1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(SKKN 2022) một số biện pháp phát huy trí tuệ, chủ động vận dụng các dạng bài tập sử dụng hình ảnh so sánh trong phân môn luyện từ và câu vào viết đoạn văn của HS lớp 3b trường tiểu học lam sơn 1

24 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 272,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỈM SƠN SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT HUY TRÍ TUỆ, CHỦ ĐỘNG VẬN DỤNG CÁC DẠNG BÀI TẬP SỬ DỤNG HÌNH ẢNH SO SÁNH TRONG PHÂN MÔN LUYỆN TỪ VÀ CÂU VÀO

Trang 1

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỈM SƠN

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT HUY TRÍ TUỆ,

CHỦ ĐỘNG VẬN DỤNG CÁC DẠNG BÀI TẬP SỬ DỤNG HÌNH ẢNH SO SÁNH TRONG PHÂN MÔN LUYỆN TỪ VÀ CÂU VÀO VIẾT ĐOẠN VĂN CỦA HỌC SINH LỚP 3B, TRƯỜNG TIỂU HỌC LAM SƠN I, THỊ XÃ BỈM SƠN

Người thực hiện: Tạ Thị Ngợi Chức vụ: Giáo viên

Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Lam Sơn 1 SKKN thuộc môn: Tiếng Việt

THANH HÓA, NĂM 2022

Trang 2

TT Kí hiệu viết tắt Từ viết đầy đủ Ghi chú

3 Bộ GD&ĐT Bộ Giáo dục và đào tạo

4 CTGDPT Chương trình giáo dục phổ thông

Trang 3

TT NỘI DUNG Trang

II NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 2

1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm 2

1.3 Căn cứ vào vị trí, nhiệm vụ của môn học 31.4 Căn cứ vào đặc điểm tâm lí của học sinh Tiểu học 3

2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 3

3

Các giải pháp phát huy trí tuệ, chủ động vận

dụng các dạng bài tập sử dụng hình ảnh so sánh

vào viết đoạn văn cho học sinh. 5

3.3 Chuẩn bị bài dạy từng tiết theo đối tượng học sinh 6

3.5

Phát huy trí tuệ, giúp học sinh yêu thích, chủ động vận dụng các

dạng bài tập sử dụng hình ảnh so sánh trong phân môn Luyện từ

và câu vào viết đoạn văn

123.6 Kết hợp dạy học trực tiếp và dạy học trực tuyến 143.7 Tổ chức trò chơi học tập để giúp học sinh phát huy trí tuệ, chủđộng vận dụng bài học 153.8 Rèn luyện tính chủ động để phát huy trí tuệ của học sinh 163.9 Thành lập câu lạc bộ “Em yêu Tiếng Việt” 17

4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường 17

Trang 4

1 Lí do chọn sáng kiến kinh nghiệm

Ngày nay, nền kinh tế tri thức và khoa học công nghệ đang phát triểnmạnh mẽ, giá trị chất xám đã trở thành lực lượng sản xuất vô cùng quý giá của

xã hội Vì vậy, việc phát huy trí tuệ học sinh, giúp học sinh chủ động vận dụngtri thức vào cuộc sống là việc làm cấp bách của mỗi quốc gia Đảng ta đã xácđịnh: Muốn đất nước phát triển hùng cường không còn con đường nào khác phảitập trung phát triển giáo dục đào tạo mới có điều kiện để phát triển con ngườiđáp ứng yêu cầu thời đại Chính vì lẽ đó, Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIII

ngày 01/02/2021 đã định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021 - 2030: Tạo

đột phá trong đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển nguồnnhân lực chất lượng cao, thu hút và trọng dụng nhân tài Thúc đẩy nghiên cứu,chuyển giao, ứng dụng mạnh mẽ thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lầnthứ tư vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, chú trọng một số ngành, lĩnh vựctrọng điểm, có tiềm năng, lợi thế để làm động lực cho tăng trưởng theo tinh thầnbắt kịp, tiến cùng và vượt lên ở một số lĩnh vực so với khu vực và thế giới

Để đất nước chuyển mình mạnh mẽ và vững chắc trong giai đoạn mới nàythì chất lượng giáo dục là yếu tố quan trọng và quyết định Vì vậy, Bộ GD&ĐT

đã quyết định đổi mới Chương trình GDPT 2018 (năm học 2020-2021 đến nămhọc 2024 - 2025) từ lớp 1 đến lớp 12 Bậc Tiểu học là bậc học nền móng, là cáinôi đầu tiên để phát triển và giúp cho học sinh phát triển toàn diện Môn TiếngViệt ở Tiểu học giúp học sinh từng bước làm quen và rèn bốn kỹ năng (nghe,nói, đọc, viết) nhằm phát huy trí tuệ trong quá trình học tập đã được các cơ sởgiáo dục Tiểu học quan tâm đúng mức nên chất lượng giáo dục đã có chuyểnbiến Tuy nhiên để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao với sự phát triển công nghệ

4.0 thì giáo viên nói chung và giáo viên dạy lớp 3 nói riêng phải “thay đổi” để

không ngừng trau dồi kiến thức, kĩ năng, tích cực giúp học sinh phát huy trí tuệ,chủ động tiếp cận với chương trình GDPT 2018 lớp 3 năm học 2022 - 2023 (đitrước đón đầu) Trong môn Tiếng Việt lớp 3 hiện hành có phân môn Luyện từ vàcâu là tiền đề căn bản để giúp các em vận dụng kiến thức viết câu văn, đoạn văngiàu hình ảnh Bởi đó là hành trang cho các em vững bước trên con đường họctập của mình Xác định được những vấn đề cốt lõi nêu trên, là một giáo viênđang trực tiếp giảng dạy lớp 3, tôi luôn băn khoăn và trăn trở: Phải làm thế nào

để phát huy trí tuệ của học sinh, giúp các em tự tin và hứng thú tiếp cận, vận

dụng kiến thức mới vào thực hành Vì thế, tôi chọn sáng kiến: “Một số biện pháp phát huy trí tuệ, chủ động vận dụng các dạng bài tập sử dụng hình ảnh

so sánh trong phân môn Luyện từ và câu vào viết đoạn văn của học sinh lớp 3B, trường Tiểu học Lam Sơn 1, thị xã Bỉm Sơn”.

2 Mục đích nghiên cứu

Mục đích của sáng kiến kinh nghiệm “Một số biện pháp phát huy trí tuệ, chủ động vận dụng các dạng bài tập sử dụng hình ảnh so sánh trong phân môn Luyện từ và câu vào viết đoạn văn của học sinh lớp 3B, trường Tiểu học Lam Sơn 1, thị xã Bỉm Sơn” đó là góp phần giúp học sinh phát huy trí tuệ, chủ

động hơn trong vận dụng các dạng bài tập sử dụng hình ảnh so sánh trong phânmôn Luyện từ và câu vào viết đoạn văn

Trang 5

3 Đối tượng nghiên cứu

Học sinh lớp 3B trường Tiểu học Lam Sơn 1, thị xã Bỉm Sơn, tỉnh ThanhHóa năm học 2021 - 2022

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện mục đích đề ra của sáng kiến: “Một số biện pháp phát huy trí tuệ, chủ động vận dụng các dạng bài tập sử dụng hình ảnh so sánh trong phân môn Luyện từ và câu vào viết đoạn văn của học sinh lớp 3B, trường Tiểu học Lam Sơn 1, thị xã Bỉm Sơn”; tôi đã sử dụng các phương pháp đó là:

- Phương pháp nghiên cứu lí luận

- Phương pháp điều tra

II NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm

1.1 Căn cứ vào Nghị quyết của Đảng

Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 4 tháng 11 năm 2013 về “Đổi mới căn

bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đạihóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập

quốc tế” đặt ra nhiệm vụ cho giáo dục là: Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương

pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo

và vận dụng kiến thức, kĩ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặtmột chiều, ghi nhớ máy móc , đồng thời đã chỉ rõ: “Giáo dục và đào tạo làquốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân Đầu tưcho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình,

kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội”

Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng ngày 01/02/2021 chỉ rõ các đột pháchiến lược là: Phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao;

ưu tiên phát triển nguồn nhân lực cho công tác lãnh đạo, quản lý và các lĩnh vựcthen chốt trên cơ sở nâng cao, tạo bước chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện, cơ bản

về chất lượng giáo dục, đào tạo gắn với cơ chế tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộnhân tài, đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng và phát triển mạnh khoahọc - công nghệ, đổi mới sáng tạo; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồnvinh, hạnh phúc, phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam, tinhthần đoàn kết, tự hào dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Mục tiêu đổi mới Chương trình GDPT 2018 là: cụ thể hoá mục tiêu giáodục phổ thông, giúp học sinh làm chủ kiến thức phổ thông, biết vận dụng hiệuquả kiến thức, kĩ năng đã học vào đời sống và tự học suốt đời, có định hướnglựa chọn nghề nghiệp phù hợp, biết xây dựng và phát triển hài hoà các mối quan

hệ xã hội, có cá tính, nhân cách và đời sống tâm hồn phong phú, nhờ đó có đượccuộc sống có ý nghĩa và đóng góp tích cực vào sự phát triển của đất nước vànhân loại

Trang 6

1.2 Căn cứ vào Chỉ thị của ngành giáo dục

Chỉ thị số 800/CT-BGDĐT ngày 24/8/2021 của Bộ Giáo dục và Đào tạo

chỉ rõ một trong những nhiệm vụ trọng tâm của ngành giáo dục năm học 2021

-2022 là: “Đẩy mạnh chuyển đổi số trong giáo dục và đào tạo, gắn với đổi mớicông tác quản lý, đổi mới phương pháp dạy và học Tăng cường công tác thôngtin, truyền thông về các chủ trương, chính sách mới của ngành và kết quả triểnkhai thực hiện các nghị quyết của Đảng, Quốc hội, Chính phủ về đổi mới cănbản, toàn diện giáo dục và đào tạo; tăng cường phối hợp, xử lý hiệu quả các vấn

đề về truyền thông, nhất là các vấn đề xã hội quan tâm, bức xúc để xã hội, nhândân hiểu, chia sẻ, ủng hộ và đóng góp nhiều hơn cho ngành Tổ chức thực hiệnphong trào thi đua “Đổi mới, sáng tạo trong quản lý, giảng dạy và học tập” bảođảm thiết thực, hiệu quả, phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương, đơn vị;kịp thời khen thưởng, tôn vinh các tổ chức, cá nhân có sáng kiến, giải pháp, môhình sáng tạo trong quản lý, giảng dạy và học tập, nhất là trong bối cảnh dịchCOVID-19 còn có thể kéo dài”

1.3 Căn cứ vào vị trí, nội dung của môn học

Từ và câu có vị trí quan trọng trong hệ thống ngôn ngữ Từ là đơn vị trungtâm của ngôn ngữ Câu là đơn vị nhỏ nhất có thể thực hiện chức năng giao tiếp.Vai trò của từ và câu trong hệ thống ngôn ngữ quyết định tầm quan trọng củaviệc dạy và học Luyện từ và câu ở tiểu học Việc dạy Luyện từ và câu nhằm mởrộng và hệ thống hóa làm phong phú từ cho học sinh, cung cấp cho học sinhnhững hiểu biết sơ giản về từ và câu, rèn cho học sinh kĩ năng dùng từ đặt câu

và sử dụng những kiểu câu để thể hiện tư tưởng tình cảm của mình, đồng thờigiúp cho học sinh thông hiểu và vận dụng trong cuộc sống

Việc so sánh thường lấy sự cụ thể để so sánh với cái không cụ thể hoặctrừu tượng Với cách này sẽ góp phần giúp cho người đọc, người nghe dễ dànghình dung được rõ hơn về sự vật, sự việc đang nói đến Bên cạnh đó, biện pháp

so sánh còn giúp cho câu nói, lời văn trở nên bay bổng và cuốn hút hơn Vì thế

mà nhiều nhà thơ, nhà văn đã sử dụng trong chính tác phẩm của mình Biệnpháp so sánh trong phân môn Luyện từ và câu có vai trò quan trọng trong việcdạy học sinh hình thành câu văn nói và viết

1.4 Căn cứ vào đặc điểm tâm lí của học sinh Tiểu học

Học sinh tiểu học thường dễ nhớ nhưng nhanh quên, sự tập trung chú ýtrong hoạt động học tập nói chung và trong tiết Luyện từ và câu chưa cao, trínhớ chưa bền vững, thích học nhưng chóng chán Vì vậy giáo viên phải làm thếnào để khắc sâu kiến thức cho học sinh và tạo ra không khí sẵn sàng học tập,chủ động, tích cực, sáng tạo trong dùng từ đặt câu, nói, viết câu giàu hình ảnh vàtừng bước giúp các em yêu thích khám phá sự phong phú của Tiếng Việt

2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm

2.1 Thực trạng chung của nhà trường

a Thuận lợi:

- Ban giám hiệu nhà trường năng động, nhiệt tình, tư vấn cho giáo viênnhững phương pháp dạy học hay, sáng tạo, tích cực, luôn quan tâm đến chấtlượng học tập của học sinh Vì thế, chất lượng học tập của các em ngày đượcnâng lên một cách rõ rệt; thường xuyên mở các chuyên đề trong đó có chuyên đề

Trang 7

về môn Tiếng Việt để giáo viên dự giờ, trao đổi kinh nghiệm Trong các buổisinh hoạt chuyên môn, tạo điều kiện cho giáo viên thảo luận, tháo gỡ nhữngvướng mắc trong giảng dạy, trình bày những khó khăn trong công tác để cùnggiải quyết nhất là giảng dạy trong mùa dịch, Ban giám hiệu còn thường xuyênkiểm tra vở viết của học sinh xem giáo viên chấm, chữa, sửa lỗi cho học sinh cókịp thời không.

- Đội ngũ giáo viên tâm huyết, yêu nghề, ham học hỏi, có trách nhiệmcao, có sáng kiến giúp đỡ lẫn nhau, biết chia sẻ những hiểu biết về chuyên môngiảng dạy các môn học nhất là môn Tiếng Việt

Ví dụ: Ngày 28/10/2021 (dạy trực tuyến), đồng chí Hiệu trường đã vào

lớp dự giờ, góp ý cho tiết dạy của tôi; Nhiều đồng chí có kinh nghiệm phát hiệnhọc sinh có năng khiếu về môn Tiếng Việt, giúp các em phát trí tuệ, chủ độnghơn ngay từ những buổi học đầu năm

- Học sinh có đủ sách, vở, đồ dùng, phương tiện học tập phục vụ cho mônhọc (kể cả phương tiện học tập khi có dịch bệnh phức tạp), có ý thức học tập tốt,nhiều học sinh tích cực, chủ động, tự giác học bài, làm bài, hoàn thành tốt yêucầu học tập, 100% các em đăng kí tham gia sân chơi trực tuyến Trạng nguyêntoàn tài, Trang nguyên Tiếng Việt

b Khó khăn:

- Tình hình dịch bệnh covid -19 diễn biến phức tạp, quá trình dạy học phảithường xuyên thay đổi linh hoạt hình thức dạy học (dạy học trực tiếp hoặc trựctuyến, có thời điểm dạy học kết hợp cả hai hình thức) Vì thế, giáo viên, họcsinh gặp không ít trở ngại trong quá trình tương tác

- Số lượng học sinh khá khiêm tốn vì thế học sinh có tố chất về mônTiếng Việt còn hạn chế; Một số gia đình HS có hoàn cảnh khó khăn, phươngtiện học tập chưa được tốt; Là năm học thứ hai liên tiếp, nhà trường phải họcnhờ ở trường Cao Bá Quát (do đang triển khai dự án khu dân cư Nam Cổ Đam),lớp 3B là một trong số hai lớp phải thường xuyên di chuyển luân phiên theo mỗibuổi học (không có phòng học cố định do thiếu phòng học) nên ảnh hưởng phầnnào đến quá trình học tập của học sinh

- Giáo viên đôi khi vận dụng chưa nhịp nhàng, linh hoạt các hình thức dạyhọc nên chưa thực sự gây được hứng thú cho học sinh trong học tập

- Học sinh dùng từ đặt câu chưa hợp lí, chưa có sự sáng tạo nhất là khinói, viết câu văn có hình ảnh so sánh

2.2 Thực trạng của học sinh lớp 3B trường Tiểu học Lam Sơn 1, thị xã Bỉm Sơn năm học 2021 - 2022

a Thuận lợi:

- Khi nhận lớp 3B, tôi tìm hiểu và được biết: học sinh trong lớp ngoan,chăm học, chất lượng lớp khá đồng đều, học sinh thông minh, nhiều em thíchhọc Tiếng Việt; phụ huynh quan tâm đến việc học tập của con em mình

b Khó khăn:

- Sĩ số học sinh vượt quá quy định nên phần nào ảnh hưởng đến quá trìnhdạy - học; trường phải học nhờ lại thiếu phòng, lớp 3B phải di chuyển thườngxuyên nên ảnh hưởng đến nề nếp học tập; một số em có hoàn cảnh gia đình khókhăn nên thiết bị học tập trực tuyến (điện thoại thông minh, máy tính…) chưa

Trang 8

có; dịch bệnh covid- 19 phức tạp, hình thức dạy học phải thay đổi linh hoạt nênphần nào ảnh hưởng đến chất lượng học tập của học sinh.

- Trong giảng dạy, tôi nhận thấy về môn Tiếng Việt nói chung, phân mônLuyện từ và câu (học tập các dạng bài tập về so sánh) nói riêng, một số em cókhả năng chủ động, tích cực, sáng tạo trong phát hiện vần đề và giải quyết vấn

đề nhưng chưa tốt, các em khác chủ yếu là rập khuôn, máy mọc, làm theo mẫuhay bắt chước…

Phân môn Luyện từ và câu ở Tiểu học có nhiệm vụ rất quan trọng đối vớihọc sinh là rèn kĩ năng dùng từ đặt câu Thế nhưng, phần đông học sinh chưahứng thú học Luyện từ và câu cũng như biện pháp so sánh vì các em nghĩ rằng:Mình không biết thế nào là so sánh? Phải dùng từ đặt câu như thế nào? để viếtđược một câu văn có sử dụng hình ảnh so sánh? Làm sao để viết đoạn văn có câu

so sánh? Các em chưa tích cực học, còn lúng túng khi dùng từ đặt câu, viết câuvăn lủng củng, hình ảnh so sánh chưa phù hợp, chưa tương đồng.…, một số emcòn viết theo hình thức trả lời câu hỏi gợi ý nên câu văn chưa đạt yêu cầu đề bài

Ví dụ: Em Vũ Tiến Dũng viết câu: “Con cún nhà em có chân to bằngngón tay”

Kết quả khảo sát về khả năng chủ động vận dụng các bạng bài tập sử dụnghình ảnh so sánh trong phân môn Luyện từ và câu vào học làm văn, viết văn củahọc sinh lớp 3B đầu năm học như sau:u n m h c nh sau:ăm học như sau: ọc như sau: ư sau:

Lớp Số

học sinh

HS chủ động vận dụng bài học

HS chưa chủ động vận dụng bài học

* Nguyên nhân học sinh có những biểu hiện trên:

+ Giáo viên: Chưa định hướng rõ, cụ thể những biện pháp giúp học sinh

sửa lỗi đùng từ đặt câu kịp thời, đúng thời điểm và chưa phát huy tính tích cực,chủ động và sáng tạo của học sinh một cách khoa học, khéo léo …

+ Học sinh: Kĩ năng tìm hiểu yêu cầu còn vụng về; Kĩ năng dùng từ, sắp

xếp từ, dùng dấu câu để đặt câu, viết câu văn chưa phù hợp, chưa logic, chưa thể

hiện rõ hình ảnh so sánh

3 Các giải pháp để giúp học sinh phát huy trí tuệ, chủ động vận dụng các dạng bài tập sử dụng hình ảnh so sánh trong phân môn Luyện từ và câu vào học làm văn, viết đoạn văn của học sinh lớp 3B, trường Tiểu học Lam Sơn 1, thị xã Bỉm Sơn

Để giúp học sinh phát huy trí tuệ, giáo viên cần lựa chọn những giải pháptốt nhất Những giải pháp mà bản thân tôi đã thực hiện để phát huy trí tuệ, chủđộng vận dụng các dạng bài tập sử dụng hình ảnh so sánh trong phân mônLuyện từ và câu vào học làm văn, viết đoạn văn của học sinh lớp 3B năm học

2021 - 2022 này là:

3.1 Nắm bắt đặc điểm tâm lí từng học sinh

Ngay sau khi nhận lớp chủ nhiệm, tôi đã tiến hành tìm hiểu, nắm bắtthông tin về đối tượng học sinh lớp của mình qua các kênh thông tin khác nhau

Trang 9

Tham gia hoạt động cùng học sinh để tìm hiểu rõ hơn về tinh thần tập thể,

ý thức hợp tác trong công việc chung của những từng học sinh

Gặp gỡ, trao đổi với phụ huynh học sinh để nắm bắt thêm đặc điểm tâm lícủa học sinh

Từ đó, tôi đã nắm bắt được đặc điểm tâm lí của từng học sinh trong lớp,giúp tôi phân loại được từng nhóm đối tượng học sinh

3.2 Phân nhóm đối tượng học sinh

Để phân nhóm đối tượng học sinh theo năng lực, tôi đã tiến hành tìm hiểu

Tiến hành khảo sát chất lượng đại trà đầu năm học để nắm bắt khả năng

tư duy, nhận thức của từng học sinh

Theo dõi năng lực của từng HS thông qua mỗi tiết học

Sau khi nắm bắt được khả năng nhận thức của HS tôi đã phân nhóm đốitượng HS trong lớp như sau:

- Đối tượng HS có nhận thức tốt

- Đối tượng HS có nhận thức ở mức bình thường

- Đối tượng HS có nhận thức còn chậm, trình bày bài làm chưa tốt…

Từ kết quả phân nhóm đối tượng HS, tôi đã chủ động xây dựng kế hoạchbài dạy phù hợp với từng nhóm đối tượng HS trong lớp

3.3 Chuẩn bị kế hoạch bài dạy từng tiết theo đối tượng học sinh

Trong mỗi tiết học, tôi chú ý dạy học phù hợp với trình độ nhận thức củahọc sinh để tất cả các học sinh trong lớp đều được quan tâm, được làm việc vàđược phát triển

Cùng một kiến thức, kĩ năng, cùng một bài nhưng dạy cho đối tượng họcsinh khác nhau thì phải khác nhau/ Mỗi bài học có những mức độ yêu cầu kiếnthức, câu hỏi gợi mở định hướng, bài tập vận dụng ở các mức độ khác nhau, phùhợp với từng đối tượng nhận thức để mọi đối tượng học sinh trong lớp đều đạtchuẩn về kiến thức kĩ năng cơ bản, vừa đảm bảo tính vừa sức, vừa phát huyđược tính chủ động, tích cực, sáng tạo của học sinh

Đối tượng học sinh có nhận thức tốt, hoàn thành nhanh yêu cầu bài tập,

tôi đã giao thêm nhiệm vụ mới, mở rộng thêm yêu cầu bài tập (Ví dụ: Tìm cách

làm khác, cách làm nhanh nhất?), có thể làm thêm bài tập dành cho học sinh có

năng khiếu để các em phát huy trí tuệ, vận dụng tốt bài học

Trang 10

Với đối tượng học sinh có nhận thức chưa tốt, các em chỉ cần thực hiệnnhiệm vụ học tập theo mục tiêu kiến thức cần đạt của tiết học.

Với những học sinh chưa cẩn thận, kĩ năng làm bài chưa tốt, tôi đã thườngxuyên kiểm tra, nhắc nhở, hướng dẫn cách sửa chữa

Sau khi đã nắm bắt đặc điểm tâm lí, phân nhóm đối tượng học sinh, chuẩn

bị kế hoạch bài dạy phù hợp theo nhóm đối tượng, tôi đã tiến hành xử lí các tìnhhuống phát sinh trong khi dạy học

3.4 Xử lí tình huống phát sinh khi dạy học

Xử lí các tình huống phát sinh trong dạy học là nghệ thuật sư phạm của

mỗi giáo viên Để xử lí tốt các tình huống phát sinh khi dạy học, tôi đã giúp học

sinh thực hành nhận biết dấu hiệu câu văn, câu thơ và các dạng bài tập sử dụnghình ảnh so sánh trong phân môn Luyện từ và câu

3.4.1 Giúp học sinh nhận biết các dấu hiệu về so sánh và thực hiện các dạng bài tập có hình ảnh so sánh trong phân môn Luyện từ và câu đúng quy trình

a) Giúp học sinh nhận biết các dấu hiệu về so sánh:

Để nhận biết câu văn, câu thơ có sử dụng biện pháp so sánh hay không,tôi đã giúp các em nhận biết theo các dấu hiệu sau:

- Dựa vào từ so sánh trong câu, gồm các từ: như, giống như, ví như, tựanhư, tựa là, là…

Ví dụ: a) Công cha như núi Thái Sơn, b) Ông là buổi trời chiều,

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra Cháu là ngày rạng sáng.

- Dựa vào nội dung câu văn, câu thơ: Nếu nội dung câu văn, câu thơ thể

hiện so sánh sự tương đồng của hai sự vật, sự việc thì đó là so sánh (không có từ

như, như là…)

Ví dụ: a) Quả dừa - đàn lợn con nằm trên cao.

b) Ai nặn nên hình Khế chín đầy cây

Khế chia năm cánh Vàng treo lóng lánh

3.4.2 Dạy học các dạng bài tập về so sánh

* Hướng dẫn học sinh thực hiện các bài tập theo các bước:

- Đọc kĩ đề bài;

- Xác định đúng yêu cầu đề bài;

- Phân tích yêu cầu đề bài;

- Học sinh tự làm bài, chữa bài;

- So sánh đối chiếu kết quả với bạn;

- GV chốt kết quả đúng và giúp học sinh hiểu rõ vì sao có kết quả như vậy

* Hướng dẫn thực hiện các dạng bài tập sử dụng hình ảnh so sánh:

- Dạng 1: Bài tập theo mẫu (Bài tập nhận biết)

- Dạng 2: Bài tập sáng tạo (Bài tập vận dụng)

* Dạng 1: Bài tập nhận diện:

Mục tiêu của dạng bài này là giúp học sinh nhận biết từ chỉ các sự vật(hoạt động, âm thanh, đặc điểm) được so sánh dựa trên 5 phép so sánh:

- So sánh sự vật với sự vật

- So sánh sự vật với con người

- So sánh hoạt động với hoạt động

- So sánh âm thanh với âm thanh

Trang 11

- So sánh đặc điểm hai sự vật.

Với mỗi phép so sánh, giáo viên cần giúp học sinh tích cực, chủ động vàsáng tạo trong quá trình chiếm lĩnh kiến thức Cụ thể như sau:

a) So sánh sự vật với sự vật:

Ví dụ: Bài 2 (Tiếng Việt 3, tập 1, trang 8): Tìm những sự vật được so

sánh với nhau trong các câu thơ, câu văn dưới đây:

c) Cánh diều như dấu “á”

Ai vừa tung lên trời

Lương Vĩnh Phúc

GV yêu cầu học sinh phát hiện các từ chỉ sự vật được so sánh, sau đó tìm

sự vật so sánh với nhau trong các câu thơ, câu văn

Yêu c u HS l m b i v o b ng sau, HS ch a b i, GV ch t k t quầu năm học như sau: àm bài vào bảng sau, HS chữa bài, GV chốt kết quả àm bài vào bảng sau, HS chữa bài, GV chốt kết quả àm bài vào bảng sau, HS chữa bài, GV chốt kết quả ảng sau, HS chữa bài, GV chốt kết quả ữa bài, GV chốt kết quả àm bài vào bảng sau, HS chữa bài, GV chốt kết quả ốt kết quả ết quả ảng sau, HS chữa bài, GV chốt kết quảúng:

đ

Câu Sự vật 1 Từ so sánh Sự vật 2

a Hai bàn tay Như hoa đầu cành

GV yêu cầu học sinh trình bày từng cặp sự vật được so sánh:

+ "Hai bàn tay em" so sánh với "hoa đầu cành"

+ "Mặt biển" so sánh với "tấm thảm khổng lồ"

+ "Cánh diều" so sánh với "dấu á"

+ "Dấu hỏi" so sánh với "vành tai nhỏ"

Giáo viên hỏi: Vì sao "Hai bàn tay em" được so sánh với "hoa đầu cành"?

Vì sao nói "Mặt biển" như "tấm thảm khổng lồ"? Vì sao "Cánh diều” được sosánh với “dấu á”? để kích thích tư duy sáng tạo của học sinh:

+ "Hai bàn tay em" được so sánh với "hoa đầu cành” vì Hai bàn tay của bé nhỏ xinh như một bông hoa.

+ "Mặt biển" được so sánh với "tấm thảm khổng lồ” vì Mặt biển và tấm thảm đều phẳng, êm và đẹp.

+ "Cánh diều” được so sánh với “dấu á” vì Cánh diều hình cong cong, võng xuống giống hệt như dấu á.

b) So sánh sự vật với con người và ngược lại:

Ví dụ: Bài 1a, c (Tiếng Việt 3, tập 1, trang 42, 43): Tìm các hình ảnh so

sánh trong những khổ thơ sau:

a) Bế cháu ông thủ thỉ c) Những ngôi sao thức ngoài kia

- Cháu khỏe hơn ông nhiều! Chẳng bằng mẹ đã thức vì chúng con

Ông là buổi trời chiều Đêm nay con ngủ giấc tròn

Cháu là ngày rạng sáng Mẹ là ngọn gió của con suôt đời

Trang 12

GV yêu c u HS t ầu năm học như sau: ự đọc đề, tự làm bài rồi chữa bài, GV chốt kết quả đọc như sau: đề, tự làm bài rồi chữa bài, GV chốt kết quả ự đọc đề, tự làm bài rồi chữa bài, GV chốt kết quả àm bài vào bảng sau, HS chữa bài, GV chốt kết quảc , t l m b i r i ch a b i, GV ch t k t quàm bài vào bảng sau, HS chữa bài, GV chốt kết quả ồi chữa bài, GV chốt kết quả ữa bài, GV chốt kết quả àm bài vào bảng sau, HS chữa bài, GV chốt kết quả ốt kết quả ết quả ảng sau, HS chữa bài, GV chốt kết quảúng.

c ngôi sao thức - mẹ thức

Mẹ - ngọn gió

chẳng bằnglà

GV giúp HS xác định sự vật và con người trong mỗi hình ảnh so sánh Từ

đó các em hiểu rõ hơn về phép so sánh này

c) So sánh hoạt động với hoạt động:

Ví dụ: Bài tập 2 (Tiếng Việt 3, tập 1, trang 98): Trong các đoạn trích sau,

những hoạt động nào được so sánh với nhau?

a) Con trâu đen lông mượt b) Cau cao, cao mãi

Cái sừng nó vênh vênh Tàu vươn giữa trời

Nó cao lớn lênh khênh Như tay ai vẫy

Chân đi như đập đất Hứng làn mưa rơi

Trần Đăng Khoa Ngô Viết Dinh

c) Xuồng con đậu quanh thuyền lớn giống như đàn con nằm quanh bụng

mẹ Khi có gió, thuyền mẹ cót két, rên rỉ, đám xuồng con lại húc húc vào mạn

thuyền mẹ như đòi bú tí Võ Quảng

GV yêu c u HS: ầu năm học như sau: đọc như sau:c k ĩ đề bài, tìm từ chỉ hoạt động, tìm các hoạt đề, tự làm bài rồi chữa bài, GV chốt kết quả àm bài vào bảng sau, HS chữa bài, GV chốt kết quả b i, tìm t ch ho t ừ chỉ hoạt động, tìm các hoạt ỉ hoạt động, tìm các hoạt ạt động, tìm các hoạt động, tìm các hoạtng, tìm các ho tạt động, tìm các hoạt

nằmđòi bú

d) So sánh âm thanh với âm thanh:

Ví dụ: Bài tập 2a, c (Tiếng Việt 3, tập 1, trang 80): Hãy tìm những âm

thanh được so sánh với nhau trong mỗi câu thơ, câu văn dưới đây:

a) Côn Sơn suối chảy rì rầm

Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai

Nguyễn Trãi

c) Mỗi lúc, tôi càng nghe rõ tiếng chim kêu náo động như tiếng xócnhững rổ tiền đồng Chim đậu chen nhau trắng xóa trên những đầu cây mắm,cây chà là, cây vẹt rụng trụi gần hết lá

Đoàn Giỏi

GV yêu cầu HS đọc đề rồi hoàn thành bài tập, HS chữa bài, GV chốt kếtquả đúng:

Câu Âm thanh 1 Từ so sánh Âm thanh 2

a tiếng suối chảy Như tiếng đàn cầm

Ngày đăng: 09/06/2022, 20:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w