Tăng cường việc giúp học sinh lớp 5 phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa qua việc thực hiện các dạng bài tập thực hành.. Nhiều năm liền trong quá trình dạy học, tôi nhận thấy học sinh
Trang 1MỤC LỤC
2 3 3
1 1 Lí do chọn đề tài
1.2 Mục đích nghiên cứu
1.3 Đối tượng nghiên cứu
1.4 Phương pháp nghiên cứu
2.2 Thực trạng
2.2.1 Đặc điểm tình hình của nhà trường địa phương
2.2.2 Thực trạng của việc dạy và học từ đồng âm, từ nhiều nghĩa
2.3.3Thực trạng học sinh trong quá trình học từ đồng âm, từ nhiều
nghĩa
2.2.4 Nguyên nhân của những khó khăn
4 4 4 5 5
2.3.Các giải pháp đã sử dụng để giúp học sinh lớp 5 phân biệt từ
đồng âm và từ nhiều nghĩa.
2.3.1 Giúp học sinh lớp 5 phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa
qua việc thực hiện đúng quy trình dạy học
2.3.2 Tổ chức dạy trên lớp có sự lồng ghép, gợi mở kiến thức
2.3.3 Giúp học sinh phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa qua
việc phân loại từ theo cấu tạo
2.3.4 Giúp học sinh lớp 5 phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa
qua định dạng đặc điểm của từ đồng âm và từ nhiều nghĩa
2.3.5 Tăng cường việc giúp học sinh lớp 5 phân biệt từ đồng âm và
từ nhiều nghĩa qua việc thực hiện các dạng bài tập thực hành
2.3.6 Giúp học sinh phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa qua các
buổi học ngoại khóa, buổi 2, các buổi sinh hoạt câu lạc bộ
2.3.7 Tự tích lũy một số trường hợp về từ đồng âm, từ nhiều nghĩa
trong cuộc sống hàng ngày để có thêm vốn từ trong giảng dạy
6 6
10 11 12
12 14 14
2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục
3 KẾT LUẬN- KIẾN NGHỊ
3.1.Kết luận
3.2 Kiến nghị
17 17 18
1 MỞ ĐẦU
Trang 21.1 Lí do chọn đề tài:
Hiện nay, việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc đã và đang thường xuyên được đặt ra và ngày càng cấp bách Những thay đổi trong kinh tế,
xã hội, trong giáo dục dẫn tới những yêu cầu đòi hỏi việc dạy Tiếng Việt nói chung và dạy tiếng mẹ đẻ nói riêng Trong chương trình Tiểu học, môn Tiếng Việt giữ một vị trí đặc biệt quan trọng, bởi vì nó vừa là môn khoa học, vừa là môn công cụ Đây cũng là môn học chiếm thời lượng nhiều nhất
Một trong những nguyên tắc cơ bản của dạy Tiếng Việt là dạy học thông qua giao tiếp Người ta giao tiếp với nhau bằng nhiều phương tiện, nhưng phương tiện thông thường và quan trọng nhất là ngôn ngữ Giao tiếp bằng ngôn ngữ là công cụ chủ yếu để học sinh tiếp cận, rèn luyện và phát triển khả năng sử dụng từ Tiếng Việt Do đó, việc đưa học sinh vào các hoạt động học tập trong giờ Tiếng Việt được giáo viên rất quan tâm, chú ý Trong quá trình dạy học tôi nhận thấy có không ít giáo viên gặp khó khăn khi truyền tải nội dung kiến thức
môn Tiếng Việt cho các em Bởi vì, khi dạy phân môn Luyện từ và câu đa số
giáo viên chỉ bám sát giáo án để thực hiện nội dung Theo tôi làm như thế là chưa đủ và máy móc, chưa giúp cho học sinh nắm vững được nội dung cần đạt Ngôn ngữ Tiếng Việt của chúng ta thực sự có nhiều khía cạnh khó, một trong những nội dung khó đó là phần nghĩa của từ
Trong chương trình môn Tiếng Việt lớp 5, nội dung nghĩa của từ được tập trung biên soạn có hệ thống trong phân môn Luyện từ và câu Nhiều năm liền trong quá trình dạy học, tôi nhận thấy học sinh dễ dàng phân biệt được từ trái
nghĩa và từ đồng nghĩa nhưng sau khi học xong bài “Từ đồng âm”, “Từ nhiều
nghĩa” thì các em bắt đầu có sự nhầm lẫn và khả năng phân biệt từ đồng âm và
từ nhiều nghĩa cũng không được như mong đợi của giáo viên, kể cả học sinh khá, giỏi đôi khi cũng còn nhầm lẫn thiếu chính xác
Nguyên nhân nào dẫn tới những nhầm lẫn đó ? Làm thế nào để giúp học sinh phân biệt chính xác về từ đồng âm và từ nhiều nghĩa ? Trăn trở về vấn đề này, qua nhiều năm dạy lớp 5, bản thân tôi đã cùng đồng nghiệp thảo luận, tìm tòi và thử nghiệm một số giải pháp nhằm giúp học sinh phân biệt từ đồng âm và
từ nhiều nghĩa Vì thế, tôi đã lựa chọn sáng kiến kinh nghiệm: "Một số giải
pháp giúp học sinh lớp 5 phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa ở Trường Tiểu học Thị Trấn ,phường Hải Hòa,Thị xã Nghi Sơn "
Đưa ra vấn đề này, mong được sự trao đổi góp ý của các đồng nghiệp nhằm tháo gỡ những khó khăn cho bản thân khi hướng dẫn học sinh lớp 5 phân
biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa trong phân môn Luyện từ và câu và góp phần
bồi dưỡng cho học sinh biết cách dùng từ đúng, nói, viết thành câu và ý thức sử dụng Tiếng Việt trong giao tiếp phù hợp với các chuẩn mực trong văn hóa nhằm
nâng cao chất lượng dạy - học phân môn Luyện từ và câu nói riêng và đổi mới
phương pháp dạy học hiện nay nói chung
1.2 Mục đích nghiên cứu:
Nhằm nâng cao hiệu quả của việc cung cấp từ ngữ cho học sinh lớp 5 Từ
đó rút ra những kết luận sư phạm ứng dụng vào việc dạy Luyện từ và câu nói riêng và giảng dạy các môn học khác nói chung
Trang 3Cải tiến phương pháp giảng dạy nhằm nâng cao chất lượng học tập phân môn Luyện từ và câu của học sinh
Giúp học sinh rèn luyện kĩ năng phân biệt nghĩa của từ và kĩ năng vận dụng vốn từ vào trong giao tiếp và có vốn từ phong phú hơn
1 3 Đối tượng nghiên cứu:
- Tập trung nghiên cứu “Từ đồng âm” và “Từ nhiều nghĩa” Qua đó
giúp học sinh lớp 5 Trường Tiểu học Thị Trấn phân biệt được từ đồng âm và từ nhiều nghĩa
1 4 Phương pháp nghiên cứu:
- Nghiên cứu các văn kiện, các công văn, văn bản hướng dẫn giảng dạy môn
Tiếng Việt, sách giáo khoa và các tài liệu tham khảo
- Tìm hiểu, khảo sát, thu thập các dữ liệu thực tiễn có liên quan
- Phân tích, tổng hợp, đánh giá thực trạng vấn đề nghiêncứu
2 NỘI DUNG 2.1 Cơ sở lí luận:
Từ đồng âm và từ nhiều nghĩa là một hiện tượng độc đáo của Tiếng Việt, góp phần làm cho Tiếng Việt thêm phong phú, đa dạng, mang đậm nét đặc sắc riêng mà không thể lẫn với một thứ ngôn ngữ nào khác
Từ đồng âm và từ nhiều nghĩa sách giáo khoa Tiếng Việt 5 tập 1 đã nêu khái niệm rất rõ ràng nhưng khi thực hành phân biệt, xác định từ đồng âm và từ nhiều nghĩa trong văn bản cụ thể thì có nhiều trường hợp giáo viên cũng như học sinh vẫn còn nhầm lẫn Để khắc phục vấn đề trên, theo tôi chúng ta cần nắm vững đặc điểm, cấu tạo từ nói chung và cấu tạo từ đồng âm và từ nhiều nghĩa nói riêng trong Tiếng Việt
Chúng ta biết rằng trong Tiếng Việt cũng như các ngôn ngữ khác, từ có
chức năng định danh sự vật Từ Tiếng Việt có đặc điểm là: Tính không lí do và
không biến đổi hình thái.
Cấu tạo của từ gồm 2 mặt đó là nội dung (nghĩa của từ) và hình thức (âm thanh, chữ viết) Các từ khác nhau chính là khác nhau về nội dung và hình thức cấu tạo của từ Tuy nhiên trong thực tế số lượng từ là có hạn trong khi sự vật, hiện tượng lại hết sức đa dạng, phong phú và luôn phát sinh, phát triển cùng với cuộc sống Hiện tượng từ đồng âm và từ nhiều nghĩa chính là cách để giải quyết mâu thuẫn này Cụ thể là:
- Nhiều sự vật, hiện tượng được gọi chung một tên mà không có, không cần bất cứ lý do nào (từ đồng âm)
- Gọi tên các sự vật, hiện tượng mới phát sinh dựa trên các đặc điểm, tính chất của sự vật, hiện tượng đã có trước đó (từ nhiều nghĩa)
Như vậy, hiện tượng từ đồng âm và từ nhiều nghĩa đều có nguyên nhân và
cơ sở khoa học là do Tiếng Việt có đặc điểm là tính không lí do và không biến đổi hình thái
Khái niệm: Từ đồng âm là những từ giống nhau về âm nhưng khác hẳn nhau về nghĩa (Từ đồng âm chỉ giống nhau về hình thức (âm thanh, chữ viết) nhưng khác nhau hoàn toàn về nội dung (nghĩa của từ) Chúng ta không thể xác định được từ nào xuất hiện trước, từ nào xuất hiện sau Còn đối với từ nhiều
Trang 4nghĩa là từ có một nghĩa gốc và một hay một số nghĩa chuyển Các nghĩa của từ nhiều nghĩa bao giờ cũng có mối liên hệ với nhau Từ nhiều nghĩa ngoài việc giống nhau về hình thức (âm thanh, chữ viết) còn có mối liên hệ về nghĩa và ta hoàn toàn có thể xác định được từ gốc (có trước) và các từ phát sinh (có sau)
Do đó, muốn phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa, xét các từ dưới góc độ thời gian ra đời, xuất hiện Nắm vững cơ chế tạo từ mới dựa trên các đặc điểm, tính chất của sự vật, hiện tượng đã có trước đó (từ nhiều nghĩa) Từ nhiều nghĩa không chỉ là những từ cùng từ loại
Tóm lại, việc rèn luyện để mỗi học sinh phân biệt, nhận biết được từ đồng
âm và từ nhiều nghĩa trong phân môn Luyện từ và câu là rất quan trọng Nhưng điểm quan tâm nhất hiện nay về phương pháp giảng dạy, ngoài những phương pháp mà ngành giáo dục quy định thì ít có giáo viên nào tự tìm tòi những phương pháp mới để dạy phân môn Luyện từ và câu một cách sâu sắc nhất phù hợp với học sinh
2.2 Thực trạng:
2.2.1 Đặc điểm tình hình của địa phương, nhà trường Tiểu học Thị Trấn
* Thuận lợi:
- Hải Hòa là một phường thuộc khu trung tâm của Thị xã Đa số
gia đình các em ở gần trường, việc đi lại của các em có nhiều thuận lợi
- Nhà trường có đội ngũ giáo viên giàu kinh nghiệm trong công tác giảng dạy cũng như làm công tác chủ nhiệm lớp
- Ban giám hiệu nhà trường có chuyên môn, nghiệp vụ vững vàng, nhiều kinh nghiệm trong công tác quản lý nên luôn quan tâm sát sao tới công tác dạy
và học ở từng lớp
* Khó khăn:
- Một bộ phân nhỏ phụ huynh làm nghề buôn bán Do vậy, việc quan tâm đến học hành của con cái mình chưa cao
2.2.2 Thực trạng của việc dạy và học từ đồng âm, từ nhiều nghĩa.
Trong quá trình dạy học các bài học này, mỗi giáo viên đều làm đúng vai trò hướng dẫn, tổ chức cho học sinh Tuy nhiên do thời lượng 1 tiết học có hạn nên việc giáo viên lồng ghép liên hệ phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa trong các bài học còn hạn chế Do vậy, sau các bài học đó học sinh chỉ nắm được kiến thức về nội dung học một cách tách bạch Đôi khi giảng dạy nội dung này, giáo viên còn khó khăn khi lấy thêm một số ví dụ cụ thể ngoài sách giáo khoa để minh hoạ phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa
* Từ đồng âm: Từ đồng âm được dạy trong 1 tiết ở tuần 5, các em được
học khái niềm về từ đồng âm Các bài tập về từ đồng âm chủ yếu giúp học sinh phân biệt nghĩa các từ đồng âm, đặt câu phân biệt các từ đồng âm bài luyện tập
về từ đồng âm đã được giảm tải, vì thế thời lượng còn ít
* Từ nhiều nghĩa: Từ nhiều nghĩa được dạy trong 3 tiết ở tuần 7 và tuần
8 Học sinh được học khái niệm về từ nhiều nghĩa Các bài tập chủ yếu là phân biệt các từ mang nghĩa gốc và nghĩa chuyển, đặt câu phân biệt nghĩa, nêu các nét nghĩa khác nhau của một từ Dạng bài tập về phân biệt từ đồng âm, từ nhiều nghĩa không có trong khi đó khả năng tư duy trừu tượng của các em còn hạn chế
Trang 52.2.3 Thực trạng học sinh trong quá trình học từ đồng âm, từ nhiều nghĩa.
Hầu hết học sinh lớp 5 khi học các tiết Luyện từ và câu về từ đồng âm, từ nhiều nghĩa đều gặp rất nhiều khó khăn Cụ thể là:
- Khó khăn trong việc giải nghĩa các từ: Vì vốn từ của học sinh chưa phong phú nên việc giải nghĩa từ đôi lúc còn sai, lúng túng và lủng củng
- Phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa còn mơ hồ, định tính
- Phân biệt nghĩa gốc và một số nghĩa chuyển của học sinh còn sai nhiều
- Đặt câu có sử dụng từ đồng âm, từ nhiều nghĩa chưa chính xác, chưa hay, chưa đúng với nét nghĩa yêu cầu
Xuất phát từ thực trạng trong quá trình dạy của mình và việc học của học sinh Tôi đã tiến hành ra để kiểm tra khảo sát khả năng phân biệt từ đồng âm, từ nhiều nghĩa vào thứ năm tuần 8 năm học 2020 - 2021 như sau:
Bài 1: Dòng nào dưới đây có từ nhiều nghĩa ?
a đàn gà mới nở - hoa nở - nở nụ cuời
b vàng ươm - vàng hoe - vàng tươi
c thơ thẩn - thơ ca - thơ ngây
Bài 2: Cặp từ in nghiêng nào dưới đây có từ đồng âm ?
a vỗ bờ - vỗ tay
b vách đá - đá bóng
c mắt cá - mắt lưới
d lưng núi - đau lưng
Bài 3: Trong các từ in đậm dưới đây, những từ nào có quan hệ đồng âm,
những từ nào có quan hệ nhiều nghĩa với nhau ?
Vàng: - Giá vàng nước ta tăng đột biến.
- Tấm lòng vàng.
- Ông tôi mua một bộ vàng lưới để chuẩn bị cho vụ đánh bắt hải sản.
Kết quả:
3 8,6% 8 22,8% 17 48,6% 7 20% Với kết quả khảo sát như trên thực sự là một vấn đề đáng lo ngại, vì thế tôi luôn trăn trở để tìm ra nguyên nhân của thực trạng trên Sau đây là một số nguyên nhân
2.2.4 Nguyên nhân của những khó khăn:
* Lý do thứ nhất: Từ đồng âm và từ nhiều nghĩa đều có đặc điểm và
hình thức giống nhau, đọc giống nhau, viết cũng giống nhau chỉ khác nhau về ý nghĩa
Ví dụ 1: Từ đồng âm “bàn”(1) trong “cái bàn” và “bàn”(2) trong “bàn công
việc” xét về hình thức ngữ âm thì hoàn toàn giống nhau còn nghĩa thì hoàn toàn
khác nhau: “bàn” (1) là danh từ chỉ một đồ vật có mặt phẳng, chân đứng để đồ đạc hoặc làm việc, “bàn” (2) là động từ chỉ sự trao đổi ý kiến.
Ví dụ 2: Từ nhiều nghĩa: “bàn”(1) trong “cái bàn” và “bàn”(2) trong “bàn phím” Hai từ “bàn” này, về hình thức ngữ âm hoàn toàn giống nhau còn nghĩa
Trang 6thì “bàn” (1) là danh từ chỉ một đồ vật có mặt phẳng, có chân dùng để đi kèm với ghế làm đồ nội thất; “bàn”(2) là bộ phận tập hợp các phím trong một số loại đàn hoặc máy tính “bàn” trong “cái bàn” và “bàn” trong “bàn công việc” đều mang nghĩa gốc, Ví dụ 2 “bàn” trong “cái bàn” mang nghĩa gốc còn “bàn” trong
“bàn phím” mang nghĩa chuyển
* Lý do thứ hai: Trong chương trình Tiếng Việt 5 chưa có dạng bài tập
phối hợp cả hai kiến thức về từ đồng âm và từ nhiều nghĩa để học sinh rèn kĩ năng phân biệt
* Lý do thứ ba: Do vốn từ của học sinh chưa phong phú nên việc phân
biệt nghĩa gốc và nghĩa chuyển của từ nhiều nghĩa còn hạn chế
2 .3 Các giải pháp đã sử dụng để giúp học sinh lớp 5 phân biệt từ đồng âm
và từ nhiều nghĩa
Tôi đã tiến hành hướng dẫn học sinh phân biệt từ nhiều nghĩa, từ đồng âm như sau:
2.3.1 Giúp học sinh lớp 5 phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa qua việc giáo viên thực hiện đúng quy trình dạy học.
Bài học về từ đồng âm và từ nhiều nghĩa là loại bài khái niệm Giáo viên tổ
chức các hình thức dạy học để giải quyết các bài tập ở phần nhận xét, giúp học sinh phân tích ngữ liệu, phát hiện các hiện tượng về từ ở các bài tập Từ đó rút ra được những kiến thức về từ đồng âm và từ nhiều nghĩa Bước tiếp theo giáo viên tổng hợp kiến thức như nội dung phần ghi nhớ (Từ đồng âm - SGK trang 5; Từ nhiều nghĩa – SGK trang 67) Đến đây, cho học sinh khá, giỏi lấy ví dụ về hiện tượng đồng âm, nhiều nghĩa giúp các em hiểu và nắm chắc nội dung bài học Sau đó hướng dẫn học sinh làm bài tập ở phần luyện tập để củng cố và khắc sâu kiến thức
(1).Từ đồng âm:
Ví dụ 1 : - Con kiến đang bò.
- Con bò đang ăn cỏ.
- Bò 1 trong kiến bò chỉ hoạt động di chuyển ở tư thế áp bụng xuống nền
bằng cử động của toàn thân hoặc những cái chân ngắn
- Bò 2 trong trâu bò: chỉ loài động vật nhai lại, có sừng, lông thường có
màu vàng, được nuôi để lấy sức kéo, thịt, sữa
Ví dụ 2:- Đầm 1 trong đầm sen: chỉ khoảng trũng to và sâu giữa đồng để
giữ nước
- Đầm 2 trong bà đầm: chỉ đàn bà, con gái phương Tây.
- Đầm 3 trong cái đầm đất: chỉ vật nặng, có cán dùng để nện đất cho chặt.
- Đây là kiến thức cô đọng, súc tích nhất dành cho học sinh tiểu học ghi nhớ, vận dụng khi làm bài tập, thực hành
- Đối với giáo viên tiểu học, cần chú ý thêm từ đồng âm được nói tới trong sách giáo khoa Tiếng Việt 5 gồm cả từ đồng âm ngẫu nhiên (nghĩa là có 2 hay hơn 2 từ có hình thức ngữ âm ngẫu nhiên giống nhau, trùng nhau nhưng giữa chúng không có mối quan hệ nào, chúng vốn là những từ hoàn toàn khác nhau) như trường hợp “câu” trong “câu cá” và “câu” trong “đoạn văn có 5 câu”
là từ đồng âm ngẫu nhiên và cả từ đồng âm chuyển loại (nghĩa là các từ giống
Trang 7nhau về hình thức ngữ âm nhưng khác nhau về nghĩa, đây là kết quả của hoạt động chuyển hóa từ loại của từ)
- Ví dụ: a) + cuốc (danh từ): Cái cuốc này sắc quá
+ cuốc (động từ): Tôi đang cuốc đất
b) + thịt (danh từ): miếng thịt
+ thịt (động từ): thịt con gà
c) + đá (danh từ): hòn đá
+ đá (động từ): đá bóng
- Từ đồng âm hình thành do nhiều cơ chế: do trùng hợp ngẫu nhiên (gió bay, bọn bay, cái bay), do chuyển nghĩa quá xa mà thành (lắm kẻ vì, vì lý do gì), do
từ vay mượn trùng với từ có sẵn (đầm sen, bà đầm, la mắng, nốt la), do từ rút gọn trùng với từ có sẵn (hụt mất hai ly, cái ly, hai ký, chữ ký ) Trong giao tiếp
cần chú ý đầy đủ đến ngữ cảnh để tránh hiểu sai nghĩa của từ hoặc dùng với nghĩa nước đôi do hiện tượng đồng âm
(2) Từ nhiều nghĩa:
Ví dụ: Chín (1): Gốc: Chỉ quả đã qua một quá trình phát triển, đạt đến độ
phát triển cao nhất, hoàn thiện nhất, độ mềm nhất định, màu sắc đặc trưng
+ Chín (2) : Chỉ quá trình vận động, quá trình rèn luyện từ đó, khi đạt đến
sự phát triển cao nhất (Suy nghĩ chín, tình thế cách mạng đã chín, tài năng đã
chín) (nghĩa chuyển)
+ Chín (3): Sự thay đổi màu sắc nước da ( ngượng chín cả mặt) (nghĩa
chuyển)
+ Chín (4): Trải qua một quá trình đã đạt đến độ mềm (chuối chín)
(nghĩa chuyển)
GV chốt lại: Như vậy, muốn phân tích được nghĩa của từ nhiều nghĩa, trước hết phải miêu tả thật đầy đủ các nét nghĩa của nghĩa gốc để làm cơ sở cho
sự phân tích nghĩa Nghĩa của từ phát triển thường dựa trên hai cơ sở:
+Theo cơ chế ẩn dụ nghĩa của từ thường có bốn dạng sau:
- Dạng 1: Nghĩa của từ phát triển dựa vào sự giống nhau về hình thức
giữa các sự vật, hiện tượng hay nói cách khác là dựa vào các kiểu tương quan về hình dáng
Ví dụ : Mũi1 (mũi người) và Mũi 2 (mũi thuyền); Miệng 1 (miệng xinh) và miệng 2 ( miệng bát, miệng chum,miệng giếng)
- Dạng 2: Nghĩa của từ phát triển trên cơ sở ẩn dụ về cách thức hay chức
năng, của các sự vật, đối tượng
Ví dụ : cắt1 (cắt cỏ) với cắt 2 (cắt quan hệ)
- Dạng 3: Nghĩa của từ phát triển trên cơ sở ẩn dụ kết quả do tác động
của các sự vật đối với con người
Ví dụ : đau1 (đau vết mổ ) và đau 2 (đau lòng )
+ Theo cơ chế hoán dụ có tác dụng
- Dạng1: Nghĩa của từ phát triển trên cơ sở quan hệ giữa bộ phận và toàn thể
Ví dụ : Chân1 , tay 1 , mặt 1 là những tên gọi chỉ bộ phận được chuyển sang chỉ cái toàn thể (Anh ấy có chân2 trong đội bóng Tay2 bảo vệ của nhà máy số ba
có mặt2 trong hội nghị)
Trang 8- Dạng 2: Nghĩa của từ phát triển trên quan hệ giữa vật chứa với cái được chứa
Ví dụ 1: Nhà1 Là công trình xây dựng (Anh trai tôi đang làm nhà.)
Nhà 2 là gia đình ( Cả nhà có mặt đông đủ.)
Ví dụ 2 : Thúng1 : Đồ vật dùng để đựng đan bằng tre hoặc nứa (Cái thúng này đan khéo quá)
Thúng 2: Chỉ đơn vị ( Hai thúng lúa)
-Dạng 4 : Nghĩa của từ phát triển dựa trên nguyên liệu hay công cụ với
sản phẩm được làm ra từ nguyên liệu hay công cụ đó hoặc hành động dùng nguyên liệu hay công cụ đó
Ví dụ: Muối1 : Nguyên liệu (Một ki- lô- gam muối); muối 2 : hành động làm
cho thức ăn chín hoặc lên men (Chị ấy muối dưa ngon lắm)
Chuyển sang phần luyện tập, giáo viên tiếp tục tổ chức các hình thức dạy học để giúp học sinh giải quyết các bài tập phần luyện tập Sau mỗi bài tập giáo viên lại củng cố, khắc sâu kiến thức liên quan đến nội dung bài học
Ví dụ: (Bài tập 1 phần luyện tập– SGK trang 52: Phân biệt nghĩa của
những từ đồng âm trong các cụm từ sau)
a) Cánh đồng – tượng đồng – một nghìn đồng
b) Hòn đá – đá bóng
+ Để học sinh hiểu và làm tốt bài tập này giáo viên có thể sử dụng đồ dùng dạy học, tranh ảnh minh hoạ nhằm giúp học sinh dễ dàng phân biệt nghĩa của từ
Cánh đồng Tượng đồng Một nghìn đồng
Tóm lại khi dạy khái niệm về từ đồng âm và từ nhiều nghĩa, cần thực hiện theo quy trình các bước
Trang 9- Cho học sinh nhận biết ngữ liệu để phát hiện những dấu hiệu bản chất của từ đồng âm và từ nhiều nghĩa
- Từ đó, học sinh rút ra các đặc điểm của từ đồng âm, từ nhiều nghĩa và nêu định nghĩa
- Luyện tập để nắm khái niệm trong ngữ liệu mới
Việc dạy hai bài học trên cũng tuân theo nguyên tắc chung khi dạy luyện
từ và câu đồng thời vận dụng các phương pháp, hình thức dạy học như:
- Phương pháp hỏi đáp - Hình thức học cá nhân
- Phương pháp giảng giải - Thảo luận nhóm
- Phương pháp trực quan - Tổ chức trò chơi
- Phương pháp luyện tập thực hành
* Đối với các tiết dạy luyện tập về từ đồng âm, từ nhiều nghĩa, giáo viên chủ yếu thông qua việc tổ chức các hình thức dạy học để giúp học sinh củng cố, nắm vững kiến thức, nhận diện, đặt câu, xác định đúng nghĩa…
+ Yêu cầu học sinh hiểu và nắm ghi nhớ để vận dụng
Tâm lí học sinh làm những bài tập đơn giản, để lộ kiến thức, ngại học thuộc lòng, ngại viết đoạn văn những bài cần yếu tố tư duy Bởi vậy, tôi thường cho học sinh ngắt ý của phần ghi nhớ cho đọc nối tiếp, rồi ghép lại cho đọc toàn phần, đọc theo nhóm đôi, có lúc thi đua xem ai nhanh nhất, ai đọc tốt Cách làm này tôi đã cho các em thực hiện ở các tiết học trước đó (về từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa) do đó dạy đến từ đồng âm, từ nhiều nghĩa các em đã có theo các bước tổ chức như trước mà thực hiện Kết quả có tới 20/35 học sinh thuộc ghi nhớ một cách trôi chảy tại lớp chỉ còn 3 em có thuộc song còn ấp úng, ngắc ngứ
+ Giúp học sinh hiểu đúng nghĩa của các từ phát âm giống nhau
Điều đặc biệt của từ đồng âm và từ nhiều nghĩa là phát âm giống nhau (nói, viết cũng giống nhau) Ta thấy rõ ràng là “đường”(1) trong “đường rất ngọt”, “đường”(2) trong “đường dây điện thoại” và “đường”(3) trong “ngoài đường xe cộ đi lại nhộn nhịp” đều phát âm, viết giống nhau Vậy mà “đường” (1) với “đường”(2) và “đường”(1) với “đường”(3) lại có quan hệ đồng âm, còn
“đường”(2) với “đường”(3) lại có quan hệ nhiều nghĩa
Để có được kết luận trên đây, trước hết học sinh phải hiểu rõ nghĩa của các từ đường (1), đường (2), đường (3) là gì ?
Đường (1): (đường rất ngọt): chỉ một chất có vị ngọt
Đường (2): (đường dây điện thoại): chỉ dây dẫn, truyền điện thoại phục
vụ cho việc thông tin liên lạc
Đường(3): (ngoài đường, xe cộ đi lại nhộn nhịp) chỉ lối đi cho các
phương tiện, người, động vật
Để có thể giải nghĩa chính xác các từ “đường” như trên, các em phải có vốn từ phong phú, có vốn sống Vì vậy trong dạy học tất cả các môn, giáo viên luôn chú trọng trau dồi, tích lũy vốn từ cho học sinh, nhắc học sinh có ý thức tích lũy cho mình vốn sống và yêu cầu mỗi học sinh phải có được một cuốn từ điển Tiếng Việt biết cách tra từ điển Tiếng Việt đồng thời nắm được một số biện pháp giải nghĩa từ
Tiếp đó học sinh căn cứ vào định nghĩa, khái niệm về từ đồng âm, từ nhiều nghĩa để xác định mối quan hệ giữa các từ “đường”
Trang 10Xét nghĩa của 3 từ “đường” trên ta thấy:
Từ đường(1) và từ đường(2) có nghĩa hoàn toàn khác nhau không liên
quan đến nhau – kết luận hai từ đường này có quan hệ đồng âm
Tương tự như trên từ đường(1) và từ đường(3) cũng có mối quan hệ đồng
âm Từ đường(2) và từ đường(3) có mối quan hệ mật thiết về nghĩa trên cơ sở của từ đường (3) chỉ lối đi, ta suy ra nghĩa của từ đường(2) (truyền đi) theo vệt dài (dây dẫn) Như vậy từ đường (3) là nghĩa gốc, còn từ đường(2) là nghĩa chuyển – kết luận từ đường(2) và từ đường(3) có quan hệ nhiều nghĩa với nhau.
2.3.2 Tổ chức dạy trên lớp có sự lồng ghép, gợi mở kiến thức
Trong chương trình sách giáo khoa, bài dạy về từ nhiều nghĩa được sắp xếp sau bài dạy về từ đồng âm Như vậy để học sinh không nhầm lẫn giữa từ đồng âm với từ nhiều nghĩa thì ngay ở bài dạy về từ đồng âm ngoài ví dụ đúng
về các từ đồng âm giáo viên cho học sinh nhận xét về từ không phải là từ đồng âm
Ví dụ: Từ “đi” trong các trường hợp sau đây có phải hiện tượng đồng âm hay không ?
- Mẹ hay đi bộ vào buổi tối để giảm béo
- Bố mới đi Hà Nội về.
- Hè này, cả nhà em đi du lịch.
- Cụ ốm nặng, đã đi hôm qua rồi.
- Anh đi con mã, tôi đi con tốt.
- Thằng bé đã đến tuổi đi học.
Bài tập này giáo viên chủ yếu yêu cầu học sinh nhận diện từ “đi” trong các câu văn trên là hiện tượng đồng âm hay không phải đồng âm, không yêu cầu các em giải thích và sẽ có hai phương án trả lời: đồng âm/không đồng âm Đến đây giáo viên gợi mở để biết từ “đi” trong các câu văn trên có phải là quan hệ đồng âm hay không, các em về nhà suy nghĩ tìm hiểu SGK các tiết luyện từ và câu sau cô sẽ giúp các em tìm câu giải đáp
Để không mất nhiều thời gian tiết học cho nội dung trên, giáo viên viết sẵn nội dung câu hỏi gợi mở ra bảng phụ và tiến hành cho học sinh lấy ví dụ về
từ đồng âm để khẳng định lại ghi nhớ Lúc đó tự các em sẽ có một sự so sánh giữa các ví dụ về từ đồng âm với ví dụ trên đây, đồng thời giáo viên kích thích được tư duy của học sinh Trước khi kết thúc tiết học, giáo viên cũng không quên nhắc học sinh về nhà tiếp tục suy nghĩ trả lời giải thích về hiện tượng từ
“đi” trong các câu văn đã cho
Trong bài dạy “từ nhiều nghĩa” giáo viên tổ chức cho học sinh lấy thêm ví
dụ về từ nhiều nghĩa để củng cố khắc sâu kiến thức, sau đó quay lại lấy một ví
dụ về từ đồng âm để nhận định và so sánh và phân biệt về từ đồng âm và từ nhiều nghĩa
Ví dụ: từ “chỉ ” trong các trường hợp sau là từ đồng âm hay nhiều nghĩa?
Vì sao ?
Cái kim sợi chỉ – chiếu chỉ – chỉ đường – một chỉ vàng Ở câu hỏi này, giáo viên yêu cầu học sinh giải thích lí do lựa chọn để khẳng định kiến thức và khả năng nhận diện, phân biệt từ đồng âm với từ nhiều nghĩa Sau khi học sinh trả lời giáo viên chốt lại từ “chỉ” trong các trường hợp trên có quan hệ đồng âm