1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(SKKN 2022) Một số giải pháp giúp học sinh hình thành và phát triển năng lực tự học

20 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 1,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤCMỤC LỤC SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HOẰNG HÓA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIÚP HỌC SINH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC Người

Trang 1

MỤC LỤC

MỤC LỤC

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HOẰNG HÓA

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIÚP HỌC SINH HÌNH THÀNH

VÀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC

Người thực hiện: Phạm Thị Huyền

Chức vụ :Giáo viên

Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Hoằng Hợp SKKN thuộc lĩnh vực: Phát triển năng lực

Trang 2

Nội dung Trang

1.4 Phương pháp nghiên cứu 2 1.5 Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm 2

2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm 2 2.1 Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm 2 - 3 2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 3 - 4 2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề 4 - 14 2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục,

với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường 14 -15

Trang 3

1 Mở đầu

1.1 Lí do chọn đề tài

Dạy học được xem là con đường giáo dục cơ bản nhất để thực hiện mục đích của quá trình giáo dục tổng thể Trong đó tự học là phương thức cơ bản để người học có những hệ thống tri thức phong phú và thiết thực cho cuộc sống Trong thời đại khoa học phát triển nhanh chóng như hiện nay, việc bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh khi còn đang ngồi trên ghế nhà trường phổ thông là một công việc có vị tri rất quan trọng, chỉ có tự học, tự bồi đắp tri thức bằng nhiều con đường, nhiều cách thức khác nhau, mỗi học sinh mới có thể bù đắp được những thiếu khuyết về tri thức, về đời sống xã hội Từ đó, có được sự tự tin trong cuộc sống và công việc Ngày nay, trong thời đại khoa học kĩ phát triển nhanh chóng, đứng trước cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, nhà trường dù tốt đến mấy cũng không thể đáp ứng hết nhu cầu học tập của người học cũng như đòi hỏi ngày càng cao của đời sống xã hội, đòi hỏi mỗi con người phải tự học và

có năng lực tự học và sáng tạo Để thực hiện được yêu cầu này, nhà trường phổ thông phải góp phần đắc lực vào việc chuẩn bị nền tảng vững chắc cho sự ra đời những thế hệ nhân tài kiểu mới: Có ý thức, năng lực sáng tạo, vốn tri thức cần thiết cộng với khả năng xử lí thông tin để tiếp thu cái mới Nhưng làm thế nào

để đào tạo những người lao động có năng lực và sáng tạo đáp ứng được nhu cầu phong phú đa dạng trong cuộc sống, chỉ có tự học mới mang lại sự đa dạng kiến thức đáp ứng được yêu cầu của xã hội hiện đại

Vấn đề tự học, tập trung nâng cao chất lượng dạy và học, tạo ra năng lực

tự học, tự sáng tạo của học sinh, phát triển mạnh mẽ phong trào tự học, tự đào tạo thường xuyên và rộng khắp trong toàn dân đã được Đảng, Nhà nước quan tâm quán triệt sâu sắc từ nhiều năm nay Mặt khác, Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể cũng chỉ rõ các nhóm năng lực mà học sinh cần đạt được Trong

đó, năng lực tự chủ và tự học được xem là nhóm năng lực quan trọng nhất đối với học sinh

Nhận thức rõ lí do trên, là giáo viên trực tiếp giảng dạy, tôi đã trăn trở

mạnh dạn đưa ra “Một số giải pháp giúp học sinh hình thành và phát triển

năng lực tự học” Với mong muốn góp phần vào đổi mới phương pháp dạy học,

thực hiện tốt hơn việc dạy học của mình nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện

1.2 Mục đích nghiên cứu

Thông qua việc tìm hiểu về đặc điểm tâm lí của học sinh Tiểu học nói chung, học sinh lớp 5B nói riêng, tìm hiểu và nắm bắt thực trạng việc tự học của học sinh tham gia vào quá trình giáo dục với nhà trường Từ đó, sáng kiến kinh nghiệm hướng tới tìm ra các giải pháp để hình thành và phát triển năng lực tự học cho học sinh, đáp ứng yêu cầu của nền giáo dục hiện nay

1.3 Đối tượng nghiên cứu

Sáng kiến kinh nghiệm về: “Một số giải pháp giúp học sinh hình thành và phát triển năng lực tự học” được áp dụng đối với lớp 5B, Trường Tiểu học Hoằng Hợp

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Trang 4

- Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết:

+ Nghiên cứu chương trình sách giáo khoa bậc Tiểu học

+ Nghiên cứu các tạp chí, các tài liệu đổi mới phương pháp dạy học

- Phương pháp quan sát: Quan sát thông qua việc dự giờ ở các khối lớp, chủ yếu là khối 4,5 và bằng trực tiếp giảng dạy

- Trao đổi tọa đàm: Đưa ra các giải pháp để nâng cao năng lực tự học cho học sinh

- Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế: Trò chuyện trao đổi với giáo viên và học sinh về thuận lợi và khó khăn khi áp dụng dạy - học bằng phương pháp điều tra, khảo sát

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tiến hành dạy thực nghiệm 1 tiết ở lớp 5B, trường Tiểu học Hoằng Hợp

+ Toán: Bài Diện tích hình tam giác (Tiết 86)

- Tổng kết kinh nghiệm trong quá trình dạy học: Tích hợp nội dung, kết quả nghiên cứu thông qua các phương pháp nghiên cứu nói trên để rút ra kinh nghiệm

1.5 Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm

Trong quá trình áp dụng các giải pháp và kinh nghiệm dạy học của mình, tôi nhận thấy giáo viên đã tổ chức các tiết học linh hoạt về hình thức dạy học và phương pháp dạy học, đã chú trọng hình thành và rèn luyện cho học sinh thói quen tự học thông qua việc đưa ra các thắc mắc về bài học và vấn đề khác trong xã hội, tự nhiên Tìm cách giải quyết các thắc mắc khi tự tìm hiểu các kiến thức đã có, qua tài liệu, sách báo, tạp chí, phương tiện thông tin, mạng internet, qua

cô giáo, người lớn, bạn bè Tạo được sự đam mê, hứng thú học tập cho học sinh Đồng thời giúp học sinh khắc phục được sự mệt mỏi, đối phó trong quá hình học tập

2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm

2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm

Tự học ở học sinh tiểu học khác nhiều hơn với các cấp học lên cao hơn

Tự học của học sinh tiểu học xuất phát từ việc học có hướng dẫn của giáo viên

và người lớn Là quá trình giáo viên luôn chú ý theo dõi để hướng dẫn học sinh khi cần thiết hoặc gợi ý để bạn học giúp đỡ lẫn nhau Học sinh nỗ lực hoàn thành nhiệm vụ học tập với việc tự nghiên cứu sách giáo khoa, tài liệu và hướng dẫn của giáo viên, của bạn

Học sinh tiểu học các em chưa có thói quen tự học, tự làm việc với tài liệu, sách giáo khoa, thực tế thói quen tự học phần lớn học sinh chưa được chú trọng Việc phát triển năng lực tự học đã được các văn bản của Đảng, Quốc hội

và ngành giáo dục chỉ đạo sát sao Vì vậy là một giáo viên trực tiếp đứng lớp cần

có trách nhiệm đưa ra các giải pháp để hướng dẫn và từng bước hình thành thói quen tự học cho học sinh góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện của lớp mình

Mặc dù vậy, trong giảng dạy, một số bộ phận giáo viên chỉ quan tâm đến việc truyền đạt kiến thức lí thuyết, không tạo cơ hội cho học sinh được học tập thực sự, do đó những biểu hiện về năng lực tự học của học sinh còn hạn chế

Trang 5

Mặt khác, việc tự học của học sinh từ trước tới nay thường diễn ra theo sự áp đặt

là nhiều Vậy tiếp cận với chương trình GPPT 2018, tôi đã mạnh dạn tìm hiểu và

vận dụng những giải pháp giúp cho học sinh hình thành và phát triển năng

lực tự học và giải quyết vấn đề.

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm

Để thực hiện việc nghiên cứu nhằm tìm ra các giải pháp vận dụng vào quá trình dạy học nhằm hình thành và phát triển năng lực tự học cho học snh đạt hiệu quả cao, tôi đã tiến hành thực nghiệm điều tra khảo sát thực tế học sinh ở lớp 5B vào cuối tuần 4, học kì I năm học 2021-2022 với kết quả như sau:

Tự giác hoàn thành bài làm và các nhiệm vụ học tập

Tham gia các hoạt động một cách tích cực 14/32 43,8% Biết tự kiểm tra đánh giá bài làm của mình và của

bạn bằng cách đối chiếu kết quả với đề bài để kết

luận bài đúng, sai

6/32 18,8%

Tự giác hoàn thành bài tự học ở nhà theo hướng dẫn

và tự giác chuẩn bị bài mới (đồ dùng, đọc bài ) 6/32 18,8%

Có thói quen đọc sách, quan sát hiện tượng sự vật

xung quanh để có ghi chép và thắc mắc 4/32 12,5%

Từ kết quả khảo sát trên cho ta thấy số lượng học sinh có ý thức tự giác hoàn thành các nhiệm vụ học tập chưa cao, đặc biệt thói quen đọc sách và quan sát sự vật hiện tượng xung quanh để có ghi chép và thắc mắc còn rất thấp Không những thế trong quá trình làm bài học sinh mới chủ yếu tập trung tìm ra kết quả chứ chưa có ý thức phân tích, tổng hợp và khái quát hay tìm ra cách giải khác hay diễn đạt bằng lời của mình khi trả lời câu hỏi

Nguyên nhân:

- Nội dung chương trình sách giáo khoa hiện hành thiết kế theo khối

lượng kiến thức cần truyền tải và ít gắn với thực tiễn

- Trong giảng dạy, một bộ phận giáo viên vẫn chỉ quan tâm đến việc truyền đạt kiến thức lí thuyết, không tạo cơ hội cho học sinh được học tập thực

sự Khi dự giờ thăm lớp, điều dễ nhận thấy là giáo viên chưa chú ý quan tâm và tạo cơ hội cho học sinh được trình bày ý kiến mà còn làm thay, làm hộ học sinh nhiều việc Trong học tập hầu như các em còn ít được thực hiện các hoạt động trải nghiệm Một số giáo viên chưa nắm chắc yêu cầu kỹ năng về sự hình thành

và phát triển về năng lực của học sinh tiểu học ở từng độ tuổi, từ đó không đưa

ra được nhận định đúng hoặc lời khuyên phù hợp Và giáo viên chưa quan tâm điều chỉnh quá trình dạy học, phương pháp dạy học để hướng tới dạy học sinh cách học, phương pháp học tập

- Về phụ huynh trước đây coi điểm số là thước đo việc học của con em, nay lại coi trọng về khối lượng kiến thức được học mà không quan tâm cách học

và năng lực học tập như thế nào Mặt khác, công nghệ thông tin ngày càng phát triển cùng với nhu cầu công việc làm ăn nên nhiều phụ huynh phải đi làm ăn xa,

Trang 6

vì vậy việc đồng hành chia sẻ làm bạn cùng con em của họ trong việc học tập,

ôn bài, rất hạn chế, làm cho học sinh càng ngày càng ít tự giác học tập, ôn bài, đã ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả học tập của các em

Như vậy việc dạy học chú trọng phát triển năng lực cho học sinh nói chung, phát triển năng lực tự học và giải quyết vấn đề cho học sinh nói riêng đạt kết quả chưa cao là do có nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau Từ thực trạng trên khiến tôi băn khoăn rất nhiều Mình phải làm thế nào để khơi dậy năng lực tự học cho học sinh, giúp các em có một kiến thức vững vàng

để là hành trang cho các em bước vào các năm học tiếp theo cũng như bước vào cuộc sống một cách vững chắc Để khắc phục những nguyên nhân này đòi hỏi phải có những giải pháp toàn diện và hữu hiệu từ phía giáo viên và học sinh Chính vì vậy tôi đã mạnh dạn áp dụng một số giải pháp sau vào trong quá trình dạy học của mình

2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề

Biện pháp 1 Khơi nguồn sáng tạo và lòng đam mê tự học nơi học sinh.

Biện pháp này chính là chìa khóa, là điểm tựa để tôi vận dụng sáng kiến này một cách có hiệu quả Trong thực tế dạy học, để đông đảo tất cả học sinh tự học bài, tự nghiên cứu bài, chuẩn bị và tìm kiếm thông tin cho bài mới là rất khó, chỉ có một số ít học sinh làm được điều đó Còn nhiều em không tự giác, không biết học gì, sau mỗi buổi học không biết mình đã học được gì Ở đây tôi muốn chúng ta hiểu theo nghĩa rộng: tự học, tự giác ở nhà sẽ có hiệu quả rất lớn bởi chính chủ thể các em tìm hiểu, nghiên cứu, trải nghiệm Thông qua việc tìm kiếm thông tin chuẩn bị bài mới, sự tìm tòi và thắc mắc của các em sẽ khơi nguồn sáng tạo ở mỗi em cũng như lòng đam mê học tập của các em được hình thành và phát triển Nhưng tự học, tự giải quyết vấn đề trên các tiết học, bài học lại đóng vai trò tiên quyết hay nói cách khác là thước đo sản phẩm của học sinh mình

Bởi tự học là một năng lực vô cùng quan trọng của mỗi người Có năng lực tự học, học sinh không chỉ học tốt mà còn chuẩn bị một tâm thế để học suốt đời Vì vậy, ngay từ cấp Tiểu học giáo viên phải trang bị cho học sinh một phương pháp tự học là rất cần thiết Bởi vì hình thành và phát triển năng lực tự học là một nội dung quan trọng của đổi mới phương pháp dạy học trong nhà trường hiện nay Muốn hình thành năng lực tự học cần phát huy tính tích cực của người học và rèn luyện phương pháp học tập cho học sinh, coi đây không chỉ là phương tiện nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là mục tiêu quan trọng của dạy học Khi học sinh có kĩ năng tự học thì thói quen đó sẽ trở thành ý chí và khơi dậy được nội lực ham học vốn có trong mỗi con người Giáo viên không chỉ truyền thụ kiến thức mà còn giúp học sinh có phương pháp tự học Chuẩn bị cho các em học cách để học chứ không phải học cách để làm bài kiểm tra Mọi học sinh đều có năng lực, không em nào giống em nào Công việc của giáo viên là làm sao thấy được năng lực của riêng từng học sinh và tìm cách phát huy hết năng lực đó của các em - đây là chìa khóa khơi gợi niềm đam mê tự học ở học sinh Khi học sinh yêu thích công việc học hành của mình thì rõ ràng giáo viên không cần phải ra sức nhồi nhét kiến thức vào đầu các em Sự nhồi nhét ấy nếu

Trang 7

có, chẳng khác nào như khi ta tiếp tục đổ nước vào cốc nước đã đầy, càng đổ càng tràn ra ngoài mà thôi

Vậy làm thế nào để học sinh đam mê việc học? Vấn đề của giáo viên là tìm ra phương pháp giảng dạy để kích thích học sinh ham học Mỗi một giáo viên phải không ngừng tự học và sáng tạo, trau dồi phẩm chất nhà giáo Đổi mới phương pháp dạy học lấy học sinh và quá trình học tập làm trung tâm của mọi hoạt động giáo dục

Đổi mới quan hệ GV - HS theo hướng cộng tác có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển năng lực tự học (sử dụng sách giáo khoa, nghe, ghi chép tìm kiếm thông tin ) để giải quyết vấn đề gắn với cuộc sống, đồng thời gắn lí thuyết với thực hành, thực tiễn Ngoài ra, giáo viên còn là người bạn để có thể chia sẻ những vui buồn, khó khăn của học sinh, giáo viên là người đồng hành cùng các

em, là người tư vấn, người trọng tài trong các hoạt động học tập của học sinh

Hằng ngày, tôi thường trò chuyện chia sẻ với các em để nắm bắt tâm tư tình cảm và khó khăn của học sinh để giúp đỡ các em kịp thời Bên cạnh đó cũng không ngừng nêu gương khích lệ các em kịp thời

Ví dụ: Những em bố mẹ đi làm ăn xa, ở nhà với ông bà, thiếu sự chăm

sóc đôn đốc, quan tâm của bố mẹ thì tính tự giác ôn bài, chuẩn bị bài hầu như không có Ngoài việc găp gỡ ông bà để tư vấn hướng dẫn việc nhắc nhở các em, tôi còn chia sẻ tâm sự thân tình để giúp các em có trách nhiệm trong nhiệm vụ học hành của mình bằng những câu hỏi như: “Tối về em rất nhớ bố mẹ phải không?”, “Mẹ điện thoại về dặn em những gì?”, “Mẹ có dặn em vâng lời ông bà

và cô để học giỏi không?” Hay học sinh khó khăn trong việc học tập tôi thường khơi gợi để các em nêu lên những vướng mắc của mình như: “Em muốn hỏi cô điều gì trong bài tập này phải không?”, “Ở bài tập này em thấy chỗ nào khó hiểu?” Bằng sự đồng hành chia sẻ với học sinh, các em đã mở lòng tháo gỡ vướng mắc, tự giác học và hỏi nhiều hơn

Muốn học sinh yêu sự học, hãy để kiến thức tự nhiên đến với các em bất

cứ tình huống nào Giáo viên phải biết phối hợp hướng dẫn phụ huynh chia sẻ, gần gũi, trò chuyện với các em mỗi tối về chuyện học hành để các em mở lòng hơn, khoe, kể nhiều hơn về chuyện ở lớp, có như vậy các em sẽ phấn khởi hào hứng khi hoàn thành các nhiệm vụ học tập của mình.`

Giáo viên và cả các bậc phụ huynh chú ý nhiều hơn đến những câu hỏi của trẻ thì sẽ thấy sự ham muốn tìm tòi của các em rất mạnh mẽ ở mọi lúc, mọi nơi Thực ra các câu hỏi đều có giá trị, thông qua câu hỏi chúng ta có thể tìm hiểu trình độ phát triển nhận thức của các em Ví dụ: “Vì sao mặt trăng đi theo em?” cho biết lúc này trẻ đang coi những đồ vật vô tri đều có tình cảm như con người Đây là giai đoạn tất yếu mà các em đều trải qua Mặt khác tinh thần dũng cảm dám đưa ra câu hỏi, tìm hiểu vấn đề của trẻ là rất đáng quý, giá trị không nằm ở bản thân câu hỏi hay đáp án có khoa học hay không Hãy để cho các em

tự do đưa ra những thắc mắc của mình, cũng hi vọng người lớn tôn trọng những đáp án mang tính khám phá của các em, bởi điều này quan trọng hơn gấp vạn lần đem kiến thức khoa học khô khan nhồi nhét vào đầu các em

Trang 8

Giáo viên, phụ huynh biết lắng nghe, tôn trọng và khích lệ các em khám phá, thắc mắc thì các em sẽ đam mê học hỏi, đánh thức được tiềm năng sáng tạo vốn có của mỗi em

Biện pháp 2: Chuyển quá trình dạy học của giáo viên thành quá trình tự học của học sinh

Qua thực tế dạy học và dự giờ thăm lớp của đồng nghiệp, học sinh còn rụt

rè, chưa mạnh dạn tự tin trong học tập như trình bày ý tưởng cách làm hay đặt câu hỏi thắc mắc, chất vấn với bạn mà phần lớn còn phải thụ động tiếp thu theo

sự sắp đặt sẵn nên đã hạn chế năng lực học tập của các em

Vì thế dạy học thông qua tổ chức liên tiếp các hoạt động học tập, từ đó giúp học sinh tự khám phá những điều chưa biết chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức được sắp đặt sẵn Theo tinh thần này, giáo viên không cung cấp, áp đặt kiến thức có sẵn mà là người tổ chức và chỉ đạo học sinh tiến hành các hoạt động học tập như nhớ lại kiến thức cũ, phát hiện kiến thức mới, vận dụng sáng tạo kiến thức đã biết vào các tình huống học tập hoặc tình huống thực tiễn, Giáo viên phải chủ động tạo một “môi trường” mới để học sinh được cọ xát, rèn luyện năng lực độc lập suy nghĩ và sáng tạo của mình Muốn vậy, trong dạy học, giáo viên phải có kĩ thuật đặt câu hỏi như các câu hỏi mở, câu hỏi nêu vấn đề vì loại câu hỏi có nhiều cách trả lời này sẽ “bùng nổ” các cuộc tranh luận trong lớp và đòi hỏi học sinh nào cũng phải huy động trí nhớ và “động não” để tìm ra phương án cụ thể Trong không gian học tập đó, các em sẽ có cách học chủ động và sáng tạo hơn Giáo viên phải tìm mọi cách “bàn giao” nhiệm vụ đến từng học sinh để chuyển thành quá trình dạy học giải quyết vấn đề, trao đổi bàn bạc vấn đề Có như vậy thì năng lực tự học và giải quyết vấn đề của từng học sinh được hình thành dần qua các hoạt động học tập

Ví dụ: Ban học tập điều hành việc ôn bài hay một số hoạt động học tập đã

tạo điều kiện cho học sinh tranh luận và tư duy nhiều hơn, giáo viên chỉ tháo gỡ vướng mắc mà các em gặp phải

Để làm được điều này đòi hỏi mỗi giáo viên phải chịu khó nghiên cứu bài,

có hiểu biết cơ bản về nội dung chương trình của lớp học, cấp học, tích cực bồi dưỡng thường xuyên Mạnh dạn đổi mới cách thiết kế và tổ chức lớp học trong

đó các hoạt động thực hành cần được thực hiện thường xuyên Chuyển quá trình thuyết giảng một cách hình thức, áp đặt của người dạy thành quá trình tự học, tự tìm tòi, khám phá của người học Có làm được như thế thì mỗi giáo viên chúng

ta mới thực sự là những nhà sư phạm làm chủ về năng lực, kiến thức, phương pháp, xử lý một cách linhh hoạt và thành công

Trong quá trình dạy học trên lớp, giáo viên có thể thực hiện theo trình tự: + Giúp học sinh nắm được mục tiêu nhiệm vụ học tập

+ Tự mình giải quyết nhiệm vụ học tập

+ Khi gặp khó khăn mới trao đổi với bạn (khi đó nhóm học tập hình thành một cách tự nhiên theo nhu cầu của chính các em)

+ Các bạn trong nhóm trao đổi bài kiểm tra cho nhau, nói cho nhau kết quả, cách làm của mình

+ Báo cáo kết quả học tập trước lớp cho các bạn và cô giáo

Trang 9

+ Thực hiện nhiệm vụ học tập mới.

Trong khi học sinh học, giáo viên chọn vị trí thích hợp quan sát thái độ,

cử chỉ nét mặt để phát hiện em nào gặp khó khăn, kịp thời có biện pháp giúp đỡ Nếu nhiệm vụ học tập là vấn đề khó với đa số học sinh, giáo viên mới hướng dẫn chung với cả lớp

Ví dụ: Bài Diện tích hình tam giác (Tiết 86) – Toán 5

Để hình thành công thức tính diện tích hình tam giác, GV cho HS tự thao tác trên đồ dùng (2 tấm bìa hình tam giác bằng nhau) với định hướng: cắt và ghép hai hình tam giác đó thành một hình chữ nhật (Hình vẽ)

Cắt một hình tam giác theo đường cao để thành hai mảnh tam giác 1 và 2

Ghép 2 phần vừa cắt vào hình còn lại để được hình chữ nhật

A E B

D H C

Yêu cầu HS nhận xét về chiều dài hình chữ nhật ABCD với độ dài đáy

DC của tam giác EDC, chiều rộng hình chữ nhật với chiều cao EH của tam giác EDC (Chiều dài hình chữ nhật ABCD bằng độ dài đáy DC của hình tam giác EDC, chiều rộng hình chữ nhật bằng chiều cao EH của hình tam giác EDC)

Trang 10

Tiếp tục yêu cầu HS nhận xét về diện tích hình chữ nhật và diện tích hai hình tam giác (Diện tích hình chữ nhật bằng tổng diện tích 2 hình tam giác ban đầu hay diện tích hình chữ nhật gấp 2 lần diện tích hình tam giác EDC)

Mà diện tích hình chữ nhật ABCD = CD x AD = DC x EH

Vậy diện tích tam giác EDC là?

Thông qua một vài hoạt động tự thao tác trên đồ dùng, dưới sự định hướng của GV mà HS có thể nhận biết, khám phá quy tắc và công thức tính diện tích hình tam giác: S =

2

a h (S là diện tích, a là độ dài đáy, h là chiều cao).

Trên đây là vấn đề và tình huống tôi đã định hướng học sinh tìm hiểu và giải quyết tìm cách tính diện tích hình tam giác

Sau khi học sinh tìm ra cách tính diện tích hình tam giác, tiếp theo các em

sẽ vận dụng làm bài tập, củng cố kiến thức thì tôi vận dụng phương pháp luyện tập thực hành Tôi luôn tôn trọng tính độc lập của các em, để cho các em suy nghĩ tìm ra biện pháp thực hành

Như vậy trong một tiết Toán đã sử dụng linh hoạt các phương pháp giải quyết vấn đề, khám phá, phương pháp luyện tập thực hành cùng với sự chuẩn bị

đồ dùng của học sinh nên tiết học đã tổ chức cho học sinh hoạt động tích cực tự giác, các em tiếp thu bài một cách chủ động nhẹ nhàng mà không bị áp đặt ghi nhớ máy móc

Song để mỗi tiết học thực sự trở thành quá trình tự học của học sinh thì giáo viên phải linh hoạt lựa chọn các phương pháp dạy học phù hợp với mỗi bài dạy, môn học vận dụng sáng tạo vào quá trình dạy học để tổ chức cho các em thực hành, tìm hiểu một cách tích cực và hiệu quả, các em mới tự tin và phấn khởi trong học tập

Biện pháp 3: Vận dụng linh hoạt, sáng tạo các phương pháp dạy học

Không có phương pháp dạy học toàn năng phù hợp với mọi mục tiêu và nội dung dạy học Đặc biệt để nâng cao chất lượng dạy học cùng với việc hình thành và phát triển năng lực tự học cho học sinh, người giáo viên phải chọn lựa một cách linh hoạt các phương pháp chung và phương pháp đặc thù môn học, vận dụng linh hoạt, sáng tạo phương pháp lấy học sinh làm trung tâm, các kĩ thuật dạy học tích cực như “động não”, bản đồ tư duy ; đồng thời gắn chặt với các hình thức tổ chức dạy học cùng với việc sử dụng hiệu quả các thiết bị dạy học và đồ dùng dạy học tự làm Tích cực vận dụng công nghệ thông tin vào dạy học Tóm lại, giáo viên cần phải xây dựng giờ học là những bài thực hành qua các hoạt động tự học: chủ động, tự giác và thật sự trở thành trung tâm trong quá trình dạy học Có như vậy các em mới cảm nhận việc học là niềm vui, là hạnh phúc và mỗi ngày đến trương thật sự là một ngày vui

Ví dụ: Môn Khoa học, trong một bài học tôi đã sử dụng phương pháp

quan sát, phương pháp dạy học theo nhóm nhỏ, phương pháp giải quyết vấn đề,

có nhiều bài vận dụng phương pháp bàn tay nặn bột, cùng với các kĩ thuật dạy học tích cực như điều tra thực tế, phân tích tổng hợp, làm thí nghiệm, vẽ sơ đồ

tư duy, đã giúp học sinh phát triển phẩm chất năng lực nói chung và năng lực tự học nói riêng

Ngày đăng: 09/06/2022, 20:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w