Với việc tiếp cận chương trình GDPT -2018 trong dạy học lịch sử theo định hướng phát triển năng lực sử dụng linh hoạt các phương pháp và kĩ thuật dạy học nhằm nâng cao chất lượng giáo dụ
Trang 11 Mở đầu:
1.1 Lí do chọn đề tài:
Phân môn Lịch sử ở cấp Tiểu học hình thành, phát triển ở học sinh (HS)
năng lực lịch sử với các thành phần: nhận thức khoa học lịch sử; tìm hiểu lịch
sử; vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học; đồng thời góp phần hình thành và phát
triển các năng lực chung như: tự chủ và tự học, giao tiếp và hợp tác, giải quyết
vấn đề và sáng tạo Lịch sử còn giúp HS khám phá thế giới tự nhiên và xã hội
xung quanh; bồi dưỡng lòng tự hào dân tộc, tình yêu thiên nhiên, quê hương, đất
nước; ý thức bảo vệ thiên nhiên, giữ gìn và phát triển các giá trị văn hoá Việt
Nam; tôn trọng sự khác biệt về văn hoá giữa các quốc gia và dân tộc, từ đó góp
phần hình thành và phát triển các phẩm chất yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung
thực, trách nhiệm
Cuộc cách mạng khoa học công nghệ, đặc biệt là cách mạng công nghiệp
4.0 đã làm cho tri thức mà loài người tích lũy được ngày càng nhiều Vai trò của
người thầy trong dạy học có sự thay đổi Giáo viên (GV) từ người truyền thụ
kiến thức theo cách truyền thống sang người tổ chức, hướng dẫn, điều khiển
hoạt động nhận thức của HS GV phải định hướng vào công nghệ, có trách
nhiệm không phải chỉ với việc dạy của bản thân, mà còn cả với việc học của HS
Do đó, trong dạy học, GV là người thiết kế các hoạt động và giao nhiệm vụ học
tập cho HS, tổ chức HS làm việc Đồng thời, GV cũng là người hướng dẫn, huấn
luyện HS quan sát, phân tích, tổng hợp thông tin để chiếm lĩnh kiến thức Mặt
khác, GV còn phải là người tư vấn, cố vấn cho HS biết lựa chọn, phân biệt giá
trị của nguồn thông tin, là trọng tài phán xử đúng, sai trước những ý kiến của
các em Chỉ có như vậy GV mới giúp HS hình thành được kiến thức, rèn kĩ
năng, định hướng thái độ đúng để từng bước hình thành, phát triển các năng lực
chung, năng lực môn học và bồi dưỡng phẩm chất, đạo đức cho các em
Nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học luôn là một trong những vấn đề
quan trọng của tất cả GV đứng lớp Dạy như thế nào, học như thế nào để đạt
được hiệu quả học tập tốt nhất là điều mong muốn của tất cả thầy cô giáo chúng
ta Muốn thế phải đổi mới phương pháp, biện pháp dạy và học Người GV phải
tổ chức một cách linh hoạt các hoạt động của học sinh từ khâu đầu tiên đến khâu
kết thúc giờ học, từ cách ổn định lớp, củng cố kiến thức cũ đến cách học bài
mới, củng cố, dặn dò Những hoạt động đó giúp HS tái hiện các sự kiện, hiện
tượng, nhân vật lịch sử nhằm lĩnh hội kiến thức, bản chất lịch sử một cách tự
giác, chủ động, tích cực, sáng tạo và ngày càng yêu thích, say mê môn học Đặc
biệt trong quá trình dạy học hiện nay từng bước đổi mới theo định hướng phát
triển năng lực nhằm phát triển năng lực người học Hơn thế nữa trong dạy học
lịch sử hiện nay nhiều GV còn coi nhẹ việc dạy học lịch sử theo định hướng
phát triển năng lực Vậy làm thế nào để nâng cao chất lượng trong dạy học phân
môn Lịch sử trong chương trình giáo dục phổ thông (GDPT) nói chung và ở bậc
Tiểu học nói riêng? Đây là câu hỏi mà ngành giáo dục nói riêng và cả xã hội nói
chung đang trăn trở tìm câu lời giải cho bài toán thực tế Để góp phần vào việc
đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) theo định hướng phát triển năng lực cho
HS nói chung, dạy học lịch sử nói riêng, bản thân là Phó Hiệu trưởng phụ trách
chuyên môn trong nhà trường, và vinh dự được tiếp thu chuyên đề dạy học Lịch
Trang 2sử theo chương trình GDPT mới 2018 tại Bộ Giáo dục tháng 10 năm 2019, là
báo cáo viên của Sở Giáo dục triển khai nội dung chuyên đề cho tất cả các đơn
vị phòng Giáo dục trên địa bàn toàn tỉnh Với việc tiếp cận chương trình GDPT
-2018 trong dạy học lịch sử theo định hướng phát triển năng lực sử dụng linh
hoạt các phương pháp và kĩ thuật dạy học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục
phân môn Lịch sử trong trường phổ thông nói chung và trường Tiểu học Nguyễn
Văn Trỗi nói riêng là rất cần thiết Vì vậy, tôi đã tiếp tục nghiên cứu và đưa ra
kinh nghiệm: “Giải pháp chỉ đạo GV lập kế hoạch bài dạy theo chủ điểm
trong việc dạy học phân môn Lịch sử ở Tiểu học theo định hướng phát triển
năng lực HS” với hi vọng hỗ trợ GV trong việc đổi mới phương pháp, hình thức
dạy học
1.2 Mục đích nghiên cứu:
Giúp cán bộ, GV, HS tiếp cận chương trình GDPT – 2018 cho việc dạy
học chương trình hiện hành, vận dụng PPDH theo định hướng phát triển năng
lực HS nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới PPDH nâng cao chất lượng dạy học phân
môn Lịch sử nói riêng và các bộ môn khoa học khác nói chung, khắc phục tình
trạng dạy học theo kiểu áp đặt, giáo điều, GV đọc cho HS chép những kiến thức
có sẵn
Hiểu được yêu cầu cần đạt về các phẩm chất chủ yếu và năng lực chung
môn Lịch sử cấp tiểu học góp phần hình thành, phát triển ở HS các phẩm chất
chủ yếu và năng lực chung theo các mức độ phù hợp với môn học, cấp học đã
được quy định tại Chương trình tổng thể Đặc biệt hiểu được yêu cầu cần đạt về
năng lực đặc thù phân môn Lịch sử, biểu hiện đặc thù của năng lực khoa học với
các thành phần: nhận thức khoa học lịch sử; tìm hiểu lịch sử; vận dụng kiến
thức, kĩ năng đã học
Góp phần nâng cao chất lượng giáo dục phân môn Lịch sử cho HS trường
Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi, HS trên địa bàn thành phố và trên toàn tỉnh
1.3 Đối tượng nghiên cứu:
- Chương trình GDPT – 2018 và chương trình giáo dục hiện hành phân
môn Lịch sử
- PPDH theo định hướng phát triển năng lực HS
1.4 Phương pháp nghiên cứu:
Để giải quyết vấn đề, tôi đã sử dụng những phương pháp nghiên
cứu sau:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về những vấn đề liên quan đến đề tài của
những nhà khoa học giáo dục lịch sử ở nước ta
- Nghiên cứu lý luận các quan điểm xây dựng chương trình GDPT
mới 2018
- Tiến hành thực nghiệm về các biện pháp có liên quan đến đề tài
- Đề tài được viết dựa trên các phương pháp nghiên cứu thực tiễn: phương
pháp quan sát, so sánh, điều tra, thống kê, phân tích tổng hợp
2 Nội dung
2.1 Cơ sở lí luận:
Nghị quyết 29- NQTW của Ban chấp hành Trung ương khóa XI về đổi mới
căn bản, toàn diện về Giáo dục và đào tạo (GD&ĐT), tiếp tục khẳng định mục
Trang 3tiêu tổng quát: Tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ chất lượng, hiệu quả
GD&ĐT; đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và
nhu cầu học tập của nhân dân Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn
diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu gia
đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bảo; sống tốt và làm việc hiệu quả Xây dựng nền
giáo dục mở, thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt, quản lý tốt, có cơ cấu và
phương thức giáo dục hợp lý, gắn với xây dựng xã hội học tập
Chương trình GDPT hiện hành được ban hành trong quá trình triển khai
Nghị quyết số 40/2000/QH ngày 9/12/2000 của Quốc hội Từ đó đến nay,
chương trình đã góp phần quan trọng tạo nên nhiều thành tựu của GD&ĐT trong
nhiều năm qua
Bước sang thế kỉ XXI, GD&ĐT được đặt ở vị trí trung tâm trong chiến
lược phát triển đất nước của nhiều quốc gia Việc đổi mới GD&ĐT để đáp ứng
yêu cầu của nguồn nhân lực là điều cần thiết Ở Việt Nam, Hội nghị lần thứ VIII
BCH trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (khóa XI) thông qua Nghị quyết số
29- NQ/TW về đổi mới căn bản và toàn diện GD&ĐT, trong đó có quan điểm
“Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển
toàn diện năng lực và phẩm chất người học” Tiếp đó, Quốc hội ra Nghị quyết số
88/2014/QH13 về đổi mới chương trình, sách giáo khoa GDPT Ngày
26-12-2018, Bộ GD&ĐT ban hành chương trình GDPT bao gồm: chương trình tổng
thể, chương trình môn học và hoạt động giáo dục Chương trình và sách giáo
khoa mới sẽ từng bước được triển khai từ năm học 2020-2021 trở đi Trong bối
cảnh giao thời, đan xen giữa 2 chương trình (2006) và (2018), cần thiết phải
thực hiện chương trình hiện hành theo định hướng phát triển năng lực HS ngay
từ năm học này, thực hiện liên tục, không chờ đợi sách giáo khoa mới
Dạy học theo hướng phát triển năng lực đòi hỏi HS trên cơ sở nắm vững
kiến thức, kĩ năng học tập, biết vận dụng những kiến thức, kĩ năng ấy vào thực
hành, thực tế Điều này đáp ứng tinh thần nguyên lý giáo dục của Đảng: Học đi
đôi với hành, lí luận gắn liền với thực tiễn, nhà trường gắn liền với xã hội Vì
vậy, có thể nói, dạy học theo hướng phát triển năng lực HS là một biện pháp
thực hiện nguyên lí giáo dục của Đảng Như vậy, công cuộc xây dựng, bảo vệ
đất nước trong bối cảnh hiện nay yêu cầu phải đào tạo con người Việt Nam phát
triển toàn diện, trong đó phẩm chất và năng lực công dân là những yếu tố không
thể thiếu
2.2 Cơ sở thực tế:
Đổi mới PPDH là xu thế của thời đại, là trào lưu chung của loài người, là
mệnh lệnh của công cuộc xây dựng đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa,
hiện đại hóa, là sự đòi hỏi của sự đáp ứng yêu cầu về đào tạo nguồn nhân lực
trong điều kiện thị trường lao động đầy cạnh tranh của con em chúng ta, chứ
không phải là ý muốn chủ quan của một người hoặc một nhóm người nào đó
Trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi là ngôi trường có truyền thống “Dạy tốt
-học tốt”, có đội ngũ cán bộ quản lý giàu năng lực, có tập thể Ban Giám hiệu
đoàn kết đồng lòng, đội ngũ GV nhiệt tình công tác, trình độ chuyên môn vững
vàng, có nhiều GV- HS giỏi cấp Quốc gia, cấp Tỉnh, cấp Thành phố Nhà trường
luôn có sự chỉ đạo chuyên môn sát sao của ngành Trong những năm qua, phân
Trang 4môn lịch sử đã đổi mới nhiều trong các khâu cơ bản của quá trình dạy học Bài
học Lịch sử diễn ra sinh động, hấp dẫn, không khí học tập sôi nổi, hứng thú, HS
tích cực làm việc một cách độc lập, có phần sáng tạo Nhiều GV có năng lực tổ
chức quá trình học tập theo quan niệm sư phạm hiện đại, vận dụng các phương
pháp mới đạt hiệu quả, bên cạnh những cách dạy học truyền thống; có nhận thức
đúng đắn về đổi mới PPDH Đặc biệt, một số GV đã vận dụng nhiều PPDH một
cách linh hoạt có hiệu quả góp phần quan trọng vào việc rèn luyện năng lực tích
cực, độc lập suy nghĩ trong việc giải quyết vấn đề nhằm phát triển tư duy cho
HS trong quá trình học tập; giúp HS nắm vững, hiểu sâu sắc, đầy đủ hơn hệ
thống kiến thức của môn học, rèn luyện cho HS kĩ năng tư duy, lô-gic…Bồi
dưỡng tư tưởng, tình cảm, đạo đức nói chung, tinh thần chuyên cần trong lao
động học tập, thái độ vượt khó nói riêng Năm học 2014-2015, Bộ GD&ĐT tạo
triển khai việc đổi mới trong dạy học và kiểm tra đánh giá nhằm phát triển năng
lực của HS Bên cạnh việc cải tiến các PPDH truyền thống, kết hợp đa dạng các
PPDH thì việc vận dụng PPDH theo định hướng phát triển năng lực HS đang
được Bộ GD&ĐT đưa vào trong chương trình GDPT mới – 2018 Do chương
trình mới chưa có sách giáo khoa nên việc tiếp cận chương trình mới này còn
gặp nhiều khó khăn đối với GV GV hầu hết chưa có thói quen đọc chương trình
GDPT tổng thể, đọc kỹ các phần chung trước về quan điểm xây dựng chương
trình, về mục tiêu và mạch cấu trúc chương trình Một số ít GV chưa thực sự
thay đổi hoàn toàn PPDH cho phù hợp với từng tiết dạy, chưa tích cực hoá hoạt
động của HS tạo điều kiện cho các em suy nghĩ, chiếm lĩnh và nắm vững kiến
thức Do đó nhiều HS chưa nắm vững được kiến thức mà chỉ học thuộc một
cách máy móc, trả lời câu hỏi thì nhìn vào sách giáo khoa hoàn toàn, chưa có sự
độc lập tư duy Một số GV chưa đưa được các hình thức để rèn năng lực tái hiện
các sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử trong việc truyền thụ tri thức lịch sử
Cho nên việc ghi nhớ để tái hiện các sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử gặp
không ít khó khăn Mặt khác, HS thường dành thời lượng cho môn Toán, Tiếng
Việt, Tiếng Anh nhiều Khi học Lịch sử các em hay rụt rè chưa tích cực phát
biểu xây dựng bài, thường chỉ một vài em tích cực từ đầu năm đến cuối năm
luôn luôn phát biểu, còn có em ngại nói, ít tư duy, phần lớn HS ngại học lịch sử,
không thích học lịch sử Hầu hết các em coi phân môn Lịch sử là môn phụ
không cần học, nếu học theo kiểu ghi nhớ máy móc HS học lịch sử một cách
thụ động, chỉ biết ghi chép như một cái máy, học thuộc như một cái máy Tại
sao HS lại không yêu thích với phân môn Lịch sử, giờ học Lịch sử? Phải chăng
là do phía người dạy hay sách giáo khoa Vì sao phải vận dụng các PPDH Lịch
sử theo hướng phát triển năng lực?
Từ thực trạng nói trên, việc tổ chức cho GV-HS tiếp cận chương trình
GDPT mới trong việc dạy và học phân môn Lịch sử theo hướng phát triển năng
lực là vô cùng cần thiết
2.3 Các giải pháp chỉ đạo GV tiếp cận chương trình GDPT–2018
trong việc dạy học lịch sử ở Tiểu học theo định hướng phát triển năng
lực HS.
Để giải quyết những khó khăn trên bản thân là cán bộ quản lý, là báo cáo
viên môn Lịch sử do Sở Giáo dục và Đào tạo Thanh Hóa điều động đã mạnh dạn
Trang 5đưa ra một số giải pháp giúp GV tiếp cận chương trình GDPT mới môn Lịch sử
và vận dụng các PPDH theo định hướng phát triển năng lực như sau:
Giải pháp 1: Giúp cho cán bộ, GV hiểu về chương trình GDPT mới –
2018 với các nội dung sau:
Là cán bộ quản lý tôi luôn chỉ đạo GV cần tăng cường công tác tự học, tự
bồi dưỡng để nâng cao năng lực chuyên môn, sáng tạo trong quá trình dạy học,
tìm tòi ra cái mới, cái hay cũng như tồn tại qua kinh nghiệm dạy học
Đôn đốc, nhắc nhở GV phải nghiên cứu và nắm chắc chương trình hiện
hành và cập nhật chương trình giáo dục phổ thông mới-2018 phân môn Lịch sử
Cần lựa chọn các nội dung cơ bản, thiết thực tinh giản song mang tính tích
hợp trong từng bài, từng chủ đề, vận dụng phù hợp theo khả năng, điều kiện của
địa phương và của đối tượng HS để thiết kế kế hoạch bài học
* Chỉ đạo GV tìm hiểu kiến thức Lịch sử với việc giáo dục thế hệ trẻ.
Mục tiêu giáo dục của Lịch sử ở trường tiểu học là trang bị cho HS những
kiến thức cơ bản, cần thiết, tiêu biểu về lịch sử dân tộc Qua đó góp phần phát
triển ở HS các năng lực chung, năng lực môn học và giáo dục lòng yêu quê
hương, đất nước, truyền thống dân tộc cho các em… Từ mục tiêu chung, nội
dung giáo dục lịch sử ở tiểu học phải thực hiện những yêu cầu cụ thể:
- Thứ nhất, bồi dưỡng kiến thức (hình thành kiến thức): Đó là những kiến
thức cơ bản, tối ưu, cần thiết cho việc hiểu biết khái quát của HS về lịch sử dân
tộc Bao gồm các sự kiện, hiện tượng, nhân vật tiểu biểu tương đối có hệ thống
theo dòng thời gian của lịch sử Việt Nam từ buổi đầu dựng nước cho đến nay
Bồi dưỡng kiến thức là khâu quan trọng đầu tiên trong dạy học lịch sử Bởi vì,
kiến thức chính là cơ sở rèn luyện kĩ năng, định hướng thái độ để qua đó góp
phần hình thành, phát triển các năng lực và phẩm chất
Trang 6- Thứ hai, hình thành, phát triển kĩ năng học tập lịch sử: Xuất phát từ đặc
điểm của kiến thức lịch sử và quá trình nhận thức lịch sử của HS, trong dạy học
ở tiểu học cần bước đầu hình thành và phát triển ở HS những kĩ năng học tập
phù hợp như tri giác tài liệu, đồ dùng trực quan, hình dung tưởng tượng, nhớ, sử
dụng sách giáo khoa và các tài liệu tham khảo, tự học và vận dụng kiến thức
Hình thành và phát triển các kĩ năng học tập bộ môn có tầm quan trọng đặc biệt
Đây là một biểu hiện, một điều kiện cần thiết, một yếu tố trong tổ hợp các yếu tố
tạo nên năng lực học tập
- Thứ ba, hình thành thái độ: Các nhà Tâm lý khi phân tích cấu trúc của
nhân cách cho rằng: “thái độ là trạng thái tâm lí biểu hiện phản ánh tâm lí ưa
thích hay ghét bỏ đối với sự kiện (xã hội), con người, vật thể dựa trên cơ sở
nhận thức, tình cảm, thang giá trị dẫn đến ứng xử” Trong học tập lịch sử, thái
độ của HS được thể hiện ở xúc cảm, phản ứng tự nhiên đối với các sự kiện, hiện
tượng, nhân vật lịch sử như hồi hộp, xúc động, cảm giác ngạc nhiên, đồng tình
hay phản đối, vui mừng hay đau khổ, khâm phục ngưỡng mộ hay căm ghét…;
tinh thần thái độ học tập đúng đắn như kiên trì, vượt khó, chuyên cần…Định
hướng thái độ cho HS trong dạy học Lịch sử có vai trò đặc biệt quan trọng Nếu
không khơi dậy trong trái tim HS thái độ xúc cảm lịch sử, thì khó có thể giáo
dục các em những tư tưởng, tình cảm, đạo đức đúng đắn, vì vậy, định hướng thái
độ là cơ sở để bồi dưỡng cho người học những phẩm chất đạo đức đúng đắn
Trên cơ sở thực hiện ba yêu cầu cụ thể trên, dạy học Lịch sử ở trường tiểu
học góp phần từng bước hình thành, phát triển cho HS các năng lực chung, năng
lực bộ môn và những phẩm chất đạo đức Như vậy, hình thành kiến thức, phát
triển kĩ năng và định hướng thái độ là những mục tiêu cụ thể phải đạt được Còn
năng lực và phẩm chất là mục đích phải hướng tới của quá trình dạy học Lịch sử
ở trường phổ thông nói chung, tiểu học nói riêng
* Giúp GV hiểu về vai trò, ý nghĩa của việc dạy học theo hướng phát
triển năng lực HS
- Bối cảnh thế giới hiện nay đặt ra cho giáo dục một vai trò mới, là động
lực phát triển kinh tế thông qua nguồn đào tạo nhân lực Giáo dục đang trở thành
lực lượng sản xuất trực tiếp Vì vậy, bước sang thế kỉ XXI, giáo dục được đặt ở
vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển đất nước của hầu hết các quốc gia
trên thế giới Chiến lược phát triên của các quốc gia rất đa dạng, tùy theo điều
kiên, hoàn cảnh từng nước Song mục tiêu hướng tới của các nền giáo dục là
phải đào tạo thế hệ trẻ có bốn trụ cột mà UNESCO nêu ra: “Học để biết, học để
làm, học để chung sống và học để khẳng định mình” Giáo dục Việt Nam không
thể đi ngoài xu thế chung Đào tạo những con người phát triển toàn diện, trong
đó hình thành, phát triên năng lực và bồi dưỡng các phẩm chất đạo đức đúng
đắn là rất cần thiết Dạy học theo hướng phát triển năng lực người học sẽ góp
phần đắc lực vào thực hiện mục tiêu giáo dục đặt ra
- Dạy học theo hướng phát triển năng lực HS góp phần thực hiện đổi mới
giáo dục nói chung, PPDH nói riêng Đứng trước yêu cầu phát triển kinh tế hiện
nay, các nước trên thế giới tiến hành đổi mới giáo dục từ mô hình nhà trường
khép kín sang mô hình “mở”, tăng cường đối thoại với xã hội, dạy học gắn bó
chặt chẽ với nghiên cứu khoa học - công nghệ và ứng dụng Trong dạy học, GV
Trang 7phải đổi mới PPDH, từ chỗ cung cấp kiến thức sang hướng dẫn HS phương pháp
phân tích, tổng hợp thông tin sáng tạo để chiếm lĩnh lấy kiến thức; tức là chuyển
từ mô hình dạy học lấy “GV làm trung tâm” sang mô hình dạy học “lấy trò làm
trung tâm” Thực chất của việc “lấy HS làm trung tâm” là phát huy tính tự giác,
tích cực chủ động nhận thức của người học Muốn thực hiện được phải chuyển
từ dạy học tiếp cận nội dung sang dạy học theo hướng tiếp cận năng lực Như
vậy, có thể nói, đổi mới là phương thức để phát triển năng lực HS, phát triển
năng lực là cái đích hướng tới của việc đổi mới Dạy học theo hướng phát triển
năng lực góp phần tích cực vào đổi mới giáo dục nói chung, PPDH nói riêng
Nhận thức rõ vai trò của môn Lịch sử trong giáo dục phổ thông: Môn Lịch
sử có vai trò quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu chung Học Lịch sử không
chỉ giúp cho HS hiểu biết quá khứ, nhận thức được hiện tại mà còn hành động
đúng trong tương lai Bởi vì “Lịch sử là thầy dạy của cuộc sống” Lịch sử lấy
kinh nghiệm của quá khứ, bài học sự thành công hay thất bại, về cái tốt, cái xấu
vì sự tiến bộ hay lạc hậu… của lịch sử để giáo dục HS Do đó học tập lịch sử là
vô cùng cần thiết đối với thế hệ trẻ
Giải pháp 2: Giúp CBGV hiểu về nội dung và các biểu hiện năng lực của
phân môn Lịch sử ở Tiểu học
Chỉ đạo GV đọc các tài liệu về chương trình GDPT tổng thể, cập nhật học
kiến thức, phương pháp mới theo chuyên đề các cấp tổ chức, tham khảo các bộ
sách đã được Bộ Giáo dục thẩm định (sách điện tử), tài liệu tham khảo để có
những định hướng trong cách dạy đối với khối lớp mình giảng dạy
Mặc dù chưa có sách giáo khoa mới, song dạy học Lịch sử ở trường tiểu
học cần phải theo hướng phát triển năng lực HS Muốn vậy, GV phải nắm vững
nội dung, biểu hiện của các năng lực mà chương trình mới đưa ra để vận dụng
Theo chương trình mới, dạy học Lịch sử ở tiểu học theo hướng phát
triển năng lực HS, trước hết phải góp phần hình thành và phát triển các năng
lực chung
- Năng lực tự chủ và tự học
Về mục tiêu học tập Ghi nhớ được nhiệm vụ, yêu cầu cần đạt do GV đưa ra
để thực hiện
Về kế hoạch học tập Biết tự lập thời gian biểu hàng ngày
Thực hiện kế hoạch - Tự làm theo thời gian biểu hàng ngày
- Tự vận dụng các cách học theo hướng dẫn và giải quyết các nhiệm vụ, yêu cầu của GV
Đánh giá và điều
chỉnh cách học
- Biết nhận ra sai sót và tự sửa chữa sai sót trong bài làm qua nhận xét của GV
- Mạnh dạn hỏi thầy, cô và người khác khi chưa hiểu bài
- Năng lực giao tiếp và hợp tác
Về giao tiếp - Sử dụng trôi chảy Tiếng Việt
- Nhận ra được mục đích của giao tiếp
- Tập trung chú ý khi giao tiếp
Trang 8- Diễn đạt rõ ràng ý kiến của mình khi giao tiếp
Về hợp tác
- Thích sự trao đổi, giúp đỡ nhau trong học tập
- Biết làm việc theo nhóm, biết được trách nhiệm của mình trong nhóm
- Biết chia sẻ suy nghĩ với bạn
- Biết lắng nghe ý kiến của bạn, của thầy cô
- Tự tin khi đưa ra ý kiến của mình
- Biết cùng các bạn xây dựng ý tưởng trong việc giải quyết nhiệm vụ học tập và báo cáo sản phẩm của nhóm
- Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo
- Biết tìm kiếm thông tin để giải quyết vấn đề
- Bước đầu biết phân tích, tổng hợp, so sánh thông tin
- Biết đưa ra ý kiến nhận xét, đánh giá
Các năng lực đặc thù cần hình thành và phát triển trong dạy học Lịch
sử
- Năng lực nhận thức lịch sử
Tri giác tài liệu sự
kiện, hình dung,
tưởng tượng, nhớ (tái
hiện lịch sử)
- Nêu tên, kể về các nhân vật lịch sử quan trọng
- Trình bày, mô tả được các sự kiện, hiện tượng lịch sử quan trọng đã diễn ra
Tư duy lịch sử Nhận xét, giải thích được kết quả của các sự kiện, hiện tượng lịch sử
Ví dụ, để từng bước hình thành cho HS năng lực nhận thức lịch sử,khi dạy
các bài học về “Nước Đại Việt buổi đầu thời Hậu Lê” (thế kỉ XV), trước hết HS
tái hiện được sự kiện, hiện tượng lịch sử tức là thông qua hoạt động tri giác tài
liệu học tập, hình dung tưởng tượng, nhớ, các em sẽ nêu được tên, kể lại những
nét đơn giản về Lê Lợi - người lãnh đạo khởi nghĩa Lam Sơn; mô tả được những
nét chính chiến tháng Chi Lăng và nêu được kết quả của chiến thắng; mô tả
được những nét chính về cách tổ chức quản lý đất nước thời Hậu Lê, nêu tên, nét
chính của bộ luật Hồng Đức; mô tả được những nét chính về tổ chức quản lý
giáo dục thời Hậu Lê, nêu tên và kể đơn giản về thành tựu văn học, khoa học
thời Hậu Lê, nêu tên và đóng góp của Nguyễn Trãi và Lê Thành Tông
Sau đó, HS sử dụng hoạt động tư duy ở mức độ đơn giản để nhận xét kế
sách đánh giặc của quân dân ta dưới sự lãnh đạo của Lê Lợi; nhận xét tổ chức
quản lý đất nước thời Hậu Lê, thành tựu giáo dục, văn hóa khoa học thời Hậu
Lê, giải thích kết quả của chiến thắng Chi Lăng, kết quả chính sách giáo dục của
Trang 9nhà Hậu Lê, Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông là những nhà văn hóa tiêu biểu cho
giai đoạn này
- Năng lực tìm tòi khám phá lịch sử- tìm hiểu lịch sử
Nêu được ý kiến phân tích, so sánh, đánh giá đơn giản
về sự kiện, hiện tượng lịch sử
Ví dụ: Để từng bước hình thành cho HS năng lực tìm tòi, khám phá lịch sử,
khi dạy bài 25 “Quang Trung đại phá quân Thanh” năm 1789 (lớp 4), GV hướng
dẫn HS phát hiện vấn đề lịch sử, thông qua thắc mắc: Những chi tiết nào trong
bài thể hiện quyết tâm đánh giặc và tài nghệ quân sự của Quang Trung trong
cuộc đại phá quân Thanh? Dựa vào hướng dẫn của GV, HS thu thập thông tin để
giải quyết HS quan sát, tra cứu lược đồ trong sách giáo khoa, nội dung phần
chữ viết trong sách giáo khoa, ghi lại những ý chính để trình bày ý kiến của
mình trong thảo luận Thông qua trao đổi thảo luận, HS sẽ thấy rõ quyết tâm
đánh giặc và tài nghệ quân sự của Quang Trung thể hiện ở một số chi tiết: Hành
quân bộ từ Huế ra Bắc, tiến quân trong dịp Tết, cách đánh ở trận Ngọc Hồi,
Đống Đa…Cuối cùng, GV hướng dẫn HS rút ra kết luận, đánh giá: quyết tâm
đánh giặc của Quang Trung và quân sĩ thể hiện ở tinh thần vượt khó khăn vất vả
hành quân bộ vào dịp Tết Lợi dụng dịp Tết, quân giặc chủ quan, ông đã vận
dụng cách đánh linh hoạt, sáng tạo khi tấn công đồn Ngọc Hồi, Đống Đa thể
hiện tài quân sự của Quang Trung Làm như vậy, GV dần dần hình thành năng
lực tìm tòi, khám phá lịch sử
- Năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học
cũ hiểu kiến thức mới
- Tái hiện kiến thức cũ
- So sánh với kiến thức mới
- Rút kết luận (ở mức đơn giản)
-Vận dụng kiến thức
thực tế vào cuộc sống
- Rút kinh nghiệm, bài học của sự kiện, hiện tượnglịch sử ở mức đơn giản
- Sưu tầm tranh ảnh, tài liệu về sự kiện lịch sử
- Đề xuất được ý tưởng và thực hiện được một số hành động bảo vệ di tích lịch sử, văn hoá,
Trình bày quan điêm
của bản thân về vấn
đề lịch sử
- Nêu được ý kiến cá nhân khi đánh giá một sự kiện, hiện tượng lịch sử ở mức đơn giản
Trang 10Ví dụ: Sau khi học xong bài 11 “Nhà Trần thành lập” (lớp 4), GV hướng
dẫn HS về nhà điền vào sơ đồ thể hiện tổ chức bộ máy nhà nước thời Trần Để
làm bài tập, HS phải vận dụng những kiến thức đã học để điền vào sơ đồ Việc
làm này giúp HS củng cố, khắc sâu kiến thức đã học, đồng thời từng bước rèn
luyện cho các em biết vận dụng kiến thức vào thực hành bộ môn
Hoặc qua việc hướng dẫn HS lập bảng so sánh đơn giản về vị trí, địa thế
vùng đất Hoa Lư và Đại La, HS được tập dượt vận dụng kiến thức cũ để hiểu
kiến thức mới, thấy được lợi thế của vùng đất Đại La Hoặc, khi dạy học bài 6
“Quyết chí ra đi tìm đường cứu nước” (lớp 5), trên cơ sở biết lí do vì yêu
nước, thương dân, Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước và những chi
tiết thể hiện ý chí quyết tâm của Bác, HS sẽ rút ra cho bản thân bài học về sự
quyết tâm trong học tập dưới sự hướng dẫn của GV… Mặt khác, qua bài học
các em nhận thức được vì sao bến cảng Nhà Rồng được công nhận là di tích
lịch sử, HS sẽ thấy rõ trách nhiệm của thế hệ trẻ trong việc bảo tồn, gìn giữ
Những việc này sẽ góp phần rèn luyện cho HS năng lực vận dụng kiến thức
vào thực tiễn cuộc sống
Khai thác triệt để kiến thức cơ bản trong chương trình, sách giáo khoa hiện
hành để hình thành, phát triển năng lực học sinh: nhận biết được các sự kiện,
hiện tượng, nhân vật lịch sử tiêu biểu theo hệ thống theo dòng thời gian của lịch
sử Việt Nam từ buổi đầu dựng nước cho tới nay Để thực hiện việc dạy học theo
hướng phát triển năng lực HS, GV phải nắm vững nội dung cơ bản đã nêu trong
sách giáo khoa và khai thác triệt để những kiến thức đó thông qua các PPDH,
cách thức tổ chức HS
Giải pháp 3: Giúp CBGV hiểu về cấu trúc các mạch nội dung kiến thức
và những yêu cầu đối với GV khi dạy học Lịch sử ở tiểu học theo định hướng
phát triển phẩm chất, năng lực
- Cấu trúc mạch nội dung kiến thức mang tính tích hợp cao, trước hết là
tích hợp giữa kiến thức lịch sử và kiến thức địa lí Mỗi mạch nội dung cụ thể đều
bao gồm những mạch nội dung nhỏ hơn, và mỗi mạch nội dung nhỏ này chứa
đựng phần lớn hoặc kiến thức lịch sử, hoặc kiến thức địa lí, hoặc kiến thức văn
hóa - xã hội Ví dụ, mạch nội dung “Miền núi và trung du Bắc Bộ” bao gồm các
mạch nội dung về địa lí, về lịch sử và về văn hóa: Thiên nhiên; Dân cư và một
số nét văn hóa; Đền Hùng và giỗ Tổ Hùng Vương; Chiến khu - căn cứ địa Việt
Bắc Đây là một đặc điểm khác biệt so với việc phân ra hai phần khá riêng
biệt là phần Lịch sử và phần Địa lí như trong thiết kế của Chương trình
2006
- Tính tích hợp cao trong cách thiết kế các mạch nội dung kiến thức còn
được thể hiện rất rõ trong “hệ thống” yêu cầu cần đạt đối với mỗi mạch nội dung
nhỏ Có thể, các mạch nội dung này thiên về nội dung kiến thức lịch sử, hay
kiến thức địa lí, hoặc kiến thức về văn hóa, nhưng các yêu cầu cần đạt của mạch
nội dung đó lại là một sự tổng hợp các yêu cầu về kiến thức liên môn/ đa môn/
liên ngành Ví dụ, yêu cầu cần đạt đối với mạch nội dung nhỏ “Thăng Long - Hà
Nội” (trong mạch nội dung “Đồng bằng Bắc Bộ”) đề cập tới một yêu cầu mang
tính “tổng hợp”, chỉ xét riêng về yếu tố kiến thức Yêu cầu cần đạt của mạch nội
dung này bao gồm: Sử dụng bản đồ/lược đồ xác định được vị trí của Thăng
Trang 11Long Hà Nội; phân tích được một số khó khăn và thuận lợi của Thăng Long
-Hà Nội qua lược trích một đoạn trong Chiếu dời đô của Lý Công Uẩn; nêu được
một số tên gọi khác của Thăng Long - Hà Nội; trình bày được những nét khái
quát về lịch sử - văn hoá của Thăng Long - Hà Nội trong quá khứ và hiện tại
thông qua một số di tích, công trình tiêu biểu; thể hiện được cảm xúc, có ý thức
giữ gìn và phát huy truyền thống văn hoá của Thăng Long - Hà Nội
- Ví dụ rõ nhất là mạch nội dung “Tìm hiểu thế giới” mạch nội dung này
được cấu tạo bởi 03 mạch nội dung nhỏ hơn giúp cho HS tiểu học có một cái
nhìn khái quát nhất, cơ bản nhất và rất phù hợp lứa tuổi các em Đó là những
mạch kiến thức nhỏ: Các châu lục và đại dương thế giới, Dân số và các chủng
tộc trên thế giới, Một số nền văn minh nổi tiếng thế giới…
* Một số điểm khác biệt về nội dung kiến thức và thiết kế cấu trúc mạch
nội dung giữa Chương trình năm 2018 và Chương trình năm 2006
+ Lớp 4:
Nội dung Lịch sử của Chương trình 2006 được trình bày ở mức độ đơn giản,
nhưng thể hiện phần nào tính hệ thống của sự kiện lịch sử và tiến trình lịch sử
Nội dung lịch sử của Chương trình 2018 được trình bày trong sự lồng ghép,
tích hợp với nội dung địa lí, văn hóa Sự kiện lịch sử không tŕnh bày theo tiến
tŕnh mà được trình bày với ý nghĩa là sự kiện tiêu biểu của vùng, miền
+ Lớp 5:
Cấu trúc CT 2006 là trình bày theo tiến trình lịch sử, ở lớp 5 là từ 1858 đến
giai đoạn thống nhất đất nước (sau 1975) Cấu trúc của CT 2018 là cấu trúc tích
hợp trong một mạch nội dung, cấu trúc theo vấn đề/chủ đề chứ không tuân thủ
“nghiêm ngặt” theo tiến trình lịch sử
Nội dung chương trình 2018 được tinh giản, chọn lọc hơn Một vấn đề mới
được đưa vào nội dung chương trình: Tìm hiểu một số nền văn minh cổ đại tiêu
biểu; Các nhà nước đầu tiên ngoài Văn Lang – Âu Lạc: Phù Nam, Champa; Bảo
vệ chủ quyền biển đảo của cha ông
Nắm vững những tiêu chí về kiến thức, kĩ năng trong chương trình hiện
hành kết hợp với các năng lực môn học trong chương trình mới Đây chính là
những gợi mở về các biểu hiện của năng lực cần rèn luyện hình thành cho HS từ
đó lập kế hoạch và tiến hành các hoạt động dạy học phù hợp với đối tượng
Giải pháp 4: Giúp CBGV rà soát, bổ sung, sắp xếp các nội dung dạy
học Lịch sử trong chương trình hiện hành theo hướng dạy học chủ đề
Việc rà soát, bổ sung, sắp xếp các nội dung dạy học Lịch sử trong chương
trình hiện hành thực hiện theo các hướng:
- Việc dạy học lịch sử cần quan tâm hơn tới việc tích hợp trong các môn
học và hoạt động giáo dục Tri thức lịch sử có thể được giới thiệu không chỉ ở
sách giáo khoa mà hoàn toàn có thể được giới thiệu trong các bài học môn Tiếng
Việt, bài học Đạo đức, hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, các sinh hoạt tập
thể, các mối quan hệ tương tác giữa HS, nhà trường với địa phương, cộng
đồng Tích hợp các môn học và hoạt động giáo dục trong dạy học Lịch sử sẽ
góp phần tránh sự trùng lặp kiến thức giữa các môn học, tránh tính hàn lâm và
tạo ra sự hấp dẫn của giáo dục lịch sử
Trang 12- Xác định các nội dung kiến thức lịch sử liên quan đến địa phương nhằm
tăng cường nội dung giáo dục lịch sử địa phương với các mức độ và hình thức
phù hợp
- Với những bài học trong sách giáo khoa thuộc chương trình hiện hành có
nội dung liên quan chặt chẽ với nhau, có thể sắp xếp, xây dựng thành một bài
học được dạy trong 2 hoặc 3 tiết Trong bài học này, trên cơ sở đáp ứng chuẩn
kiến thức, kĩ năng của chương trình, có thể thiết kế các hoạt động mà sách giáo
khoa hiện hành không quy định rõ nét như các yêu cầu về thực hành, vận dụng
Ví dụ, kết hợp các bài học “Nước nhà bị chia cắt” và bài “Bến Tre đồng
khởi”; hoặc bài “Sấm xét đêm giao thừa” và “Chiến thắng “Điện Biên Phủ trên
không”
Với việc dạy học theo chủ đề hoặc dạy học tích hợp với các môn học khác tạo sự hứng khởi và niềm say mê môn học Thực hiện hiệu quả tích hợp liên môn (lịch sử, địa lí) và tích hợp đa môn trong dạy học lịch sử nhằm giải quyết các nhiệm vụ học tập, thông qua đó hình thành những kiến thức, kĩ năng mới, phát triển những năng lực cần thiết, nhất là năng lực giải quyết vấn đề trong học tập và trong thực tiễn cuộc sống” Giải pháp 5: Vận dụng các PPDH Lịch sử theo định hướng phát triển năng lực HS Chỉ đạo GV việc phối hợp các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học, lựa chọn nội dung phù hợp để tổ chức, hướng dẫn HS tự chiếm lĩnh kiến thức thông qua các hoạt động dạy học, tránh gây áp lực bằng cách sử dụng trò chơi trong tiết dạy vì ở lứa tủôi các em “ Học mà chơi - Chơi mà học” Các hoạt động cần phối hợp nhịp nhàng, tránh tình trạng nặng nề, gây ức chế cho HS Vận dụng các PPDH lịch sử theo hướng phát triển năng lực HS bằng cách nào? Đó là câu hỏi GV thường đặt ra Có nhiều cách để vận dụng PPDH theo hướng phát triển năng lực HS, chẳng hạn: - Vận dụng các phương pháp đặc trưng bộ môn theo hướng phát triển năng lực người học: Phương pháp quan sát, Phương pháp hỏi – đáp, Phương pháp kể chuyện, Phương pháp thảo luận
- Vận dụng một số PPDH hiện đại: Phương pháp đóng vai, PPDH theo dự án, Phương pháp nêu và giải quyết vấn đề, Phương pháp trò chơi, Phương pháp dạy học theo hợp đồng
Ví dụ: Khi áp dụng PPDH theo hợp đồng cho bài Lịch sử lớp 4 (Bài 20: Ôn tập), tôi chỉ đạo GV xây dựng Bảng hướng dẫn thực hiện các nhiệm vụ: Nhiệm vụ bắt buộc - Nhiệm vụ 1: Hoàn thành bảng sau: Triều đại Vua đầu tiên Nơi đặt kinh đô Sự kiện nổi bật a) Nhà Đinh Đinh Tiên Hoàng (Đinh Bộ Lĩnh) Hoa Lư Dẹp loạn 12 sứ quân, thống nhất đất nước b) Nhà Tiền Lê ……… ……… ………
c) Nhà Lý ……… ……… ………
d) Nhà Trần ……… ……… ………
e) Nhà Hậu Lê ……… ……… ………
Trang 13- Nhiệm vụ 2: Nếu là hướng dẫn viên du lịch, khi có khách đến tham quan Văn
Miếu- Quốc Tử Giám, em dự định giới thiệu gì về di tích lịch sử - văn hóa này?
Nhiệm vụ tự chọn: Các nhóm chọn nhiệm vụ 3 hoặc 4 để thực hiện
- Nhiệm vụ 3 Đi tìm các nhân vật lịch sử
Mục đích trò chơi:
- Nhớ được tên những nhân vật lịch sử dân tộc đã học từ buổi đầu dựng
nước đến thời Hậu Lê
- Phát triển khả năng giao tiếp, khả năng diễn đạt
Chuẩn bị: Một bộ phiếu bằng giấy ghi các câu hỏi được bỏ vào túi
ST
T
Câu hỏi
1 Tên gọi chung các ông vua của nhà nước Văn Lang là gì?
2 Ông vua nào có công xây dựng thành Cổ Loa thời Âu Lạc?
3 Tên vua nào gắn liến với chiến thắng trên sông Bạch Đằng năm 938?
4 Ông vua nào đã quyết định dời đô từ Hoa Lư ra Tháng Long?
5 Vị tướng nào chỉ huy cuộc kháng chiến chống Tống xâm lược lần thứ hai?
6 Nhà văn, nhà khoa học nổi tiếng thời Hậu Lê là ai?
7 Tên vị vua đầu tiên thời nhà Trần?
8 Vị tướng nhà Trần nào đã chỉ huy quân dân ta ba lần đánh thắng quân
Mông – Nguyên xâm lược?
Cách chơi
- HS có thể ngồi hoặc đứng thành vòng tròn, mặt hướng vào tâm lớp, nếu
có không gian rộng
- Cả nhóm vừa hát vừa vỗ tay theo nhịp bài hát nào đó và trao tay nhau túi
đựng câu hỏi trên
- Khi người chủ trì hô” “Dừng lại!”, túi đựng câu hỏi ở trong tay HS nào thì
HS đó mở túi và chọn một câu hỏi, sau đó đọc to cho cả nhóm nghe và tả lời câu
hỏi đó
- Nếu HS trả lời đúng sẽ được cả nhóm thưởng một tràng pháo tay;
nếu không đúng được phép mở câu hỏi thứ hai Trò chơi tiếp tục cho đến
hết thời gian
Nhiệm vụ 4 Đóng vai theo tình huống: Quân xâm lược Mông – Nguyên lăm le
xâm lược nước ta, vua Trần triệu tập các lực lượng để bàn việc nước
Nhóm trưởng phân công người tham gia diễn xuất; Chuẩn bị và thể hiện
vai diễn theo tình huống yêu cầu
Hay đối với Lịch sử 5, tôi đã hướng dẫn GV về cách xây dựng kế hoạch bài
học theo định hướng phát triển năng lực HS - Bài 6 “Quyết chí ra đi tìm đường
cứu nước” như sau:
I Yêu cầu cần đạt:
- Biết Nguyễn Tất Thành chính là Bác Hồ kính yêu
- Trình bày được lí do; nêu được mục đích và bước đầu đánh giá được hành
động thể hiện ý chí quyết tâm ra đi tìm đường cứu nước của Nguyễn Tất Thành
- Nêu khái quát hành trình và kết quả ra đi tìm đường cứu nước của
Nguyễn Tất Thành