1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(SKKN 2022) một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy học dấu hiệu chia hết cho học sinh lớp 4

21 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 110,6 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dạy học "Các dấu hiệu chia hết" giúp học sinh có kỹ năng nhận biết một số bất kỳ nào đó có chia hết cho 2; 3; 5; 9 haykhông dựa vào một số dấu hiệu cần và đủ, không cần thực hiện phép tí

Trang 2

luận đơn giản, hình thành và rèn luyện phương pháp học tập, làm việc khoa học,linh hoạt, sáng tạo

Qua việc hình thành các khái niệm toán học, học sinh lĩnh hội các kiếnthức và vận dụng vào tư duy, tính toán, giải toán một cách linh hoạt, sáng tạo.Điều đó giúp các em độc lập suy nghĩ, làm việc có kế hoạch, biết kiểm tra,khẳng định có căn cứ, tác phong cẩn trọng, có ý thức muốn cải tiến, tìm tòi cáimới

Một trong những nội dung quan trọng trong chương trình Toán 4 là các dấu hiệu chia hết đối với số tự nhiên Dạy học "Các dấu hiệu chia hết" giúp học

sinh có kỹ năng nhận biết một số bất kỳ nào đó có chia hết cho 2; 3; 5; 9 haykhông dựa vào một số dấu hiệu cần và đủ, không cần thực hiện phép tính Đây lànội dung kiến thức hoàn toàn mới đối với học sinh lớp 4 Các em được học cácdấu hiệu chia hết trên cơ sở được phát hiện, giới thiệu và tự phát biểu như trongsách giáo khoa Học sinh tự giác thông báo các kết quả đó và làm theo chứkhông được chứng minh Vì vậy các em chưa có kỹ năng vận dụng một cáchlinh hoạt và sáng tạo vào việc giải các bài toán đòi hỏi sự tư duy nhanh nhạy màkhông cần phải tính toán

Chương trình dạy "Dấu hiệu chia hết” ở lớp 4 được dạy không nhiều.Trong 7 tiết thì có 4 tiết hướng dẫn tìm hiểu kiến thức mới và 3 tiết luyện tậpnhưng nội dung kiến thức này lại được vận dụng vào làm rất nhiều dạng bàikhác nhau như: Rút gọn phân số, quy đồng mẫu số (Tìm mẫu số chung nhỏnhất); Tìm điều kiện để phân số có giá trị là số tự nhiên; Viết các số tự nhiêntheo dấu hiệu chia hết; Cấu tạo số; Tìm chữ số tận cùng hoặc chữ số còn thiếucủa một số; Các bài toán về phép chia có dư và vận dụng vào bước kiểm trakết quả bài giải, tự ra đề Trong khi đó, lại có rất ít tài liệu chuẩn hướng dẫnviệc dạy về dấu hiệu chia hết sao cho có hiệu quả Chính vì vậy, khi dạy đến nộidung này, tôi luôn trăn trở là làm sao cho học sinh không lúng túng và vận dụngthành thạo các dấu hiệu chia hết vào học các nội dung liên quan Nếu ta trang bịthêm cho các em một phần kiến thức cơ bản thì các em có thể dễ dàng nhận diệnđược và khi đó có thể đưa về hoặc sử dụng các bài toán quen thuộc để giải quyết

và làm cơ sở để giúp các em học tốt môn toán ở lớp trên

Là giáo viên có nhiều năm giảng dạy ở lớp 4, tôi thấy đây là một mạchkiến thức khó và gây khá nhiều khó khăn, vướng mắc đối với cả giáo viên và

học sinh Xuất phát từ những lí do trên, tôi đã nghiên cứu và đưa ra : “Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy - học dấu hiệu chia hết cho học sinh lớp 4” với mong muốn học sinh lớp 4 do tôi phụ trách sẽ làm tốt các bài tập

liên quan đến các dấu hiệu chia hết trong chương trình Toán 4

1.2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu về việc dạy “dấu hiệu chia hết” của giáo viên giúp rút ra đượcnhững kinh nghiệm khi dạy nội dung này nói riêng và việc dạy học toán cho họcsinh nói chung

Trang 3

Nghiên cứu về các dấu hiệu chia hết trong số tự nhiên giúp giáo viên nắmsâu hơn các kiến thức cơ bản về dấu hiệu chia hết Đa dạng hóa trong vận dụngkiến thức, giúp cho học sinh nắm chắc kiến thức và vận dụng vào các kiến thức

có liên quan, góp phần tìm ra cách vận dụng linh hoạt các kiến thức cơ bản củamôn học nhằm phát triển năng lực trí tuệ về môn toán cho học sinh lớp 4

1.3 Đối tượng nghiên cứu

Nội dung chương trình môn Toán lớp 4, trong đó tập trung vào các kiếnthức liên quan đến dấu hiệu chia hết

Các giải pháp, biện pháp thường được vận dụng trong dạy học toán nóichung và dạy về dấu hiệu chia hết nói riêng

Đối tượng là học sinh lớp 4 - Trường Tiểu học X do tôi phụ trách Vì nộidung toán về dấu hiệu chia hết trong số tự nhiên khá rộng và khó nên trongphạm vi của sáng kiến tôi chủ yếu đề cập đến các nội dung cơ bản mà sách giáokhoa đề cập đến

Thời gian nghiên cứu từ tháng 01/2021 đến tháng 3/2022

1.4 Phương pháp nghiên cứu

1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Tôi vận dụng phương pháp này đểtìm hiểu về cơ sở lý luận, nội dung chương trình dạy học Toán về dấu hiệu chiahết, những vấn đề liên quan ảnh hưởng đến quá trình dạy học dạng toán này

2 Phương pháp điều tra: Để tìm hiểu thực trạng vấn đề dạy - học toán vềdấu hiệu chia hết ở khối lớp 4 trong trường tiểu học, những khó khăn vướng mắccủa giáo viên và học sinh để tìm các giải pháp khắc phục

3 Phương pháp thống kê: Sau khi điều tra, thống kê số liệu và so sánh đểrút ra kết luận |

4 Phương pháp thực nghiệm: Là phương pháp dạy học thông qua cáchoạt động thực hành - luyện tập của học sinh để vận dụng các giải pháp, kiểmnghiệm kết quả đạt được

2 NỘI DUNG 2.1 Cơ sở lý luận

2.1.1 Đặc điểm phát triển tư duy toán học của học sinh tiểu học nói chung và học sinh lớp 4 nói riêng

Tư duy là kỹ năng hạt nhân của hoạt động trí não, nó bắt đầu phát triển từgiai đoạn ấu thơ Khi trẻ trong độ tuổi tiểu học, khả năng tư duy đã khá pháttriển, trẻ đã có ý thức, ghi nhớ, tư duy tổng hợp, phát tán và đánh giá đối tượng

và hành vi Theo Tâm lý học, tư duy của trẻ tiểu học mang tính đột biến, chuyển

từ tư duy tiền thao tác sang tư duy thao tác Trẻ em trong giai đoạn mẫu giáo vàđầu tiểu học tư duy chủ yếu diễn ra trong trường hành động: những hành độngtrên các đồ vật và hành động tri giác (phối hợp hoạt động của các giác quan).Thực chất của loại tư duy này là trẻ tiến hành các hành động để phân tích, so

Trang 4

sánh, đối chiếu các sự vật, các hình ảnh về sự vật Về bản chất, trẻ chưa có cácthao tác tư duy - với tư cách là các thao tác trí óc bên trong

Trong giai đoạn tiếp theo, thường ở đa số học sinh lớp 3 và lớp 4, trẻ đãchuyển được các hành động phân tích, khái quát, so sánh, từ bên ngoài thànhcác thao tác trí óc bên trong, mặc dù tiến hành các thao tác này vẫn phải dựa vàocác hành động với đối tượng thực, chưa thoát li khỏi chúng Đó là các thao tác

cụ thể Biểu hiện rõ nhất của bước phát triển này trong tư duy của học sinh lớp 4

là các em đã có khả năng đảo ngược các hình ảnh tri giác, khả năng bảo tồn sựvật khi có sự thay đổi các hình ảnh tri giác về chúng

Việc lựa chọn và đưa vào dạy học “Các dấu hiệu chia hết” ở chương

trình Toán 4 sẽ góp phần hình thành và phát triển ở các em các thao tác tư duy(tư duy thao tác): phân tích, so sánh, đối chiếu, vận dụng và sáng tạo hiệu quả

2.1.2 Nội dung chương trình về dấu hiệu chia hết ở lớp 4.

Chương trình môn Toán lớp 4 có 4 tiết dạy bài mới về dấu hiệu chia hếtcho 2, cho 3, cho 5 và cho 9 Cùng với đó là 3 tiết luyện tập và một số bài tậpđược lồng ghép vào trong bài học của những tiết khác Tuy nội dung ít như vậynhưng việc vận dụng dấu hiệu chia hết vào làm các dạng bài tập khác lại rất đadạng và phong phú Học sinh có thể vận dụng dấu hiệu chia hết để làm các dạngbài tập như: Tính nhanh giá trị biểu thức; Rút gọn phân số; Quy đồng mẫu số(tìm mẫu số chung nhỏ nhất); Tìm điều kiện để phân số có giá trị là số tự nhiên;Viết các số tự nhiên theo dấu hiệu chia hết; Cấu tạo số; Tìm chữ số tận cùnghoặc chữ số còn thiếu của một số; Các bài toán về phép chia có dư;

Ngoài ra việc nắm vững kiến thức về dấu hiệu chia hết còn giúp học sinhkiểm tra kết quả bài toán, tự ra đề toán và vận dụng học các kiến thức ở lớp trên

về dấu hiệu chia hết cho 2; 3; 5; 9 và hướng dẫn học sinh làm các bài tập là xongchứ không mở rộng kiến thức và tạo tính huống để khắc sâu kiến thức

Lúc đầu, khi dạy nội dung dấu hiệu chia hết tôi cũng cảm thấy khá đơn

giản, dễ truyền thụ cho học sinh, các em cũng tiếp thu nhanh và vận dụng thựchành làm bài tập cũng khá dễ dàng Tuy nhiên, khi làm đến các bài toán “hợp”,đặc biệt là đến chương 4 “Phân số - Các phép tính với phân số” thì khả năng vậndụng để rút gọn phân số, quy đồng mẫu số các phân số của các em còn hạn chế

Đó là chưa kể đến việc vận dụng dấu hiệu chia hết vào làm một số bài tập nângcao, kiểm tra kết quả bài làm, tự ra để toán,

Để đánh giá cụ thể kết quả của thực trạng đã nêu trên tôi đã tiến hànhkhảo sát học sinh lớp 4C vào giữa tháng 1 năm 2021 với đề bài như sau:

Trang 5

ĐỀ KIỂM TRA (40 phút)

Bài 1: (2 điểm) Trong các số 17435 ; 4568 ; 66811 ; 2259 ; 35766 :

a Số chia hết cho 2 : ……….………

b Số chia hết cho 3 :

c)Số chia hết cho 5 :

d Số chia hết cho 9 :

Bài 2 : (3 điểm) Viết tiếp vào chỗ chấm : Trong các số 345 ; 400 ; 396 ; 341 ; 2000 ; 3995 ; 9010 ; 1314 : a) Các số vừa chia hết cho 2 vừa chia hết cho 5 là :

b) Các số chia hết cho 2 nhưng không chia hết cho 5 là : ………

c) Các số chia hết cho 3 nhưng không chia hết cho 9 là : ………

Bài 3 : (2 điểm) Rút gọn các phân số sau : ;

Bài 4 : (2 điểm) Một lớp học có ít hơn 35 học sinh và nhiều hơn 20 học sinh.

Nếu học sinh trong lớp xếp đều thành 3 hàng hoặc thành 5 hàng thì không thừa, không thiếu bạn nào Tìm số học sinh của lớp học đó

Bài 5 : (1 điểm) Tìm số có hai chữ số, biết rằng số đó chia cho 2 dư 1, chia cho 3

dư 2, chia cho 5 dư 4 và chia cho 6 dư 5

*Kết quả thu được như sau:

Kết quả Hoàn thành tốt Hoàn thành

Chưa hoàn thành

Điểm 9 – 10 Điểm 7 – 8 Điểm 5 – 6 Điểm < 5

Qua kết quả bài làm của học sinh và bảng thống kê kết quả cho thấy: Nhiều học sinh còn chưa nắm vững các dạng bài Trong quá trình làm bài còn lúng túng dẫn đến sai sót nhiều Nhiều em trình bày chưa rõ ràng, bước làm rườm rà, không khoa học Cụ thể :

Bài 1: Tất cả học sinh đều làm đúng vì đây là bài tập với các yêu cầu đơn

lẻ, học sinh chỉ cần nắm được khái niệm về các dấu hiệu chia hết cho 2 ; 5 ; 9 ; 3

là làm dược

Bài 2: Nếu ý a, yêu cầu cùng “chia hết cho” học sinh không vướng” (chỉ

có 1 học sinh tìm thiểu số) thì ý b và ý c đã có một số học sinh bị nhầm lẫn giữa

“chia hết” cho số này và “không chia hết” cho số kia

Bài 3: Hầu hết học sinh đều rút gọn được nhưng để đưa được về dạng phân số tối giản các em phải thực hiện qua nhiều bước chia

Bài 4: Một số học sinh tìm được kết quả đúng nhưng lập luận chưa rõ ràng

Trang 6

Bài 5 : Không có học sinh nào làm được vì bài toán có nhiều dữ kiện, đặcbiệt là lại liên quan đến “chia có dư” với nhiều số dư khác nhau

2.2.2 Nguyên nhân thực trạng trên

Kết hợp theo dõi, quan sát qua các tiết học với kết quả khảo sát trên, tôithấy có hiện trạng này là vì:

a) Về phía học sinh:

Các em mới chỉ “học vẹt” các dấu hiệu chia hết đã học, chưa biết vậndụng khi kết hợp dấu hiệu chia hết nhiều số cho nhau, nhất là chia hết cho sốnày nhưng không chia hết cho số kia

Khi rút gọn phân số các em còn lúng túng, phải thực hiện nhiều bước mớirút gọn về phân số tối giản Khả năng vận dụng dấu hiệu chia hết để lập luận,giải thích vấn đề trong bài tập còn yếu, nhất là khi vận dụng để làm các bài tậpnâng cao và các em chưa biết vận dụng linh hoạt các dấu hiệu chia hết bằng cáchphân các nhóm để dễ dàng nhận biết hơn

b) Về phía giáo viên:

Giáo viên chưa thật triệt để trong việc đổi mới phương pháp dạy học.Trong giảng dạy còn thuyết trình, giảng giải nhiều Còn hạn chế trong việc pháthuy tính tích cực, chủ động của học sinh trong học toán

2.3 Một số giải pháp, biện pháp giúp học sinh lớp 4 học tốt “dấu hiệu chia hết”

Từ thực trạng đã nêu trên, để nâng cao hiệu quả khi dạy học “Dấu hiệuchia hết cho học sinh lớp 4, trong năm học 2021 – 2022, tôi đã thực hiện các giảipháp, biện pháp cụ thể như sau:

2.3.1 Giải pháp thứ nhất: Cung cấp đầy đủ, chính xác các kiến thức liên quan đến dấu hiệu chia hết cho học sinh lớp 4

Để học sinh học tốt được dấu dấu hiệu chia hết, trước hết giáo viên cần

hướng dẫn để học sinh nắm vững được khái niệm chia hết, chia có dư và các dấuhiệu cơ bản về chia hết cho 2; 3; 5; 9 được giới thiệu trong chương trình Toán 4.Tôi đã thực hiện giải pháp này thông qua 2 biện pháp sau:

a) Biện pháp 1 Củng cố, khắc sâu cho HS khái niệm chia hết và chia có dư

Thực ra chia hết và chia có dư học sinh đã được làm quen ở lớp 3 nhưngchỉ được giới thiệu với từng phép chia cụ thể

Chính vì vậy, trong năm học 2021 - 2022, tôi đã giúp học sinh rút ra kháiniệm tổng quát nhất về “chia hết” và “chia có dư”:

Khi dạy đến tiết 67: Chia cho số có một chữ số (SGK Toán 4 - trang 77)

Sau khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu ví dụ a) 128472 : 6 và ví dụ b) 230859 : 5,tôi đã giúp học sinh rút ra kết luận:

- Chia hết: Phép chia hết là phép chia mà ở lượt chia cuối cùng số dư bằng 0 Sau đó giáo viên yêu cầu học sinh chỉ ra một số phép chia hết mà các em

đã học (Trong Vở bài tập)

Trang 7

Bên cạnh đó có em đã phát hiện ra : Trong các bảng chia đã học các phépchia đều là phép chia hết => Đây là cơ sở để GV thực hiện ở bước 1 trong khithực hiện các bước dạy về dấu hiệu chia hết

- Chia có dư: Là phép chia mà ở lượt chia cuối cùng, số dư lớn hơn 0 và

bé hơn số chia

Sau đó giáo viên yêu cầu học sinh chỉ ra một số phép chia có dư mà các

em đã học (Trong Vở bài tập)

b) Biện pháp 2 Hướng dẫn HS nhận biết các dấu hiệu chia hết cho 2; 3; 5; 9

Để giúp học sinh nắm vững dấu hiệu chia hết thì giáo viên cần:

- Nắm vững nội dung điều kiện cần và đủ của các dấu hiệu chia hết; nắmchắc và sử dụng thành thạo phương pháp và hình thức tổ chức dạy học phù hợpvới đối tượng học sinh lớp mình phụ trách

- Cần có sự chuẩn bị trước bài dạy để có khả năng dẫn dắt học sinh biếtcách sử dụng các dấu hiệu một cách chặt chẽ, logic

- Cần nắm và hiểu rõ nội dung trình bày, các dạng bài tập sẽ vận dụng củasách giáo khoa để từ đó định hướng, dẫn dắt các em năm vừng kiến thức

* Khi hình thành kiến thức mới về dấu hiệu chia hết cho học sinh ở mỗi bàitôi đều tiến hành theo các bước sau:

- Bước 1: Phát hiện các số chia hết cho 2 (hoặc 5 ; 9 ; 3) từ các bảng chia

đã học Tìm ra đặc điểm của các số chia hết cho 2 (hoặc 5 ; 9 ; 3) trong các bảngchia vừa nêu

- Bước 2: Tìm các số khác nhau có đặc điểm giống với đặc điểm của các số

bị chia trong các bảng chia nêu trên để học sinh so sánh, đối chiếu, Từ đó tìm rađiểm chung của các số chia hết cho 2 hoặc 5 ; 9 ; 3

- Bước 3 : Lấy bất kì một số nào đó có cùng đặc điểm với các số chia hếtcho 2 (hoặc 5 ; 9 ; 3) dưới dạng điều kiện đủ Đó chính là kiến thức ghi nhớđược rút ra của mỗi bài học

* Ví dụ : Khi dạy bài : Dấu hiệu chia hết cho 2 (SGK Toán 4 - trang 94)

Tôi đã tiến hành như sau :

- Bước 1 : + Giáo viên yêu cầu học sinh đọc bảng chia 2

+ Học sinh chỉ ra các số bị chia có trong bảng (- GV ghi lên bảng như sau : 2 ; 4 ; 6 ; 8 ; 10

12 ; 14 ; 16 ; 18 ; 20)+ Học sinh nêu nhận xét về đặc điểm của các số bị chia này

- Bước 2 : Yêu cầu mỗi học sinh lấy một số bất kì và kiểm tra xem số đó cóchia hết cho 2 hay không ?

(Khi các em nêu GV kết hợp ghi lên bảng:

+ Số chia hết cho 2: 124 ; 2300 ; 598 672; 2016;

+ Số không chia hết cho 2 : 351 ; 487 ; 9109 )

Trang 8

Tôi chú ý hướng dẫn học sinh rút ra đặc điểm chung của các số chia hết cho 2:

Là những số có chữ số tận cùng là 0 ; 2 ; 4 ; 6 ; 8

- Bước 3 : Rút ra ghi nhớ về dấu hiệu chia hết cho 2

Ở bước này tôi tổ chức trò chơi “Bày tỏ ý kiến”: GV lần lượt đưa ra một

số số tự nhiên, HS giơ thẻ màu đỏ nếu số đó chia hết cho 2; giơ thẻ màu xanhnếu số đó không chia hết cho 2

Sau khi đã nắm được dấu hiệu chia hết cho 2, HS dễ dàng chỉ ra được sốchia hết cho 2 là số chẵn; số không chia hết cho 2 là số lẻ Đây là cơ sở quantrọng để các em làm các bài tập nâng cao hoặc các bài tập có tính “hợp”

* Với các bài dạy về dấu hiệu chia hết cho 5; hoặc 9; 3, tôi cũng tiến hànhtương tự như vậy Khi thực hiện các bước dạy này, GV đã lấy HS làm trung tâm,học sinh tự tìm tòi khám phá kiến thức, GV chỉ là người dẫn dắt, định hướng

HS

* Nếu như trong các năm học trước ở mỗi bài dạy tôi chỉ dừng lại ở đó thìmới chỉ cung cấp cho các em kiến thức “cần” về dấu hiệu chia hết cho 2 (hoặc 5;9; 3) mà thôi, điều này chỉ mới giúp các em làm các bài tập dạng đơn giản cònkhi gặp các bài tập phức tạp hơn thì các em sẽ gặp khó khăn (tốn nhiều thời gianlàm bài, có thể làm sai ) Chính vì vậy, trong năm học 2021 - 2022, ở mỗi bàidạy kiến thức mới, sau khi HS rút ra được kết luận về dấu hiệu chia hết, tôi đềuđưa ra các ví dụ tình huống để từ đó giúp các em củng cố, mở rộng kiến thức

Ví dụ sau khi dạy bài “Dấu hiệu chia hết cho 2” (SGK trang 94) tôi đã

đưa ra bài tập tình huống sau:

Viết vào dấu * ở số 98* một chữ số để được số có 3 chữ số và :

- Là số chia hết cho 2

- Là số không chia hết cho 2 (Viết tất cả các số có thể viết được)

Với bài tập này, trước hết HS phải xác định được dấu * là dấu biểu thị chữ

số ở hàng nào ? Yêu cầu của đề là gì?

HS viết được số chia hết cho 2 là : 980 ; 982 ; 984 ; 986 ; 988

Số không chia hết cho 2 là : 981 ; 983 ; 985 ; 987 ; 989

Từ đó các em tự rút ra được kết luận: Số không có chữ số tận cùng là 0; 2;4; 6; 8 thì không chia hết cho 2 và mỗi số đó khi chia cho 2 thì dư 1

Hay đối với bài “Dấu hiệu chia hết cho 5” (SGK trang 95)

Ở phần củng cố kiến thức cuối tiết học, tôi yêu cầu HS làm bài tập sau:

“Cho các số : 81 ; 19 120 ; 702 ; 235 ; 553 ; 684 ; 56 ; 107 ; 118

- Tìm trong đó các số chia hết cho 5

- Trong các số đó những số nào không chia hết cho 5 ? Các số này có chữ

số tận cùng là 0 hoặc 5 không ?

- Thực hiện phép chia mỗi số đó cho 5 để tìm thương và số dư.”

Hướng dẫn HS làm bài và rút ra kết luận:

Trang 9

- Những số chia hết cho 5 là : 120 ; 235

- Những số không chia hết cho 5 là : 81 ; 19 ; 702 ; 553 ; 684 ; 56 ; 107 ;

118 (Những số này không có chữ số tận cùng là 0 hoặc 5)

- HS thực hiện phép chia mỗi số đó cho 5 để tìm thương, số dư :

2 thì có chữ số tận cùng là 2 hoặc 7 Số chia cho 5 dư 3 thì có chữ số tận cùng là

3 hoặc 8 Số chia cho 5 dư 4 thì có chữ số tận cùng là 4 hoặc 9

- Bài “Dấu hiệu chia hết cho 9” (SGK – trang 97)

Sau khi HS làm xong bài tập 2 (trang 97 – SGK) : “Trong các số sau, số nào không chia hết cho 9 ?

Khi hai dãy đã thực hiện xong nhiệm vụ, tôi yêu cầu các em so sánh số dưcủa mỗi cặp tính tương ứng :

5 +5 +5 + 4 = 19 mà 19 : 9 = 2 dư 1

1 + 0 +9+7= 17 mà 17 : 9 = 1 dư 8

Từ đó, HS rút ra kết luận : Số dư trong phép chia một số cho 9 chính là số

dư của phép chia của số tạo bới tổng các chữ số của số đó cho 9

- Bài “Dấu hiệu chia hết cho 3” (SGK trang 97)

Đến bài này, tôi chỉ yêu cầu HS so sánh đặc điểm của dấu hiệu chia hết

cho 3 và dấu hiệu chia hết cho 9 với nhau để các em tự rút ra được kết luận :

- Số dư trong phép chia một số cho 3 chính là số dư của phép chia của số tạo bởi tổng các chữ số của số đó cho 3

- Mọi số chia hết cho 9 đều chia hết cho 3 vì 9 là số chia hết cho 3

Để củng cố lại các kết luận mà HS vừa mới rút ra, tôi đã tổ chức cho HSchơi trò chơi “Đố bạn”: Tìm nhanh số dư trong phép chia một số cho 3 hoặc cho

Trang 10

9 Kết quả là các em xác định nhanh, chính xác và rất hào hứng với khám phácủa mình

2.3.2 Giải pháp thứ hai : Tạo hứng thú học toán cho HS ở mỗi bài dạy

Những bài hát đồng dao là những bài hát qua nội dung, các em được giáodục hiệu quả những bài học sống, kinh nghiệm, kiến thức trong sinh hoạt hàngngày Đồng dao là một kho tàng những tri thức phong phú, bình dị và có ý nghĩa

quan trọng đối với trẻ thơ, “Qua những bài hát đồng dao tưởng chừng như đơn giản mộc mạc đó, ông cha ta đã dạy cho các thế hệ được trưởng thành, có kiến thức đa dạng biết cách quan sát sự vật xung quanh cuộc sống đời thường, biết yêu thương và kinh trong gia đình, ông bà, cha mẹ và biết trân trọng cuộc sống.” Nếu chúng ta biến tấu chuyển thể các khái niệm của toán học sẽ gây được

hứng thú học tập cho học sinh, giúp các em nắm được kiến thức tốt hơn

Biện pháp: Đặt lời mới cho một số bài đồng dao gần gũi để giúp HS nắm được một số dấu hiệu chia hết đã học

HS tiểu học dễ nhớ nhưng cũng nhanh quên Để các em dễ thuộc và nhớlâu kiến thức đã học, trong năm học 2021 – 2022, tôi đã đặt lời mới có nội dungdấu hiệu chia hết cho một số bài đồng dao và dạy cho các em Nhờ đó, các emhứng thú hơn, ghi nhớ nhanh và bền vững hơn trong mỗi giờ học

*) Bài “Dung dăng dung dẻ”:

Sau khi dạy bài “Dấu hiệu chia hết cho 2”, tôi tổ chức cho HS vừa chơitrò chơi vừa hát bài “Dung dăng dung dẻ”

Cách chơi : Phát ngẫu nhiên cho mỗi học sinh trong lớp 1 thẻ hoa ghi một

số bất kì Chia lớp thành 2 dãy và quy ước :

+ Dãy bên tay phải dành cho những bạn cầm thẻ ghi số chẵn

+ Dãy bên tay trái dành cho những bạn cầm thẻ ghi số lẻ

HS vừa hát vừa tìm để ngồi đúng vị trí đã quy ước

Bài đồng dao này giúp các em nắm được dấu hiệu chia hết cho 2 và khái niệm “số chẵn”, “số lẻ”

Dung dăng dung dẻ

*) Bài “Kéo cưa lừa xẻ” :

Đây là bài đồng dao giúp HS nắm được dấu hiệu chia hết cho 3 và 9

Kéo cưa lừa xẻ

Kéo cưa lừa kít

Số ít hay nhiều Tổng các chữ số

Đem chia cho 9 Thì đều chia hết Kéo cưa lừa xẻ Kéo cưa lừa kít

Ngày đăng: 09/06/2022, 20:42

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w