môn ): Tiếng Việt
THANH HOÁ NĂM 2022
Trang 2Mục Nội dung Trang
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm 22.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 32.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề 42.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo
dục, với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường
Trang 3Tất cả chúng ta đều biết muốn xây được một ngôi nhà vững chắc, to, đẹp vàcao lớn thì điều trước tiên ta phải xây dựng được nền móng vững chắc Cũng nhưviệc xây nhà một người muốn học lên cao thì điều đầu tiên là phải nắm vữngnhững kiến thức nền tảng Tiểu học là bậc học nền tảng trong hệ thống giáo dụcquốc dân
Mục tiêu của bộ môn Tiếng Việt ở Tiểu học là: “Hình thành và phát triển ở học sinh các kỹ năng sử dụng Tiếng Việt để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi Thông qua việc dạy học Tiếng Việt, góp phần rèn luyện các thao tác tư duy Cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về Tiếng Việt, về tự nhiên, xã hội và con người, về văn hóa, văn học của người Việt Nam và nước ngoài Bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt, góp phần hình thành thói quen giữ gìn
sự trong sáng, giàu đẹp của Tiếng Việt, góp phần hình nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa cho học sinh.” [1]
Trong đó phân môn Tập làm văn giữ một vị trí quan trọng trong dạy và họcTiếng Việt Nằm trong môn Tiếng Việt, phân môn Tập làm văn không chỉ dừng lại
ở mức độ dạy học sinh biết nói, viết đủ câu, diễn đạt chọn ý trong giao tiếp DạyTập làm văn còn giúp học sinh biết cách thức hình thành bài Tập làm văn, tạo lậpđược văn bản và tiếp tục bồi dưỡng tâm hồn, phát triển năng lực tư duy cho cácem
Thực tế giảng dạy cho thấy, dạy cho học sinh biết làm Tập làm văn quả là rấtkhó, việc bồi dưỡng để các em có được kỹ năng viết các bài văn đúng và hay ở cácthể loại nói chung và văn miêu tả nói riêng là việc không đơn giản Học sinh Tiểuhọc, khả năng diễn đạt của các em còn nhiều hạn chế, chưa biết chọn lọc từ ngữcho bài viết của mình, các em nghĩ thế nào thì viết thế ấy
Tập làm văn ở Tiểu học bao gồm nhiều thể loại như: Trao đổi ý kiến, kểchuyện, viết đơn, miêu tả nhưng chiếm thời gian nhiều nhất là văn miêu tả Mụcđích của việc dạy văn miêu tả là giúp học sinh có thói quen quan sát, biết phát hiệnnhững điều mới mẻ, thú vị về thế giới xung quanh, biết truyền những rung cảm củamình vào đối tượng miêu tả, biết sử dụng những từ ngữ có giá trị biểu cảm, nhữngcâu văn sáng rõ về nội dung, chân thật về tình cảm Một bài văn miêu tả hay lànhững bài văn mà người đọc thấy hiện ra trước mắt mình con người, cảnh vật cụthể, sống động như nó vẫn tồn tại trong thực tế cuộc sống Như vậy có thể xem vănmiêu tả là một bức tranh về sự vật và ngôn từ sống động trong văn bản
Năm học 2021- 2022 tôi được phân công giảng dạy và chủ nhiệm lớp 5ATrường Tiểu học Thọ Tân Vì muốn nâng cao chất lượng dạy học phân môn Tậplàm văn cho học sinh lớp 5 nói chung và dạng bài văn miêu tả nói riêng tôi đã tìm
tòi, học hỏi và mạnh dạn đưa ra “Một số giải pháp giúp học sinh học tốt dạng văn miêu tả lớp 5” để nghiên cứu và áp dụng cho đối tượng học sinh lớp 5A tôi đang
giảng dạy
1.2 Mục đích nghiên cứu:
Trang 4Rèn luyện kĩ năng làm các bài văn miêu tả cho học sinh Về cách thức tổ chứccác hoạt động dạy học trong môn Tập làm văn lớp 5 nói chung và dạng bài vănmiêu tả nói riêng Từ đó xây dựng các giải pháp rèn kĩ năng viết bài văn miêu tảphù hợp với từng thể loại giúp HS khắc họa rõ nét về đối tượng miêu
tả, thể hiện được cảm xúc một cách chân thật, hướng người đọc
đi đến kết luận về đối tượng miêu tả theo ý đồ của mình
1.3 Đối tượng nghiên cứu:
Nghiên cứu về nội dung chương trình của môn Tập làm văn, phương pháp
và hình thức tổ chức dạy học các thể loại bài văn miêu tả ở lớp 5
1.4 Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Đặc trưng cơ bản của môn Tập làm văn lớp 5: Là tính tổng hợp, thực hành
sáng tạo mang dấu ấn cá nhân học sinh, trong quá trình tạo lập ngôn bản (ở cả hai dạng nói và viết) Làm văn là một hoạt động giao tiếp Việc dạy học Tập làm
văn cho học sinh thực chất là dạy cho học sinh nắm cơ chế của việc sản sinhngôn bản nói và viết theo các quy tắc ngôn ngữ, quy tắc giao tiếp nhằm đạt đượcmục đích giao tiếp Theo quan điểm tích hợp, các phân môn được tập hợp lạixung quanh trục chủ điểm và các bài đọc Nhiệm vụ cung cấp kiến thức và rènluyện kĩ năng gắn bó chặt chẽ với nhau
Mặt khác, trong chương trình môn Tập làm văn lớp 5 có rất nhiều các thểloại làm văn, trong đó dạng bài văn miêu tả chiếm vị trí đặc biệt quan trọng chohọc sinh Thông qua thể loại làm văn miêu tả, các em có kĩ năng mở rộng vốn
từ, sử dụng cách đặt câu và liên kết thành đoạn, thành các ý để viết thành mộtbài văn hoàn chỉnh
Khái niệm về văn miêu tả: Văn miêu tả là loại văn nhằm giúp người
đọc, người nghe hình dung những đặc điểm, tính chất nổi bật của sự vật, sự việc,con người, phong cảnh,…làm cho những cái đó như hiện lên trước mắt ngườiđọc, người nghe Như vậy, văn miêu tả là thể loại văn dùng lời nói, chữ viết cóhình ảnh và cảm xúc làm cho người đọc, người nghe hình dung một cách rõ nét
về người, vật, cảnh vật sự việc như vốn có trong đời sống
Trang 5Đặc điểm văn miêu tả: Văn miêu tả là thể loại sáng tác: văn miêu tả
không phải là sự sao chép, chụp lại những sự vật, sự việc, con người một cáchmáy móc mà là kết quả của sự nhận xét, tưởng tượng, đánh giá hết sức phongphú Đó là miêu tả thể hiện sự mới mẻ, riêng biệt của người viết
- Tính chân thật trong văn miêu tả: văn miêu tả không hạn chế sự tưởngtượng, không ngăn cản cái mới mẻ của người viết Nhưng như vậy, không cónghĩa văn miêu tả cho phép người viết bịa một cách tùy tiện, muốn nói sao thìnói, viết sao thì viết Khi miêu tả cái mới, cái riêng phải gắn chặt với cái chânthực
- Văn miêu tả phải là loại văn giàu cảm xúc, những rung động, nhữngnhận xét tinh tế, dồi dào sáng tạo nhằm mục đích thông báo thẩm mỹ Người đọcqua văn miêu tả nhận thức thực tế khách quan bằng con đường lí trí mà chủ yếubằng cảm xúc, những rung động mạnh mẽ của tâm hồn
- Văn miêu tả có tính thẩm mỹ cao: Không chỉ đơn thuần là tái hiện lại sựvật, sự việc, hiện tượng, Loại văn này đòi hỏi người viết cần phải có tính thẩm
mỹ cao Ngôn từ phải lột tả được nét nổi bật của các đối tượng được nói đến
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 2.2.1 Thuận lợi:
- Nhà trường luôn quan tâm tạo mọi điều kiện tốt nhất về cơ sở vật chất vàchuyên môn cho việc dạy và học Phụ huynh đa phần rất quan tâm đến việc họccủa con em mình
2.2.2 Khó khăn:
* Về khách quan: Do 100% học sinh đều là con bố mẹ làm nông nghiệp,
công nhân nên điều kiện kinh tế và thời gian còn hạn chế chưa quan tâm sát saoviệc học tập của con mình Do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 nên thời gian
đi học bị gián đoạn vì các em nghỉ học do dịch lây lan rộng nên việc tiếp thukiến thức bị phân tán
* Về chủ quan: Khi làm văn, học sinh chưa xác định được yêu cầu trọng
tâm của đề bài Không biết hình dung bằng hình ảnh, âm thanh, cảm giác về sựvật miêu tả khi quan sát Vốn từ đã nghèo nàn lại không biết sắp xếp như thế nào
để bài viết mạch lạc, lưu loát
Tôi đã tiến hành khảo sát chất lượng môn Tập làm văn thể loại văn miêu
tả và thu được kết quả như sau:
Trước sự đối lập giữa mục tiêu môn học và thực tế kết quả giáo dục củalớp, đòi hỏi tôi phải tìm hiểu và đưa ra các giải pháp về đổi mới phương pháp
Trang 6giảng dạy phân môn Tập làm văn nhằm thu hút sự hứng thú và phát huy sự chủđộng sáng tạo của học sinh trong quá trình tham gia học tập.
2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giúp học sinh học tốt dạng văn miêu
tả lớp 5
Để giúp học sinh lớp mình làm tốt bài văn miêu tả thì người giáo viên cầntạo được cho học sinh một vốn từ, vốn sống phong phú và đa dạng Bên cạnh đócũng phải giúp các em sử dụng từ ngữ một cách chính xác, phù hợp với hoàncảnh Do đó với cương vị là một giáo viên chủ nhiệm, bản thân tôi luôn cố gắngdạy tốt và bám sát chương trình Tiếng Việt (như Tập đọc, Kể chuyện ,Chính tả,Luyện từ và câu) Đặc biệt là ở phân môn Tập làm văn, từng tiết học tôi cho họcsinh nắm chắc bố cục, cách tiến hành viết đoạn văn, bài văn Để làm tốt việcnày tôi đã thực hiện một số biện pháp sau:
2.3.1 Nghiên cứu nội dung, chương trình và phương pháp dạy Tập làm văn:
Việc nghiên cứu, nắm vững mục tiêu, nội dung chương trình sách giáokhoa đối với giáo viên không chỉ dừng lại ở mức độ nắm bắt thông tin Giáoviên cần phải có sự liên hệ, kết nối, xem xét khả năng liên quan giữa các mạchkiến thức trong một giai đoạn, một môn, phân môn và các môn học trong mộtlớp học, bậc học Có như thế, giáo viên mới khai thác được hiệu quả của tínhđồng tâm, tính kế thừa và phát triển từ cấu trúc của chương trình sách giáo ởTiểu học
Nội dung chương trình Tập làm văn lớp 5: Cả năm có 62 tiết trong đó Tậplàm văn miêu tả 33 tiết (chiếm hơn 50% số tiết) với mục tiêu là trang bị kiếnthức và rèn luyện kĩ năng làm văn, góp phần cùng với các môn học khác làmgiàu vốn sống, rèn luyện tư duy, bồi dưỡng tâm hồn, cảm xúc thẩm mĩ, hìnhthành nhân cách cho học sinh
2.3.2 Tích lũy kiến thức:
2.3.2.1 Kiến thức từ các tác phẩm văn học:
Mỗi một tác phẩm văn học là một tác phẩm sáng tạo mang tính cá nhân rấtcao Nó là tinh hoa, là kết tinh của cả một quá trình quan sát, tìm tòi và sáng tạo.Cho dù chỉ là một đoạn nhỏ trong tác phẩm thì bản thân nó cũng mang một chủ
đề một ý nghĩa riêng Và nội dung của các tác phẩm thường xoay quanh các chủ
đề sau:
- Các hiện tượng thiên nhiên
- Mối quan hệ giữa con người với con người
- Mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên
Trang 7Qua việc học tập các tác phẩm văn học các em sẽ có một lượng kiến thứcphong phú về các hiện tượng thiên nhiên, về các mối quan hệ giữa con người vớicác sự vật hiện tượng và giữa con người với nhau Bên cạnh đó các em sẽ cókiến thức về cách sử dụng ngôn từ, cách giao tiếp và đó chính là nguồn vốncần thiết sau này để các em sử dụng khi cần thiết.
Nhưng để các em có thể nắm bắt và ghi nhớ những kiến thức cần thiết ở
các tác phẩm văn học thì người thầy giáo phải là người có kiến thức phong phú
về các tác phẩm văn học Biết cách phân tích các giá trị khác nhau của một tácphẩm văn học và quan trọng hơn hết là người thầy giáo phải truyền được tìnhyêu văn học của bản thân mình cho học sinh Từ tình yêu đó các em sẽ hìnhthành thói quen đọc sách và đọc sách có chọn lọc Thông qua việc đọc các em sẽhiểu được nội dung văn bản và biện pháp nghệ thuật; biết tổng hợp kiến thức và
áp dụng cho bản thân mình
Do đó ở các tiết Tập đọc, học thuộc lòng, kể chuyện có trong chươngtrình mà nhất là những bài có thể loại miêu tả Đối với những tiết học này, bảnthân tôi dạy rất kĩ Ngoài những nội dung cơ bản trọng tâm trong bài, tôi còncung cấp cho HS về cách cảm thụ văn học, nhận thấy cái hay, cái đẹp qua cáchdùng từ, viết câu, sử dụng biện pháp tu từ, cách miêu tả của tác giả Ngay trongcách đọc của học sinh trong các bài tập đọc, học thuộc lòng tôi cũng chú ý nhiềuđễn cách đọc diễn cảm
2.3.2.2 Từ vốn sống thực tế:
Cuộc sống của các em là những chuỗi ngày khám phá và học hỏi khôngngừng thế giới xung quanh Một ngày mới với các em là một cuộc phiêu lưu vàchinh phục mới Do đó muốn dạy các em miêu tả đầu tiên người giáo viên hãydạy các em cách quan sát, cách chiếm lĩnh kiến thức mới mỗi ngày
Ví dụ: Hãy vận dụng vốn sống của các em qua các câu hỏi gợi mở như:
dòng sông lúc sáng sớm và lúc giữa trưa có gì khác nhau? Hoa sẽ như thế nào khi trời nắng gắt? Hoa sẽ như thế nào khi trời mưa?
2.3.2.3 Từ các môn học khác:
Các môn học khác trong chương trình học tập của các em cũng là nguồn cungcấp vốn sống, vốn từ một cách phong phú Ví như môn Tự nhiên - Xã hội, Khoahọc, Lịch sử- Địa lí cung cấp các kiến thức về cuộc sống xung quanh các emnhư các hiện tượng mưa, gió, mây, dòng sông, cánh rừng, con suối, Môn Toángiúp các em ước lượng một cách chính xác Môn Mĩ thuật giúp các em quan sát
tỉ mỉ hơn
Như vậy việc tích lũy kiến thức cho các em là một quá trình lâu dài và đòihỏi không chỉ cần sự nỗ lực của học sinh mà còn cần sự chung tay của giáo viên,
Trang 8phụ huynh và xã hội Hay nói rộng hơn là cần sự quan tâm giúp đỡ của nhàtrường, gia đình tạo cho các em có cơ hội hòa nhập với thiên nhiên, với cácmối quan hệ xã hội Mỗi ngày học một ít, mỗi chỗ biết một ít sẽ làm giàu, rộngthêm kiến thức của các em.
2.3.3 Nắm vững đặc điểm của từng kiểu bài văn miêu tả:
2.3.3.1 Kiểu dạng bài tả cảnh
Xác định không gian, thời gian nhất định: Sau khi xác định thời gian,
không gian nhất định học sinh cần biết lựa chọn trình tự quan sát Việc quan sát
có thể tiến hành ở những vị trí khác nhau nhưng vẫn phải có một vị trí chủ yếulàm cho cảnh được quan sát bộc lộ ra những điều cơ bản nhất của nó Khi đã xácđịnh được vị trí quan sát rồi, ta nên có cái nhìn bao quát toàn cảnh đồng thờiphải biết phân chia cảnh ra thành từng mảng, từng phần để quan sát
Xác định trình tự miêu tả: Khi tả phải xác định một trình tự miêu tả phù
hợp với cảnh được tả Tả từ trên xuống hay từ dưới lên, từ phải sang trái hay từngoài vào trong là tuỳ thuộc đặc điểm của cảnh
Chọn nét tiêu biểu: Chỉ nên chọn nét tiêu biểu nhất của cảnh để tả, tập
trung làm nổi bật đặc điểm đó lên, có thể tả xen hoạt động của người, của vật, trong cảnh để góp phần làm cho cảnh sinh động hơn, đẹp hơn
Tả cảnh gắn với cảm xúc riêng bằng nhiều giác quan: Tả cảnh luôn
luôn gắn với cảm xúc của người viết Cảnh vật mang theo trong nó cuộc sốngriêng với những đặc điểm riêng Con người cảm nhận cảnh như thế nào sẽ đemđến cho cảnh những tình cảm như thế Nhà thơ Lê Anh Xuân, trong niềm vuicủa ngày Tổ quốc hoàn toàn thống nhất, đất nước thoát khỏi ách ngoại xâm,bằng tâm trạng hạnh phúc nhất, ông đã thốt lên:
“Bỗng thấy nội tôi trẻ lại Như thời con gái tuổi đôi mươi.” [2]
Đây chính là phần hồn của cảnh, không có hồn sẽ trơ trọi, thiếu sức sống
Chọn từ ngữ thích hợp khi tả cảnh: Khi làm văn miêu tả cần biết lựa
chọn từ ngữ gợi tả, dùng hình ảnh so sánh hoặc nhân hoá để làm nổi bật đặcđiểm cảnh đang tả giúp người đọc như đang đứng trước cảnh đó và cảm nhậnđược những tình cảm của người viết
Ví dụ: Bài “Chiều tối” của Phạm Đức (Sách Tiếng Việt 5- tập 1- trang
22) các các câu: “Nắng bắt đầu rút lên những chòm cây cao, rồi nhạt dần và như hoà lẫn với ánh sáng trắng nhợt cuối cùng.” [2]
Ta thấy câu văn miêu tả sự chuyển hoá của ánh sáng từ “nhạt dần” rồi
Trang 9khi viết: “Bóng tối như bức màn mỏng, như thứ bụi xốp, mờ đen phủ dần lên mọi vật.” “Một vài tiếng dế gáy sớm, vẻ thăm dò, chờ đợi.” “ Trong im ắng, hương vườn thơm thoảng bắt đầu rón rén bước ra và tung tăng trong ngọn gió nhẹ, nhảy trên cỏ, trườn theo những thân cành.” [2]
Mặt khác, tôi hướng dẫn học sinh sử dụng các giác quan để quan sát.Thông thường các em chỉ dùng thị giác để quan sát nên tôi cần phải định hướngcho học sinh của mình còn có thể dùng nhiều giác quan như thính giác, khứugiác, vị giác, cảm giác
2.3.3.2 Kiểu dạng bài tả người
Khi miêu tả người, yếu tố quan sát lại càng quan trọng Nhìn chung, mọingười đều có những đặc điểm giống nhau nhưng lại hoàn toàn khác nhau ởnhững đặc điểm riêng, chỉ người đó mới có Nhiệm vụ của giáo viên khi hướng
dẫn học sinh “miêu tả người” là giúp cho các em thấy rằng phải miêu tả ngắn
gọn mà chân thực, sinh động về hình ảnh và hoạt động của người mình tả
Ví dụ 1: Đối với dạng văn tả người
- Tả vóc dáng:Cao, lùn, gầy, mảnh mai, bụ bẩm, lụ khụ, yểu điệu…
-Tả khuôn mặt, diện mạo: bầu bỉnh, dám nắng, xanh xao, trái xoan, hốc hác, đần độn, ủ rủ, cau có…
-Tả làn da: Nhăn nheo, xanh như tàu lá chuối,trắng trẻo, chai cứng, mốc thếch, da bánh mật…
-Tả mắt:Đen huyền, đen láy, bồ câu, ti hí, mắt ốc bưu
Ví dụ 2: Bài “Người thợ rèn” (SGK lớp 5- tập 1- trang 123) Tác giả
miêu tả người thợ rèn đang làm việc: “Anh bắt lấy thỏi thép hồng như bắt lấy một con cá sống Dưới những nhát búa hăm hở của anh, con cá lửa ấy vùng vẫy, quằn quại, giãy lên đành đạch.” [2]
Ta thấy tác giả quan sát rất kĩ và miêu tả sinh động làm nổi bật hình ảnhngười thợ rèn như một người chinh phục dũng mãnh và thấy rõ quá trình biếnthỏi thép thành một lưỡi rựa
Vì thế, để làm được bài văn tả người thành công, giáo viên cần giúp họcsinh xác định các yêu cầu sau:
- Chú ý tả ngoại hình hoạt động: Khi tả người cần chú ý đến tuổi tác, mỗi
lứa tuổi khác nhau sẽ có sự phát triển về cơ thể, về tâm lý riêng biệt khác nhau
và có những hành động thể hiện theo giới tính, thói quen sinh hoạt, hoàn cảnhsống… Khi miêu tả cần tập trung vào việc làm sao nêu được cái chung và cáiriêng của con người được miêu tả
- Quan sát trò chuyện trực tiếp: Khi tả người, điều cần nhất là quan sát
trực tiếp hoặc trò chuyện, trao đổi ý kiến với người đó Quan sát khuôn mặt,dáng đi, nghe giọng nói, xem xét cách nói, cử chỉ, thao tác lúc làm việc…để rút
ra nét nổi bật (chọn và quan sát người định tả trong thời gian chuẩn bị bài mới
Trang 10ở nhà) Ta cũng cần dùng cách quan sát gián tiếp là thông qua trí nhớ hoặc nhậnxét của một người khác về người định tả để bổ sung những thông tin cần thiết.
-Tả kết hợp ngoại hình, tính nết, hoạt động: Khi miêu tả có thể tách
riêng từng mặt,từng bộ phận để tả nhưng để nội dung bài văn miêu tả đạt được
sự gắn bó, súc tích ta nên kết hợp tả ngoại hình, tính nết đan xen với tả hoạtđộng
-Tả những nét tiêu biểu bằng tình cảm chân thật của mình: Khi tả
người, điều quan trọng là cần tả chân thật những nét tiêu biểu về người đó,không cần phải tô điểm người mình tả bằng những hình ảnh hoa mĩ, vẽ nên mộthình ảnh toàn diện Làm như vậy bài văn sẽ trở nên khuôn sáo, thiếu sự chânthật làm người đọc cảm thấy khó chịu Thầy cô giáo cần lưu ý học sinh rằng,trong mỗi con người ai cũng có chỗ khiếm khuyết nhưng nét đẹp thì bao giờcũng nhiều hơn ( đẹp về hình thể, đẹp về tính cách, đẹp về tâm hồn….) Nếu họcsinh phát hiện, cảm nhận được và biết tả hết các đặc điểm đó thì sẽ làm cho bàivăn miêu tả của các em sinh động, hồn nhiên đầy cảm xúc và người đọc dễ chấpnhận hơn
Ví dụ 3: Bài “Cô Chấm” (sách Tiếng Việt 5- tập 1- trang 156) nhà văn Đào
Vũ đã viết:
“Chấm không phải là cô con gái đẹp, nhưng là người mà ai đã gặp thì không thể lẫn lộn với bất cứ một người nào khác.” “Chấm cứ như một cây xương rồng Cây xương rồng chặt ngang chặt dọc, chỉ cần cắm nó xuống đất, đất cằn cũng được, nó sẽ sống và sẽ lớn lên Chấm thì cần cơm và lao động để sống ” “Chấm mộc mạc như hòn đất Hòn đất ấy bầu bạn với nắng với mưa để cho cây lúa mọc lên hết vụ này qua vụ khác, hết năm này qua năm khác ” [2]
2.3.4 Làm giàu vốn từ thông qua thực hành các dạng bài tập.
Dạng 1: Hướng dẫn học sinh cách dùng từ:
Trong suốt thời gian học Tiểu học các em luôn luôn được học tập để mởrộng thêm vốn từ của bản thân mình Nhưng việc dùng từ của các em đôi lúcchưa thật hợp lí và thiếu tính chính xác Mà việc dùng từ chính xác, dùng từ saucho hay lại là yêu cầu quan trọng và cấp thiết trong văn miêu tả Để học sinhthực hiện tốt việc dùng từ, tôi đã hướng dẫn các em thực hành dạng bài tập sau:
Đối tượng
Từ ngữ cần dùng
Câu , đoạn văn
Trang 11Tả cảnh
Ngôi trường
Khang trang,
đỏ tươi, đồ
sộ, cao vút, phần phật
Toàn bộ ngôi trường được sơn màu vàng trông thật khang trang, sạch đẹp Mái lợp ngói đỏ tươi Từ cổng vào, ngay chính giữa của ngôi trường đồ
Mẹ có dáng người cao, mảnh mai, đôi mắt tròn đen, mái tóc ngắn Mẹ hiền lành, dịu dàng nhưng rất nghiêm khắc.
Em gái
Tròn bầu bĩnh,tròn xoe, ngơ ngác, hồn nhiên, đậm đen tuyền, cao,to, phúng phính,ửng hồng, rạng rỡ
Em có khuôn mặt tròn bầu bĩnh, đôi mắt tròn xoe như hai hòn bi ve, đôi mắt
ấy luôn ngước nhìn với một vẻ ngơ ngác toát lên sự hồn nhiên, tươi vui của trẻ thơ Điểm vào đó là cặp chân mày đậm đen tuyền Mũi em cao và
to tôi thường dùng tay vuốt cái mũi ấy
để trêu em gái Đôi má phúng phính ửng hồng Cái miệng nhỏ xinh lúc nào cũng nở một nụ cười rạng rỡ để lộ ra mấy chiếc răng đang thay trông thật đáng yêu.
Dạng 2: Hướng dẫn HS dùng cặp từ quan hệ
Các em ở giai đoạn này đã được học và đặt câu với các từ chỉ quan hệ
như: nhưng, mà, tuy, song, và đến lớp 5 các em sẽ được học tiếp các cặp quan hệ từ như: Nếu thì; tuy nhưng; chẳng những mà còn Mà những
câu văn có cặp từ chỉ quan hệ có tác dụng nhấn mạnh ý định nói ở vế sau Vìvậy khi học sinh sử dụng tốt các cặp từ chỉ quan hệ cũng là một cách để các emviết tốt bài văn miêu tả Do đó tôi đã tiến hành cho học sinh thực hành nhiều vớicác dạng bài tập này Hình thức bài tập làm như sau:
- Giáo viên đưa ra câu văn có ý định tả Học sinh dùng từ chỉ quan hệ viếtlại câu văn (có thêm ý định tả) đã cho theo ý mình
Trang 12Câu văn GV đưa ra Câu văn HS hoàn chỉnh
- Dòng sông quê em không rộng.
-Gió giật mạnh, mưa to cây cối
nghiêng ngả trong màn nước trắng
Dạng 3: Hướng dẫn học sinh dùng từ thay thế để liên kết câu
Một lí do khác khiến các em không viết được một bài văn hay nữa là docác em lặp từ quá nhiều trong bài văn, không biết cách dùng các từ thay thế Đểkhắc phục lỗi này ta có thể hướng dẫn các em sử dụng các đại từ khác nhauhoặc dùng các bộ phận song song để liên kết các câu, các ý Và muốn học sinh
sử dụng thành thạo các đại từ thay thế thì người thầy giáo cần hướng dẫn các emthật kĩ ở các tiết dạy Luyện từ và câu và ở các tiết học khác có các đoạn văn có
sử dụng các từ thay thế Với hình thức giáo viên đưa ra đoạn văn, câu văn có từngữ lặp lại cho học sinh thay thế để tránh sự lặp lại đó Người thầy giáo cũng cóthể tổ chức thành trò chơi giữa các nhóm nhầm tăng thêm hứng thú học tập chohọc sinh
Ví dụ: Tả người và tả cảnh:
Câu văn, đoạn văn mẫu
- Chị em có vóc dáng dong dỏng
cao Chị em có mái tóc tơ mịn Chị
em có đôi mắt trong xanh
Câu văn, đoạn văn của học sinh viết
- Chị em có vóc dáng dong dỏng cao Chị có mái tóc tơ mịn luôn cắt ngắn đến bờ vai Đẹp nhất là đôi mắt trong xanh của chị.
-Trường em là trường Tiểu học
Thọ Tân Trường em nằm trên một
khu đất rộng và bằng phẳng giữa
trung tâm xã Trường em mới được
xây cất lại trông thật khang trang.
-Trường em là trường Tiểu học Thọ Tân Trường nằm trên một khu đất rộng và bằng phẳng ở giữa trung tâm xã Mới đây, ngôi trường được xây cất lại trông thật khang trang.
Dạng bài tập 4: Hướng dẫn học sinh cách dùng biện pháp so sánh: