Như vậy, trong dạy học Tiếng Việt nói chung và dạy học Tập làm văn ở lớp 5 nói riêng người giáo viên phải sử dụng phươngpháp dạy học tích cực để khơi gợi sự hứng thú cho học sinh khihọc
Trang 1Tiếng Việt là môn học có vị trí quan trọng Bởi Tiếng Việt là công cụ để giao tiếp
và tư duy, là cơ sở để các em học tốt các môn học khác Tiếng Việt có khả năng rất lớntrong việc diễn tả tư tưởng, tình cảm Đặc biệt với bậc tiểu học thì Tiếng Việt là cở sở
để học giỏi các môn khác và học lên bậc học trên
Tôi luôn trăn trở làm sao để đưa ra một phương pháp dạy hiệu quả Đặc biệt làkhi dạy phân môn Tập làm văn - phân môn đòi hỏi học sinh phải biết tổng hợp kiếnthức và kĩ năng của tất cả các phân môn khác trong môn Tiếng Việt Học các tiết Tậplàm văn, học sinh không chỉ phát triển khả năng phân tích, tổng hợp, rèn năng lực tưduy mà các em còn được tiếp cận với vẻ đẹp của con người, của thiên nhiên qua cácđoạn văn điển hình mà qua đó học sinh có dịp hướng tới cái chân, cái thiện, cái mĩ Từ
đó giúp học sinh thêm yêu quê hương, đất nước, yêu con người, yêu cuộc sống xungquanh hơn Chính vì thế mà phân môn Tập làm văn được đánh giá là thước đo nănglực học Tiếng Việt của học sinh
Thực tế khi dạy Tập làm văn học sinh hay gặp khó khăn trong cách quan sát, tìm
ý, dùng từ, đặt câu Kĩ năng vận dụng các biện pháp tu từ để viết cho câu văn hay hơn,sinh động hơn rất hạn chế, … Điều này làm cho một số học sinh chán học văn và cảmthấy Tập làm văn là môn học “khó vào” Đọc bài văn của các em tôi thường gặpnhững bài văn tả cảnh ý nghèo nàn, lời lẽ khô khan, cứng nhắc, thiếu sức thuyết phụcngười đọc Một số bài văn thường bắt chước hoặc sao chép những bài văn mẫu.Giọng văn trong các bài thường “ na ná” giống nhau
Vậy phải làm thế nào để giúp học sinh tháo gỡ những vướng mắc và xóa đinhững mặc cảm ngại học văn của một số em ? Làm thế nào để giúp các các em biếtquan tâm, biết cách cảm nhận thế giới xung quanh đang từng ngày, từng giờ đổi thay?Làm thế nào để các biết cách tạo nên những tác phẩm “ bé con” giá trị?
Chính vì những lí do đó, tôi đã đi sâu vào nghiên cứu nhằm "M"
1.2 Mục đích nghiên cứu
Đưa ra một số biện pháp giúp học sinh lớp 5 yêu thích mônTiếng Việt Từ đó góp phần nâng cao chất lượng dạy học văn tảcảnh cho HS lớp 5
1.3 Đối tượng nghiên cứu
- HS lớp 5
- Các biện pháp dạy học môn Tiếng Việt (phần Tập làm văn)
lớp 5
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện SKKN này chủ yếu tôi đã sử dụng một số phươngpháp sau:
+ Phương pháp quan sát; Phương pháp trải nghiệm
+ Phương pháp nghiên cứu, thu thập tài liệu
+ Phương pháp nghiên cứu sản phẩm
+ Phương pháp tổng kết rút kinh nghiệm
1.5 Thời gian nghiên cứu: Năm học 2021 – 2022.
Trang 22 Nội dung 2.1 Cơ sở lý luận
Tập làm văn có vị trí đặc biệt trong dạy học Tiếng Việt, Tập làmvăn là phân môn thực hành tổng hợp của tất cả các phân mônthuộc môn Tiếng Việt Chính vì thế, dạy và học Tập làm văn là mộtvấn đề tương đối khó ở Tiểu học nói chung và ở lớp 5 nói riêng.Trong tập làm văn, khi dạy và học thể loại văn miêu tả lại càng khókhăn hơn cho cả giáo viên và học sinh Vì văn miêu tả là một thểloại rất đặc biệt
Có nhiều quan niệm về miêu tả, để đi đến thống nhất mộtquan điểm chung là điều không phải dễ dàng Sau đây tôi xin tríchdẫn một số định nghĩa về miêu tả như sau:
Theo từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên định nghĩa:
“Miêu tả là dùng ngôn ngữ hoặc một phương tiện nghệ thuật nào
đó làm cho người khác có thể hình dung được cụ thể sự vật, sựviệc hoặc thế giới nội tâm của con người”
Còn nhà văn Phạm Hổ trong cuốn “Viết văn miêu tả và văn kểchuyện” cho rằng: “Miêu tả là khi đọc những gì chúng ta biết,người đọc như thấy cái đó hiện ra trước mắt mình: một con người,một con vật, một dòng sông, người đọc còn có thể nghe được cảtiếng nói, tiếng kêu, tiếng nước chảy, thậm chí còn ngửi thấy mùihôi, mùi sữa, mùi hương hoa hay mùi rêu, mùi ẩm mốc, nhưng
đó mới chỉ là miêu tả bên ngoài Còn sự miêu tả bên trong nữanghĩa là miêu tả tâm trạng vui, buồn, yêu, ghét của con người,con vật và cả cây cỏ”
Từ sự tổng hợp các ý kiến của các nhà nghiên cứu, các nhàvăn cho chúng ta hiểu miêu tả như sau
Miêu tả là nêu lên các đặc điểm của sự vật, hiện tượng bằngcách làm cho các sự vật, hiện tượng đó hiện lên trực tiếp (tái hiện)trước mắt người đọc (người nghe) một cách cụ thể, sống động, nhưthật khiến cho người ta có thể nhìn, nghe, ngửi, sờ được
Như vậy, trong dạy học Tiếng Việt nói chung và dạy học Tập
làm văn ở lớp 5 nói riêng người giáo viên phải sử dụng phươngpháp dạy học tích cực để khơi gợi sự hứng thú cho học sinh khihọc Tập làm văn nhằm giúp học sinh viết được các bài văn hấpdẫn, sinh động
2.2 Thực trạng của việc dạy học văn tả cảnh ở lớp 5
Trong thực tế khi dạy học văn tả cảnh ở lớp 5, giáo viên đãnắm được mục tiêu nội dung chương trình của tập làm văn lớp 5,
Trang 3bước đầu đã vận dụng tốt các phương pháp dạy học trong quátrình lên lớp, tổ chức được các hoạt động học tập cho học sinh.Học sinh đã tích cực tham gia vào các hoạt động học tập do giáoviên tổ chức.
2.2.1 Nguyên nhân từ phía học sinh
- Học sinh còn nghèo vốn từ, chưa nắm tốt quy tắc sử dụng dấu câu, chưa biết
sử dụng thành phần phụ trong câu, chưa biết sử dụng tốt các biện pháp tu từ để viếtcho câu văn hay hơn, sinh động hơn, …
- Kĩ năng quan sát của học sinh còn hạn chế nên khi tiến hành làm bài các emthường không hoặc chưa xác định đúng được mục đích quan sát dẫn đến quan sátchưa kĩ hoặc chưa sát với đối tượng
- Một số em chưa nắm vững cấu tạo của bài văn tả cảnh Thể hiện ở chỗ các emthường làm bài không theo trình tự bố cục Bài văn của các em thường sắp xếp ý lộnxộn hoặc thiếu ý
2.2.2 Nguyên nhân từ phía giáo viên
Khi dạy Tập làm văn cho học sinh, giáo viên đã bỏ qua một số việc làm quantrọng có tính chất quyết định đến bài làm của học sinh như:
- Xem nhẹ việc hướng dẫn học sinh cách quan sát trước khi làm bài
- Không dành nhiều thời gian cho việc giúp học sinh tìm ý, lập dàn bài
- Giáo viên chưa chú ý đến việc làm giàu vốn từ cho học sinh
- Ít rèn cho học kĩ năng viết câu hay, câu có hình ảnh
- Chưa chú trọng rèn kĩ năng tạo đoạn, liên kết đoạn, chuyển ý
2.3 Một số biện pháp nâng cao hiệu quả khi dạy Tập làm văn phần tả cảnh lớp 5
2.3.1 Làm giàu vốn từ ngữ cho học sinh
Việc tích lũy vốn từ là vô cùng quan trọng Học sinh hiểu thêm được một từ làhiểu thêm được một khái niệm mới Ngôn ngữ có phát triển thì tư duy mới pháttriển Các em học sinh viết câu chưa hay, chưa sâu, chưa có sắc thái biểu cảm là docác em còn nghèo vốn từ Không có nhiều từ thì không thể viết câu hay được Do
đó, giáo viên cần tập trung làm giàu vốn từ cho các em Đây là bước đầu tiên,bước chuẩn bị “nguyên liệu” để rèn các em viết câu
* Làm giàu vốn từ thông qua việc luyện nói
a) Luyện nói theo câu hỏi gợi mở của giáo viên
Ví dụ 1: Em đã từng say sưa ngắm cảnh một đêm trăng đẹp Hãy tả lại cảnh đêmtrăng đó
* Bước 1: Hướng dẫn học sinh tìm những từ ngữ miêu tả trăng: trăng như lưỡi
liềm, trăng tròn vành vạnh, trăng như quả chuối, trăng như con thuyền, trăng như quả bóng, trăng khuất sau rặng tre, trăng lên cao,
* Bước 2: Hướng dẫn học sinh lựa chọn đúng từ ngữ để viết câu văn miêu tả
trăng theo từng thời điểm
Thông qua các câu hỏi gợi mở hướng dẫn các em cách chọn các từ ngữ như sau:
Trang 4- Trăng như lưỡi liềm, trăng như quả chuối, trăng như con thuyền là từ ngữ
miêu tả trăng vào những ngày đầu tháng ( âm lịch)
- Trăng tròn vành vạnh, trăng như quả bóng, trăng tròn như mắt cá là những từ
ngữ miêu tả trăng vào những ngày giữa tháng ( âm lịch)
- Trăng lấp ló sau rặng tre là từ ngữ miêu tả hình ảnh lúc trăng đang lên
Ví dụ 2 : Em hãy tả lại một cơn mưa mà em có dịp quan sát.
Bằng các câu hỏi gợi mở, dẫn dắt giúp học sinh mở rộng vốn từ ngữ tả cơn mưa
và sử dụng các từ ngữ tả cơn mưa sao cho đúng với trọng tâm, phạm vi của đề bài mà
HS đã xác định :
- Cơn mưa em định tả có thể là mưa mùa xuân (mùa hạ, mùa thu, mùa đông).
- Nếu là cơn mưa mùa hạ thì em có thể dùng những từ ngữ để miêu tả như: rào rào, xối xả, mưa như trút nước,
- Khi chọn tả cơn mưa xuân em có thể dùng những từ ngữ: lất phất, nhè nhẹ,
tí tách,
- Trong cơn mưa em thường thấy những sự vật như: những đám mây đen, những cơn gió thổi mạnh, sấm chớp vạch ngang trời,
- Có thể dùng các biện pháp nghệ thuật so sánh, nhân hóa để miêu tả các sự vật
trong cơn mưa bằng các từ ngữ : mưa tinh nghịch, sấm gõ thùng, chớp vạch con đường đỏ, mây gánh nước,
b) Luyện nói theo tranh ảnh hoặc dàn bài cho trước
Ví dụ 1: Tả một cảnh đẹp ở địa phương hoặc cảnh đẹp mà em có dịp quan sát
Để giúp các em luyện nói theo đề bài, giáo viên tổ chức cho học sinh chơi tròchơi "Bức tranh bí ẩn" bằng cách cho xuất hiện lần lượt trên màn hình các bức tranh
vẽ các cảnh đẹp của đất nước như: cảnh biển vào buổi sáng (buổi trưa); cảnh cánhđồng vào mùa gặt, cảnh khu vườn mùa xuân, Sau đó yêu cầu học sinh dựa vào hìnhảnh em thấy trong tranh nói 1 hoặc 2, 3 câu tả lại một vài chi tiết trong bức tranh
Ví dụ 2: Cũng với đề văn "Tả một cảnh đẹp ở địa phương hoặc cảnh đẹp mà em
có dịp quan sát"
Giáo viên yêu cầu học sinh nhóm 4 lập dàn bài theo cảnh mà em chọn Sau đódựa vào dàn bài các em trong nhóm nối tiếp nhau nói thành bài văn hoàn chỉnh Cácnhóm khác nghe và nhận xét, sửa chữa (nếu sai)
* Làm giàu vốn từ thông qua các bài tập có liên quan đến chủ đề của bài văn
Dựa vào các bài học theo từng chủ đề ở sách giáo khoa, đặc biệt là các từ láy, từghép, các từ tượng hình, tượng thanh, các từ chỉ màu sắc rất cần thiết trong văn miêutả…giáo viên đã hướng dẫn các em mở rộng từ thông qua các bài tập cụ thể như:
Đề 1: Tả cảnh cánh đồng lúa quê em vào một thời điểm em cho là đẹp nhất.
Bài tập : Em hãy tìm những từ ngữ tả cây lúa từ khi cấy đến khi gặt
(Đáp án: lúa bén rễ, lúa veo vẻo đuôi gà, lúa úp nơm, lúa con gái, lúa tròn mình,lúa phơi màu, lúa trổ hoa ngâu, lúa đông sữa, lúa sẫm hạt, lúa uốn câu, lúa đỏ đuôi,lúa vàng ươm, )
Đề 2: Tả một cơn mưa mà em có dịp quan sát
Trang 5c) Tìm các từ chỉ mưa ; các câu ca dao tục ngữ nói về mưa
- Từ ngữ: Mưa rào, mưa ngâu, mưa phùn, mưa bụi,
- Thành ngữ, tục ngữ :
“ Chuồn chuồn bay thấp, mưa ngập bờ ao
Chuồn chuồn bay cao, mưa rào lại tạnh”
Các bài tập này giáo viên tổ chức cho học sinh làm thông qua trò chơi như: Ai nhanh, ai đúng, truyền điện, Qua các bài tập như thế các em sẽ cảm thấy tiết học
thực sự thoải mái, các em có điều kiện giao lưu, học hỏi và hơn nữa là tích lũy đượcnhiều từ ngữ làm “vốn” cho việc dùng từ, đặt câu và xây dựng đọan văn, bài văn
2.3.2 Rèn luyện kĩ năng quan sát
Quan sát khi làm bài văn giống như người họa sĩ quan sát mẫu để vẽ Nếu ngườihọa sĩ chỉ chỉ ngồi trong phòng để tưởng tượng cảnh một cánh đồng rồi vẽ thì chắcchắn bức tranh sẽ không thực, không sinh động vì chưa thể hiện đúng màu sắc, âmthanh Trẻ em thường chưa có thói quen quan sát toàn diện nên rất cần sự hướng dẫncủa thầy cô giáo Quan sát đối tượng miêu tả mới chỉ là bước thu thập tài liệu Đểgiúp học sinh có kĩ năng quan sát giáo viên cần hướng dẫn các em theo các bước sau:
* Giúp học sinh có kĩ năng huy động nhiều giác quan khi quan sát
Có những cảnh vật, con người, sự việc diễn ra xung quanh chúng ta tưởng chừngrất quen thuộc, nhưng nếu ta không chú ý quan sát, nhận xét để có cảm xúc và ghinhớ (hoặc ghi chép lại) thì chúng ta sẽ không thể làm giàu thêm vốn hiểu biết về cuộcsống xung quanh Chính vì vậy, tập quan sát thường xuyên bằng nhiều giác quan (mắtthấy, tai nghe, tay sờ, mũi ngửi, da cảm nhận.) là thói quen rất cần thiết của một ngườihọc sinh giỏi
- Quan sát bằng mắt: nhận ra màu sắc, hình khối, sự vật
- Quan sát bằng tai: âm thanh, nhịp điệu, gợi cảm xúc
- Quan sát bằng mũi: những mùi vị tác động đến tình cảm
- Quan sát bằng vị giác và xúc giác: quan sát cảm nhận
Nhờ cách quan sát này mà các em ghi nhận được nhiều ý và bài văn sẽ đa dạngphong phú hơn về nội dung
Ví dụ: Tả cảnh khu vườn vào mùa xuân.
Thông qua những câu hỏi gợi ý, giáo viên cần giúp các em biết cách huy độngtất cả các giác quan để quan sát khu vườn Cụ thể :
- Quan sát bằng mắt em thấy được các sự vật: cây cối đâm chồi nảy lộc, muônhoa khoe sắc, ong bướm bay rập rờn,
Trang 6- Quan sát bằng tai em nghe thấy âm thanh: tiếng gió thổi, tiếng chim hót líu lo,tiếng bầy ong vỗ cánh
- Quan sát bằng mũi (khứu giác) em thấy hương vị như: mùi hoa thơm; mùiquả chín,
- Bằng vị giác em cảm nhận được: hoa nhãn ngọt, hoa bưởi nồng nàn
- Quan sát bằng cảm giác của làn da em cảm nhận được: sự ấm áp, trong lànhcủa mùa xuân
Những điều em quan sát được cần ghi ra giấy nháp và ghi theo trình tự quan sát
để làm bài Công việc đó cũng rèn cho các em thao tác tư duy khi làm bất kì một bàivăn tả cảnh nào
* Giúp học sinh có kĩ năng quan sát theo trình tự của cảnh
Muốn tìm ý cho bài văn, học sinh phải quan sát kỹ, quan sát nhiều lần cảnh đó.Tránh quan sát qua loa như ta nhìn lướt qua hay liếc nhìn nó thì sẽ không tìm ranhững ý hay cho bài văn Học sinh cần xác định rõ vị trí, thời điểm, thời gian, trình tựquan sát
- Học sinh có thể lựa chọn các trình tự quan sát khác nhau :
+ Trình tự không gian: quan sát từ trên xuống dưới hoặc từ dưới lên trên, từ trái
sang phải hay từ ngoài vào trong
+ Trình tự thời gian: quan sát từ sáng đến tối, từ lúc bắt đầu đến lúc kết thúc + Trình tự tâm lý: thấy nét gì nổi bật thu hút bản thân, gây cảm xúc thì quan
sát trước
Như vậy khi học sinh quan sát giáo viên lưu ý học sinh cần quan sát bằng cáccách nêu trên và bất cứ một bài văn tả cảnh nào thì học sinh cũng phải vận dụng quansát theo một trong các cách đó
Ví dụ: Tả lại một cảnh sông nước mà em có dịp quan sát.
Khi hướng dẫn học sinh tả dòng sông, bằng các câu hỏi gợi mở, giáo viên cầngiúp các em xác định trình tự quan sát và chọn các chi tiết đưa vào bài theo trình tựquan sát Cụ thể
* Cách 1: Quan sát theo trình tự thời gian thì các chi tiết cần nói trong bài:
- Những chi tiết tả cảnh sông vào buổi sáng: người qua lại trên bến, thuyền đánhlưới giăng câu, tia nắng đan lên ngọn tre, soi bóng xuống dòng sông
- Chi tiết tả cảnh sông vào buổi trưa: dòng nước sông như tấm gương soi bóngmây trời; chiếc thuyền lá tre bồng bềnh trôi; chú bói cá lông xanh biếc đậu trên ngọntre; lũ trẻ ra sông tắm mát, bơi lội
- Chi tiết tả cảnh sông vào buổi chiều: dòng nước sông nhuốm màu hồng rực,tiếng gõ lanh canh của thuyền cập bến với những mẻ lưới đầy ắp, tiếng lũ trẻ vui đùa
- Chi tiết tả cảnh sông vào buổi tối: mặt sông có ánh trăng lung linh như dát bạc;chúng em ra đê hóng mát,
* Cách 2: Quan sát theo trình tự từng bộ phận của cảnh thì các chi tiết cần nói trong bài là:
- Con sông có đặc điểm nổi bật về hình dáng: sông chảy quanh co, uốn lượn;
Trang 7lòng sông rộng, bên lở, bên bồi,
- Về màu sắc nước sông: nước sông trong xanh (hồng rực, lung linh); hoặc màunước sông đỏ nặng phù sa, ; màu nước sông thay đổi theo thời gian trong ngày
- Quan sát cảnh vật hai bên bờ sông: hàng tre xanh, bãi dâu, bãi ngô, con đê,điếm canh đê, cây đa bên bờ sông,
- Quan sát cảnh trên mặt sông: thuyền ghe đánh cá, bọn trẻ tắm sông, khóm bèolục bình trôi,
- Quan sát hoạt động của con người trên dòng sông: người ra sông gánh nước,giặt giũ; trẻ em nô đùa trên thuyền,
* Cách 3: Quan sát theo trình tự tâm lý:
Nếu quan sát cảnh dòng sông vào những ngày mưa lũ thì điều đầu tiên là hìnhảnh biển nước mênh mông mang màu sắc đỏ ngầu, ngập đến gần ngọn tre ven sông.Tiếp đó là hình ảnh xóm làng ven sông chìm trong biển nước; hình ảnh người chèothuyền chạy lũ,
* Rèn cho học sinh quan sát và chọn lọc những nét đặc trưng của cảnh
Thường là khi quan sát và làm bài văn tả cảnh, học sinh ít chú ý đến đặc điểmnổi bật, nét riêng biệt của đối tượng quan sát Cho nên bài văn của các em thườngnói chung chung Điều đó sẽ làm mất đi cái hay, nét đặc sắc của bài văn Chính vìthế mà khi hướng dẫn học sinh quan sát giáo viên luôn lưu ý các em tìm ra nhữngnét riêng của cảnh tả
Ví dụ: Tả cảnh làng quê em vào một buổi sáng.
Ngoài những hình ảnh nổi bật dễ quan sát về cảnh làng quê như: cây cối, nhàcửa, con người, giáo viên cần giúp học sinh quan sát và nhận ra được nét đặc trưngcủa cảnh thông qua những câu hỏi gợi mở và định hướng cho học sinh :
- Cảnh làng quê em định tả có thể là cảnh làng quê vào mùa xuân (mùa hạ, mùathu, mùa đông)
- Cảnh làng quê ngoài những nét chung thì mỗi mùa sẽ có những nét riêng khácvới các mùa khác Cụ thể :
+ Mùa xuân: muôn hoa đua sắc, cây cối xanh tươi mơn mởn, chim hót líu lo, đànchim én bay liệng trên bầu trời (vì mùa xuân là mùa của chim én),
+ Mùa thu: sương thu mỏng manh, tiết trời mát mẻ, nắng vàng như mật ong,
lá trong vườn xào xạc, mùi hương cốm, hương hoa sữa, hình ảnh chim sẻ tha thẩnnhặt thóc,
+ Mùa hè: tiếng chim cuốc, tiếng ve kêu, nắng gay gắt, cây cỏ um tùm, hoaphượng bắt đầu hé nở, mùi hương sen trong hồ thoang thoảng,
* Rèn cho học sinh cách quan sát đúng trọng tâm và ghi chép có chắt lọc
Muốn cho bài văn của mình được hay và cuốn hút người đọc thì phải biết chọn
ra những chi tiết đặc sắc để đưa vào bài Bài văn của các em đạt kết quả tốt haykhông điều đó phụ thuộc rất nhiều vào việc các em xác định đúng đối tượng quan sát
và biết chọn lọc các chi tiết khi quan sát
Ví dụ: Cho đoạn thơ :
Trang 8“ Chiều kéo theo một mảng trời màu biển : Mây trắng giăng - bao con sóng vỗ bờ.
Diều no gió - những cánh buồm hiển hiện.
Biển trên trời ! Em bé bỗng reo to.”
(Trời chiều- Trần Đăng Khoa)
Đặt mình vào vai bạn nhỏ trong đoạn thơ, em hãy tưởng tượng và miêu tả lại cảnh trời chiều theo ý khổ thơ trên
a) Hướng dẫn học sinh xác định yêu cầu của đề bài:
b) Hướng dẫn cách ghi chép có chắt lọc:
Vì trọng tâm của bài là tả cảnh trời chiều nên cần lưu ý học sinh chỉ quan sát và nói qua các chi tiết khác như: Quần áo của mọi người đi trong ánh nắng chiều cũng chuyển sang màu da cam; cỏ cây hoa lá, tất cả đều nhuốm màu vàng xuộm; Nếu các
em mà nói quá nhiều đến hoạt động của con người vào buổi chiều thì bài văn sẽ nhầmsang tả cảnh sinh hoạt
* Giúp học sinh có kĩ năng tự điều chỉnh kết quả quan sát
Có thể có những em sau khi đọc đề chưa xác định đúng đối tượng quan sáthoặc quan sát chưa theo trình tự, Vì thế giáo viên cần giúp các em tự điều chỉnhkết quả quan sát bằng cách yêu cầu học sinh nêu kết quả của mình (đối tượng quansát, những chi tiết em đã quan sát) rồi học sinh khác nhận xét, giáo viên kết luận lại
và yêu cầu học sinh đối chiếu với kết quả quan sát của bạn để tự điều chỉnh kết quảquan sát của mình
Khi học sinh nhận xét giáo viên thường hướng cho học sinh trả lời các câu hỏi như:
- Bạn quan sát tỉ mỉ chưa ?
- Các ý quan sát bạn đã sắp xếp theo trình tự hợp lý chưa ?
- Bạn quan sát đã có trọng tâm chưa ?
- Cảnh nào được bạn tả chính trong bài ?
- Khi quan sát bạn đã chọn lọc nét tiêu biểu chưa?
Ví dụ: Cho đề văn: “Một góc phố, một hàng cây, một con đường, một dòng sông hay một bến đò quê,…đều đã trở thành hình ảnh quen thuộc, thân thương trong tâm trí em Hãy tả lại một cảnh vật quê hương mà em đặc biệt ấn tượng”.
Trang 9Đây là đề bài thuộc kiểu bài tả cảnh Đối tượng miêu tả là một cảnh vật trên quê hương (hàng cây, con đường, dòng sông, bến đò, góc phố hoặc một cảnh vật khác như: cánh đồng, cây đa, mái đình…) Vì vậy, học sinh cần chọn và tả lại một cảnh vật mà
em gắn bó và có nhiều kỷ niệm Học sinh cần nêu bật được vẻ đẹp nổi bật tiêu biểu, đặc điểm riêng của cảnh định tả
Tuy nhiên không tránh khỏi có những học sinh chọn tả cảnh vịnh Hạ Long mà
em được đến thăm trong một lần bố mẹ cho đi du lịch hoặc có em lại tả cảnh Suối Tiên mà em được xem trên ti vi Chính vì điều đó mà việc kiểm tra kết quả quan sát sẽgiúp học sinh biết nhận xét bài của bạn, bổ sung cho bạn và tự điều chỉnh kết quả quan sát
Tương tự như vậy thì ở các bài văn sau giáo viên luôn chú ý rèn cho học sinh cách nhận xét hoặc bộc lộ suy nghĩ của mình trước bất kì một sự vật, hiện tượng nào
Để bài văn nào học sinh cũng có thói quen bộc lộ cảm xúc trong từng câu từng chữ
Từ đó, bài văn của các em không đơn giản chỉ là sự liệt kê mà nó thấm đẫm các suy nghĩ, cảm xúc của người viết
2.3 3 Rèn cho học sinh kĩ năng xây dựng dàn bài chi tiết
Sau khi nắm chắc yêu cầu của đề bài giáo viên đã hướng dẫn các em không đượcvội vàng viết ngay bài làm, vì như thế ý tưởng sẽ lộn xộn, khó sắp xếp Cần lập một dàn bài chi tiết gồm 3 phần mở bài, thân bài, kết bài Để lập dàn bài cho một bài văn, các em cần đi theo các bước sau:
- Bước 1: Chuẩn bị một tờ giấy nháp trắng, ghi sẵn 3 phần lớn của bài văn: mở
bài, thân bài, kết bài (Viết phần 1 xong để cách khoảng 2-3 dòng rồi mới ghi phần 2; phần 3 ghi xuống cuối tờ nháp, chỉ cần 2-3 dòng là đủ) Các khoảng trắng để ta nhập các ý cần phải có ở mỗi phần vào
- Bước 2: Nhớ lại những đặc điểm về thể loại, nhớ lại đặc điểm dàn bài chung
của thể loại, dựa vào ý chính của đề để lập một dàn bài chi tiết cho bài văn mình chuẩn bị viết
Tuỳ theo thể loại và ý chính của đề, ta tìm ý có liên quan đến đề bài Tìm những
ý chính (sẽ nói rõ ở phần chính) và những ý phụ (sẽ nói sơ qua ở phần phụ) Viết nhanh ra giấy nháp những ý đã tìm hoặc đã suy nghĩ trong đầu Trong dàn bài, ta sắp xếp các ý cho có thứ tự, điều gì đáng nói trước, điều gì nên để sau Tránh những ý nhắc đi nhắc lại
Ví dụ: Em đã từng được say sưa ngắm cảnh một đêm trăng đẹp nơi quê hương
yêu dấu Hãy lập dàn ý và viết đoạn văn tả lại cảnh đêm trăng quê hương khi đó với những cảm xúc của riêng em
Bước 1: Xác định yêu cầu của đề thông qua các câu hỏi:
- Bài văn này thuộc thể loại văn gì ? kiểu bài gì ? (Thể loại văn miêu tả và bộc lộ cảm xúc; kiểu bài tả cảnh)
- Đối tượng miêu tả là gì ? (cảnh đêm trăng mà em có dịp quan sát)
- Phạm vi của đối tượng miêu tả là gì ? (đêm trăng trên quê hương)
Trang 10- Trọng tâm của bài: Nêu bật được vẻ đẹp tiêu biểu của từng cảnh vật (có lựa chọn) trên quê hương trong đêm trăng và cảm xúc của riêng em khi được ngắm cảnh đêm trăng đó
Bước 2: Nhắc lại cấu tạo chung của văn tả cảnh.
Bước 3: Xác định rõ trình tự miêu tả cho đối tượng em chọn: Bài văn của em
định miêu tả theo trình tự thời gian hay trình tự từng bộ phận của cảnh ?
Bước 4: Nhớ lại những chi tiết mà em đã quan sát rồi viết thành dàn ý theo trình
- Cảnh 1: Cảnh bầu trời khi có trăng
+ Những ngôi sao nhấp nhánh như giọt nước mắt in bóng xuống ao tưởng như ở
đó có một bầu trời thứ hai
+ Trăng tròn như một quả bóng mà lũ trẻ đá lên trời
+ Trăng óng ánh cùng những vì sao tinh tú
+ Ánh trăng dìu dịu chiếu sáng khắp nơi
- Cảnh 2: Cảnh mặt đất trong đêm trăng:
+ Những chú ve cùng hoà chung tiếng hát tạo nên một bản nhạc dưới trăng
+ Em như đang ngồi trong một buổi biểu diễn hoà nhạc
+ Ánh trăng lung linh dưới dòng sông
+ Trăng sóng sánh trên vai chị gái
+ Trăng sà xuống như lắng nghe những câu chuyện cổ tích của bà em
+ Các anh đom đóm chăm chỉ lên đèn đi gác đêm
+ Chị cò lặn lội đi ăn đêm
+ Mùi lúa thơm nồng ngoài đồng, mùi ổi chín ngòn ngọt toả ra trong đêm trăng
- Cảnh 3: Âm thanh trong đêm trăng:
+ Tiếng dế uống sương đêm rồi mải miết hát ca
+ Tiếng gió thổi, tiếng trẻ em vui đùa
2.3.4 Rèn luyện kĩ năng viết câu văn hay
Viết câu văn hay là yêu cầu tối thiểu đối với một người học sinh giỏi Muốn viếtđược câu văn hay, ngoài việc dùng từ chính xác, câu văn cần phải có hình ảnh Cóhình ảnh, câu văn sẽ có màu sắc, đường nét, Để câu văn có hình ảnh, các em cần lưu
ý sử dụng các từ ngữ gợi tả, gợi cảm và các biện pháp nghệ thuật như so sánh, nhânhoá, điệp ngữ, đảo ngữ, Các hình thức nghệ thuật này sẽ làm cho câu văn trở nênsinh động hơn rất nhiều
Ví dụ: Em đã có dịp được đi dưới làn sương sớm của mùa xuân (mùa thu, mùa đông) nơi quê hương yêu dấu Hãy viết đoạn văn tả lại cảnh quê hương khi đó với những cảm xúc của riêng em.
Trang 11Giáo viên cần giúp các em biết cách viết câu đúng (câu có đủ thành phần Chủ ngữ, Vị ngữ và diễn đạt một ý trọn vẹn) và câu hay (câu có mở rộng thành phần và biết sử dụng nghệ thuật so sánh, nhân hóa, liên tưởng hay dùng từ tượng thanh, tượng hình) Cụ thể như sau:
- Câu đúng tả hình ảnh sương rơi: sương phủ nhẹ lên mái tóc, lên vai áo, lên gò
má tôi,
- Câu hay tả hình ảnh sương rơi: Nếu tôi bước đi là đám sương mù dạt ra hai bên nhường chỗ Sương vuốt ve gò má tôi như người mẹ hiền vuốt ve đứa con Sương khoác lên sườn núi, sông hồ, bao kín lùm cây, nhà cửa .
(Câu văn này đã được sử dụng biện pháp nghệ thuật so sánh, nhân hoá qua từ
ngữ: dạt ra hai bên đường, nhường chỗ, vuốt ve
- Câu chưa sử dụng nghệ thuật so sánh: Màn sương trắng phủ lên sườn núi
(chưa cụ thể)
Sửa lại: Màn sương trắng như một chiếc khăn bông khổng lồ phủ lên sườn núi (sương trắng được so sánh với chiếc khăn bông).
- Câu chưa gợi âm thanh: Mấy con chim hót trong bụi cây.
- Sửa thành câu gợi âm thanh : Lúc đó, mấy con chim từ trong bụi cây nào đó bay ra nhảy nhót, hót ríu rít làm tan đi khung cảnh âm u khi trời đất đang có sương mù.
- Câu tả mức độ nhiều của sương: Sương mù giăng kín cả đất trời
- Có thể chuyển thành câu đảo ngữ: Giăng kín cả đất trời là sương mù
(Câu đảo ngữ nhấn mạnh mức độ nhiều của sương)
- Câu chưa mở rộng thành phần : Sương mù tan dần, nắng đã lên.
- Câu mở rộng thành phần: Đến khoảng tám giờ sáng, sương tan dần, những tia nắng bắt đầu hiện ra (câu mở rộng thành phần bằng cách thêm trạng ngữ)
Khi rèn kĩ năng viết câu, giáo viên cần lưu ý học sinh: Không phải câu văn nàocũng sử dụng biện pháp nghệ thuật so sánh, nhân hoá, hoặc đảo ngữ vì nếu như thếbài văn sẽ sáo rỗng, người đọc, người nghe cảm thấy nhàm chán
2.3.5 Rèn kĩ năng viết các đoạn trong bài văn
* Rèn kĩ năng viết đoạn mở bài
Mở bài trong bài văn giống như một lời thân ái mời chào của chúng ta đối vớingười khách đến thăm “vườn văn” của mình Lời mời chào ấy phải hấp dẫn, gợi mở,gây được những ấn tượng ban đầu và nêu được ý muốn diễn đạt ở phần thân bài Đặcbiệt đối với học sinh khá giỏi thì việc viết đoạn mở bài làm sao để lôi cuốn người đọc
là một điều vô cùng quan trọng Khi dạy học sinh khá giỏi viết đoạn mở bài, giáo viênthường định hướng cho các em viết mở bài theo kiểu mở rộng (mở bài gián tiếp) Khi
mở bài gián tiếp, giáo viên đã hướng dẫn các em có thể giới thiệu cảnh bằng lời mờigọi du khách để giới thiệu cảnh và bộc lộ cảm xúc của người viết một cách khái quát
Có thể dẫn dắt từ lời thơ, bài hát về cảnh sẽ tả để giới thiệu cảnh Hoặc có thể bộc lộcảm xúc hồi tưởng về cảnh để giới thiệu Nhưng dù là cách mở bài nào thì giáo viên
Trang 12cũng lưu ý học sinh cần nêu đủ ý để đảm bảo ba yêu cầu: Dẫn vào đề, nội dung đề,chuyển ý.
- Ví dụ về mở bài tả cảnh dòng sông quê hương:
"Quê hương ai cũng có một dòng sông bên nhà Con sông quê gắn bó với tuổithơ đời tôi…" Đó là lời một bài hát rất hay! Đúng vậy quê hương em cũng có mộtdòng sông hiền hoà và thơ mộng Mỗi khi nhắc đến con sông quê hương, lòng em lạixốn xang một tình yêu quê hương tha thiết
- Ví dụ về mở bài trong bài văn tả cảnh làng quê vào mùa đông:
“Sáng nay ra trông thấy màu trời có vàng hơn thường khi Tiết trời lành lạnh.Màu lúa chín dưới đồng vàng suộm lại Nắng nhạt ngả màu vàng hoe Trong vườn lắc
lư những quả xoan vàng lịm Từng chiếc lá mít vàng ối Buồng chuối đốm quả chínvàng Bụi mía vàng xọng, đốt ngầu phấn trắng Giáo viên mới biết mùa đông đã vềtrên quê hương giáo viên”
* Rèn kĩ năng viết đoạn thân bài
a) Hướng dẫn cách viết các đoạn trong phần thân bài
Đoạn văn là một bộ phận của bài văn Một bài văn hoàn chỉnh phải có ít nhất 3 đoạn: Mở bài, thân bài và kết bài Phần mở bài và kết bài người ta thường trình bày thành một đoạn Riêng phần thân bài, ta có thể tách thành nhiều đoạn, tuỳ theo từng yêu cầu của đề Đoạn văn gồm nhiều câu văn được liên kết chặt chẽ cả về nội dung vàhình thức (ý và lời) Một bài văn có phần mở bài hay nhưng phần thân bài sáo rỗng, hời hợt thậm chí lạc đề thì chưa thể nói đó là một bài văn Chính vì thế, khi dạy học sinh viết phần thân bài giáo viên đã hướng dẫn học sinh tách phần thân bài thành các
ý lớn theo trình tự miêu tả cho đầy đủ, rồi từ các ý đó, viết thành các đoạn văn hoàn chỉnh Tuỳ vào yêu cầu của đề, các em có thể trình bày phần thân bài thành các đoạn đoạn Mỗi đoạn có thể trình bày khoảng từ từ 3 câu trở lên Tuỳ theo nội dung của từng ý Ý nào trọng tâm thì nên nói kĩ, nói dài hơn Mỗi đoạn phải có câu mở đoạn (câu mở đoạn chính là câu mở đầu nêu ý bao trùm của đoạn) Các câu trong phần thânđoạn làm rõ ý cho câu mở đoạn Câu kết đoạn nêu lên cảm xúc hoặc nhận xét về sự vật mình tả
Ví dụ: Khi giúp học sinh viết đoạn “Tả cảnh cánh đồng lúa quê em vào một
buổi sáng”, giáo viên cần hướng dẫn các em thực hiện các yêu cầu sau:
* Bước 1: Xác định trình tự miêu tả: Lúc sáng sớm - Lúc mặt trời bắt đầu lên -
Lúc mặt trời lên cao
* Bước 2: Xác định ý bao trùm của từng đoạn rồi viết đoạn văn theo ý đã xác định:
+ Đoạn 1 (cảnh 1): Cảnh bao quát cánh đồng vào buổi sáng (cả cánh đồng vẫn còn chìm trong màn sương đêm, không khí trong lành mát rượi, những giọt sương long lanh đọng trên lá, ông mặt trời thức dậy, chim hoạ mi hót líu lo)
“Sáng sớm, trên cánh đồng, không gian thật thoáng đãng, mát mẻ Nhìn từ xa,
cả cánh đồng vẫn còn chìm trong màn sương đêm yên tĩnh Không khí trong lành mát rượi Những giọt sương long lanh đọng trên lá lúa như những viên ngọc nhỏ bé tuyệt đẹp Thỉnh thoảng mới nghe thấy tiếng kêu thảng thốt của một chú vạc đi ăn đêm, lạc
Trang 13đàn gọi bạn Tiếng kêu như xé rách khoảng không yên tĩnh Một làn gió nhẹ thoảng qua, cả cánh đồng xào xạc một âm thanh dịu nhẹ Hương lúa thoang thoảng lan theo trong gió Đằng đông, ông mặt trời thức dậy từ từ nhô lên sau luỹ tre làng Trên ngọn cây cao gần đó, mấy chú chim hoạ mi hót líu lo, đón chào một ngày mới bắt đầu”.
+ Đoạn 2 (cảnh 2): Cảnh chi tiết trên cánh đồng lúc nắng bắt đầu lên: Những ô ruộng, bờ mương, những cây lúa, hình ảnh con người,
“Nắng lên, sương bắt đầu tan Bầu trời mùa thu xanh trong và cao vút Những đám mây trắng xoá tựa như bông, lặng lẽ trôi trên bầu trời rộng mênh mông Toàn bộ cánh đồng được bao phủ bởi một màu vàng xuộm của lúa chín, lác đác một vài ruộng lúa cấy muộn vẫn còn màu xanh Những bông lúa trĩu nặng hạt đều tăm tắp, chắc và mẩy uốn cong mềm mại, ngả vào nhau thì thầm trò chuyện Mỗi khi có gió, những sóng lúa lại nhấp nhô, xô đuổi nhau chạy mãi vào bờ Một mùi hương thơm dịu dàng, thoang thoảng bay xa, hoà lẫn trong không khí làm người ta có cảm giác mát mẻ, dễ chịu lạ thường Từ xa, men theo con đường làng, các bác nông dân đi thăm đồng, vừa
đi vừa trò chuyện ”
+ Đoạn 3 (cảnh 3): Cảnh cánh đồng khi mặt trời đã lên cao
“Mặt trời đã lên cao Nắng cũng đậm dần Người trong làng bắt đầu đi chợ nhộn nhịp trên con đường xuyên qua cánh đồng Các bà, các chị trên vai kĩu kịt gánh
ra chợ nào là những quả mít đầu mùa thơm nức, nào là bó rau ngót non mơn mởn hay những bẹ cải trắng muốt… Không khí tươi vui hoà quyện lại tạo thành một bức tranh làng quê thanh bình, yên ả, sống động và đầy màu sắc”
Sau khi học sinh viết đoạn văn, giáo viên tập cho học sinh thói quen nhận xét bàicủa bạn bằng cách trả lời các câu hỏi sau:
- Đoạn văn của bạn đã đầy đủ bố cục chưa? (có mở đoạn, thân đoạn, kết đoạnchưa?)
- Các câu trong phần thân đoạn đã làm rõ ý cho câu mở đoạn chưa?
- Câu mở đoạn và thân đoạn có lô - gíc về ý không?
- Em hãy chỉ ra câu mở đoạn, phần thân đoạn, câu kết đoạn?
b) Hướng dẫn liên kết đoạn, hoàn chỉnh phần thân bài
* Bước 1: Hướng dẫn cách sắp xếp đoạn văn:
Ví dụ: Khi giúp học sinh viết hoàn chỉnh bài văn tả cảnh dòng nước sông (trong
đề văn miêu tả cảnh sông nước), giáo viên đó hướng dẫn các em sắp xếp lại các đoạntrong phần thân bài theo trình tự như sau:
- Nếu tả theo thứ tự thời gian thì trình tự sắp xếp các đoạn sẽ là:
+ Đoạn 1: Tả đặc điểm nổi bật của dòng sông (về hình dáng, chiều dài, )
+ Đoạn 2: Tả cảnh dòng sông theo từng thời điểm cụ thể
Cảnh 1: Cảnh sông vào buổi sáng
Cảnh 2: Cảnh sông vào buổi trưa (hoặc buổi chiều)
Cảnh 3: Cảnh sông vào buổi tối
- Nếu tả dòng sông theo thứ tự từng bộ phận của cảnh thì trình tự sắp xếp cácđoạn sẽ là: