1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(SKKN 2022) Một số giải pháp chỉ đạo giáo viên sử dụng phương pháp trò chơi kết hợp thảo luận nhóm trong dạy học môn Khoa học nhằm giáo dục kĩ năng sống cho học sinh.

24 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 245,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để dạy tốt môn khoa học, người giáo viên GV cần biết phối kết hợp cácphương pháp dạy học như: Phương pháp quan sát; phương pháp thí nghiệm; phương pháp nhóm; phương pháp trò chơi học tập

Trang 1

2.5 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với

bản thân, đồng nghiệp và nhà trường.

Trang 2

1 MỞ ĐẦU

1.1 Lý do chọn đề tài

Giáo dục trên thế giới rất chú trọng giáo dục kĩ năng sống (KNS) cũng cónghĩa là quan tâm đến điều kiện về hoàn cảnh sống của từng đối tượng học sinh.Bốn trụ cột của giáo dục thế kỉ 21 mà UNESCO đưa ra thực chất cũng là tiếpcận kĩ năng sống, nêu lên những vấn đề chủ chốt mà mỗi cá nhân cần được trang

bị để có một cuộc sống tốt đẹp cả về vật chất và tinh thần: Đó là: Học để biết học để làm, học để làm người và học để chung sống”

-Trong luật giáo dục năm 2019 đã quy định mục tiêu Giáo dục Tiểu học(GDTH) Việt nam: “Giáo dục Tiểu học nhằm hình thành cơ sở ban đầu cho sựphát triển về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ, năng lực của học sinh; chuẩn bịcho học sinh tiếp tục học trung học cơ sở.”

Như vậy đổi mới giáo dục nhằm đào tạo thế hệ trẻ đáp ứng những yêu cầuphát triển kinh tế, xã hội của đất nước Giáo dục kĩ năng sống là cầu nối giúpcon người biến kiến thức thành những hành động cụ thể, những thói quen lànhmạnh Người có kỹ năng sống là người luôn luôn vững vàng trước khó khăn, thửthách họ thường thành công hơn trong cuộc sống, luôn yêu đời và làm chủ đượccuộc sống của mình

Đối với học sinh Tiểu học (HSTH), giáo dục kĩ năng sống có tầm quantrọng đặc biệt Ở lứa tuổi này trẻ phát triển rất nhanh chóng về mặt tâm sinh lý.Bên cạnh sự phát triển nhanh về thể chất, thì óc tò mò, xu thế thích cái mới lạ,thích tự được khẳng định mình, thích làm người lớn, dễ hành động bột phát, nhucầu giao lưu với bạn bè cùng lứa tuổi,… cũng phát triển Do thiếu những kinhnghiệm sống và suy nghĩ còn nông cạn, cảm tính nên các em có thể ứng phókhông lành mạnh trước những áp lực trong cuộc sống hàng ngày, đặc bệt là áplực tiêu cực từ bạn bè và người xấu như: Sa vào các tệ nạn xã hội, phạm pháp, tựvẫn hoặc có những hành vi bạo lực với người khác

Môn khoa học được xây dựng trên cơ sở kế thừa và phát triển các mạchkiến thức về con người và sức khỏe, về tự nhiên và xã hội ở các lớp 1,2,3 Làmôn học có tính tích hợp cao kiến thức của khoa học thực nghiệm (sinh học, vật

lí, hóa học…) với khoa học về sức khỏe

Để dạy tốt môn khoa học, người giáo viên (GV) cần biết phối kết hợp cácphương pháp dạy học như: Phương pháp quan sát; phương pháp thí nghiệm;

phương pháp nhóm; phương pháp trò chơi học tập… Trong đó phương pháp Trò chơi học tập là một trong những phương pháp dạy học có hiệu quả nhằm khuyến

khích sự tò mò khoa học, thói quen đặt câu hỏi, tìm câu giải thích khi các emđược tiếp cận với thực tế, qua đó các em dễ dàng ghi nhớ nội dung bài học

“ Trò chơi học tập là một phương pháp dạy học giúp các em vui vẻ hẳn lên,thích hoạt động hơn… Khi bị khép vào luật chơi, các em dần có trật tự, kỷ luậthơn…”

- Trò chơi học tập còn có một vai trò rất lớn trong mỗi tiết học vì:

+ Nó làm thay đổi không khí lớp học, tập thể có được bầu không khí vui

vẻ, thân ái, thông cảm

Trang 3

+ Quá trình học tập còn trở thành 1 hình thức vui chơi hấp dẫn.

+ HS thấy nhanh nhẹn cởi mở hơn

+ HS tiếp thu bài tự giác, tích cực hơn

cá nhân, nếu có tổ chức cũng chỉ là gượng ép, miễn cưỡng Một số giáo viên khi

sử dụng Trò chơi học tập lại chưa biết lựa chọn nội dung bài dạy để vận dụng

phương pháp trò chơi cho hợp lý, hoặc trò chơi đưa ra không có tác dụng thiết

thực phục vụ mục tiêu bài học nên việc tổ chức Trò học tập chơi chưa đạt hiệu

quả…

Việc nghiên cứu sử dụng phương pháp trò chơi kết hợp với thảo luận nhómnhằm GDKNS cho học sinh không những có ý nghĩa về mặt lí luận mà còn có ýnghĩa trong thực tiễn Một mặt góp phần vào việc đổi mới phương pháp dạy họchiện nay ở Tiểu học theo hướng tổ chức cho học sinh học tập dưới sự tổ chứchướng dẫn của giáo viên nhằm phát triển phẩm chất và năng lực cho học sinh

Vì vậy tôi chọn đề tài nghiên cứu của mình là: “Một số giải pháp chỉ đạo

Giáo viên sử dụng phương pháp trò chơi kết hợp thảo luận nhóm trong dạy học môn Khoa học nhằm giáo dục kĩ năng sống cho học sinh” ở trường Tiểu

học Đông Vệ 2, thành phố Thanh Hóa

1.2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu việc sử dụng phương pháp trò chơi kết hợp thảo luận nhómtrong dạy học môn khoa học nhằm giáo dục kĩ năng sống cho học sinh Tiểu học

1.3 Đối tượng nghiên cứu

Giải pháp chỉ đạo giáo viên sử dụng phương pháp trò chơi kết hợp thảoluận nhóm trong dạy học môn Khoa học nhằm giáo dục KNS cho học sinh Tiểuhọc

1.4 Phương pháp nghiên cứu

1.4.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận: Đọc, phân tích tài liệu liên quan đến

đề tài nghiên cứu

1.4.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

Phương pháp thu thập số liệu những thông tin khái quát về thực trạng sửdụng phương pháp trò chơi, phương pháp thảo luận nhóm của giáo viên, thực

Trang 4

trạng việc giáo dục KNS cho học sinh trong quá trình dạy học môn Khoa học ởtrường Tiểu học.

Phương pháp quan sát: Dự giờ môn Khoa học để quan sát hoạt động dạy vàhọc của giáo viên, học sinh

Phương pháp thực nghiệm: Thực nghiệm tác động trên các lớp học khối 4,khối 5 ở trường Tiểu học Đông Vệ 2 với mục đích khẳng định tính hiệu quả, tínhkhả thi của vấn đề nghiên cứu

Phương pháp thống kê toán học: Thống kê số liệu thu được từ khảo sát thựctrạng và thực nghiệm

2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 2.1 Cơ sở lý luận của sáng kiến

2.1.1 Khái niệm kĩ năng sống

Kĩ năng sống (KNS) là năng lực cá nhân để thực hiện đầy đủ các chức năng

và tham gia vào cuộc sống hàng ngày, đó là những kĩ năng thiết thực mà conngười cần có để có cuộc sống an toàn và khỏe mạnh Các KNS nhằm giúp chúng

ta chuyển dịch kiến thức “Cái chúng ta biết” và “thái độ, giá trị “Cái chúng tacảm nghĩ, cảm thấy, tin tưởng” thành hành động thực tế “ Làm gì và theo cáchnào?” là tích cực nhất và mang tính chất xây dựng

Kĩ năng sống bao giờ cũng gắn với các nội dung giáo dục cụ thể như giáodục vệ sinh, dinh dưỡng và phòng bệnh Hoặc có thể là giáo dục hành vi, cách

cư xử, giáo dục an toàn trên đường phố, giáo dục bảo vệ môi trường, hay giáodục lòng yêu hòa bình

Kĩ năng sống được hình thành và củng cố qua quá trình thực hành và trảinghiệm của bản thân, nó giúp cho mỗi cá nhân nâng cao năng lực ứng phó trongmọi tình huống căng thẳng mà mỗi người phải gặp hằng ngày

Mục tiêu của GDKNS cho học sinh tiểu học là nhắm giúp trẻ:

- Có kĩ năng để tự bảo vệ trước những vấn đề xã hội có nguy cơ ảnh hưởngcuộc sống khỏe mạnh và an toàn của các em Lạm dụng ma túy và các chất gâynghiện, quan hệ tình dục sớm và tình trạng mang thai ở trẻ chưa thành niên,nguy cơ lạm dụng tình dục, hoạt động băng nhóm phạm pháp, nguy cơ lâynhiễm HIV/AIDS … Giúp trẻ phòng ngừa những hành vi nguy cơ có hại cho sứckhỏe và sự phát triển của các em

- Làm cho bản thân có khả năng thích ứng, biết cách ứng phó trước nhữngtình huống khó khăn trong giao tiếp hàng ngày của các em

- Rèn luyện cách sống có trách nhiệm với bản thân, bạn bè, gia đình vàcộng đồng khi các em lớn lên trong một xã hội hiện đại

- Mở ra cho trẻ những cơ hội, hướng suy nghĩ, hướng đi tích cực và tự tincũng như giúp trẻ tự có quyết định và chọn lựa đúng đắn trong các vấn đề củacuộc sống

Đặc điểm tâm lí của học sinh Tiểu học là các em thích tò mò, bắt chước làđặc tính phổ biến và các em cũng chịu nhiều ảnh hưởng của bạn bè cùng tranglứa, vốn sống của các em còn nông cạn nên có thể dẫn đến những hành vi ứngphó không lành mạnh, kết quả là làm tổn hại đến các em Trong điều kiện hiện

Trang 5

nay các em được tiếp xúc với xã hội bên ngoài những yếu tố tích cực của sự pháttriển xã hội thì những ảnh hưởng tiêu cực của cơ chế thị trường, của sự bùng nổthông tin, của sự du nhập lối sống thực dụng… đã tác động mạnh mẽ đến các

em Nếu không được trang bị các KNS cần thiết và có bản lĩnh vững vàng thìcác em dễ trở thành nạn nhân của tình trạng lạm dụng bạo lực, căng thẳng, mấtlòng tin, mặc cảm…

Do đó việc giáo dục KNS cho học sinh Tiểu học có một ý nghĩa hết sứcquan trọng và cần thiết để giúp các em hình thành những hành vi, thói quen lànhmạnh có trách nhiệm với bản thân, gia đình và cộng đồng, có khả năng ứng phómột cách có hiệu quả sự lôi kéo của bạn bè đồng trang lứa Giúp các em có mộtcuộc sống an toàn, lành mạnh về thể chất và tinh thần

Một số kĩ năng cần giáo dục cho học sinh Tiểu học đó là:

- Kĩ năng tự nhận thức: Tự nhận thức là một KNS cơ bản, nó giúp cho cánhân hiểu rõ về bản thân mình: Đặc điểm, tính cách, thói quen, thái độ, ý kiến,cách suy nghĩ, cảm xúc, nhu cầu của chính mình, các mỗi quan hệ xã hội cũngnhư những điểm tích cực và hạn chế của bản thân Mỗi các nhân có bản sắcriêng, có những điểm mạnh điểm yếu Chúng ta ai cũng có những ưu điểm đáng

tự hào và những nhược điểm cần cố gắng hoàn thiện thêm, vì vậy mỗi người cần

tự tin vào bản thân, đừng mặc cảm tự ti Điều quan trọng là phát huy những mặtmạnh, khắc phục những điểm yếu để ngày càng hoàn thiện mình hơn Đồng thờigiáo dục các em cần tôn trọng người khác, thừa nhận những điểm hay, điểmmạnh của người khác để hoàn thiện bản thân

Kĩ năng tự nhận thức sẽ giúp học sinh Tiểu học hiểu rõ về bản thân mình:Bước đầu có những đặc điểm sinh lý, tính cách thói quen, rồi cách suy nghĩ, cảmxúc, nhu cầu của bản thân khi bước vào tuổi vị thành niên Từ đó các em có thái

độ dúng đắn không hoảng hốt lo sợ khi có sự thay đổi về sinh lý

- Kĩ năng giao tiếp:

Giao tiếp là bản chất của các mối quan hệ của con người Mối quan hệthanh thiếu niên nói chung, học sinh nói riêng rất đa dạng và phong phú: Quan

hệ vói người thân trong gia đình, với thầy cô giáo, với bạn bè cùng lứa tuổitrong và ngoài trường học, với những người các em gặp gỡ trong cuộc sống.Học sinh cần phải biết cách giao tiếp và đối xử một cách phù hợp trong từngmối quan hệ để các em có thể phát triển tối đa tiềm năng sẵn có trong môitrường sống của mình

Kĩ năng giao tiếp giúp cho quá trình tương tác giữa cá nhân và tương táctrong nhóm và với tập thể đông đảo hơn Nó giúp cá nhân bày tỏ suy nghĩ, cảmxúc và tâm trạng của mình, giúp người khác hiểu rõ mình hơn Thái độ cảmthông với người khác cũng góp phần giúp các em giải quyết vấn đề mà các emgặp phải

Kĩ năng hợp tác và làm việc tập thể là các yếu tố quan trọng trong KN giaotiếp, đem lại hiệu quả làm việc trong nhóm và giúp cá nhân tăng cường sự tự tin

và hiệu quả trong việc thương thuyết, xử lý tình huống và giúp đỡ người khác Mặc dù giao lưu bạn bè chưa phải là hoạt động chủ đạo của học sinh Tiểu học,song trong quá trình tham gia hoạt động học tập ở trường đòi hỏi các em kĩ năng

Trang 6

hợp tác và làm việc cụ thể Vì vậy cần giúp học sinh có được kĩ năng này thôngqua quá trình dạy học các môn học đặc biệt là môn khoa học để các em biếtthông cảm chia sẻ với bạn bè, đứng vững trước sự lôi kéo vào những thói hư tậtxấu của bạn bè, thông cảm không kì thị với những người bị nhiễm HIV, chia sẻtâm sự để tìm kiếm sự giúp đỡ của bạn bè, người thân khi gặp các tình huốngkhó khăn, căng thẳng trong cuộc sống…

Kĩ năng ra quyết định: Trong cuộc sống hàng ngày mỗi người đều phải ranhiều quyết định Tùy theo tình huống xảy ra, mỗi người đều phải lựa chọn mộtquyết định đúng đắn, đồng thời phải ý thức được các tình huống có thể xảy ra do

sự lựa chọn của mình Với mỗi quyết định đúng đắn các em có thể mang lại sựthành công cho cá nhân, niềm vui cho cha mẹ, anh em bạn bè và những ngườithân khác Tuy nhiên, các em cũng có những quyết định không phù hợp dẫn đến

sự thất bại của bản thân, làm ảnh hưởng đến gia đình và những người xungquanh Bên cạnh đó trước những hoàn cảnh phức tạp, học sinh không biết đưa raquyết định như thế nào cho phù hợp

Kĩ năng này nhằm giúp học sinh luyện KN suy nghĩ có phê phán, tư duysáng tạo, cân nhắc cái lợi, các hại của từng vấn đề để cuối cùng có được quyếtđịnh đúng đắn Nên và không nên làm gì để bảo vệ sức khỏe của bản thân, giađình, cộng đồng, bảo vệ môi trường để phòng tránh bị xâm hại, kĩ năng kiênđịnh, quyền tự chối, quyền tự bảo vệ và kĩ năng tôn trọng quyền của người khác.Kiên quyết nói không với các chất gây nghiện, với sự rủ rê lôi kéo của kẻ xấu

- Kĩ năng giải quyết vấn đề Vấn đề là những sự việc, khó khăn thách thức

mà các em thường gặp trong những hoàn cảnh cụ thể của cuộc sống Đứng trướcmột vấn đề cần giải quyết các em cần nhận diện đầy đủ vấn đề đang xảy ra, biếtxác định các phương án khác nhau nhằm giải quyết vấn đề đó, biết phân tích vàlựa chọn các phương án tối ưu, phù hợp nhất với điều kiện hoàn cảnh của mình.Mỗi học sinh sẽ có cách giải quyết khác nhau dẫn đến những kết quả khác nhau

Do đó sau khi lựa chọn phương án giải quyết vấn đề, các em cần đánh giá kếtquả thực hiện lựa chọn đã có nhằm rút kinh nghiệm cho bản thân Để các em cóthể giải quyết vấn đề một cách đúng đắn, các em cần vận dụng tốt nhiều kĩ năngkhác nhau, đặc biệt là kĩ năng ra quyết định

Phương pháp trò chơi Là cách thức tổ chức cho HS tiến hành một trò chơinào đó để tìm hiểu một vấn đề hoặc được bày tỏ thái độ hay hành vi, việc làmphù hợp trong một tình huống cụ thể

* Khái niệm trò chơi học tập

Trò chơi không chỉ là một “công cụ” dạy học mà nó còn là con đường sángtạo xuyên suốt quá trình học tập của HS Phương pháp tổ chức trò chơi khôngchỉ là cách thức tổ chức dạy và học của thầy và trò mà nó còn tạo cho ta cảmgiác thoải mái, tự tin, có sự sáng tạo, nhanh trí, có óc tư duy, tưởng tượng củahọc sinh Dạy kết hợp với tổ chức trò chơi chính là việc giáo viên hướng dẫn HShoàn thành tốt phẩm chất của con người mới XHCN

* Tổ chức trò chơi là một hình thức tổ chức dạy học, chơi là một biện pháphọc tập có hiệu quả của học sinh Thông qua trò chơi, HS được tập luyện, làm việc

cá nhân, làm việc theo đơn vị tập thể theo sự phân công với tinh thần hợp tác

Trang 7

Để sử dụng phương pháp trò chơi có hiệu quả cần lưu ý một số vấn đề sau:-Trò chơi phù hợp với nội dung, mục tiêu giáo dục, với trình độ của học sinh,với quỹ thời gian, điều kiện thực tế của lớp học.

- Phải chuẩn bị những đồ dùng cần thiết để phục vụ cho trò chơi Học sinhphải nắm được luật chơi, cách chơi

- Trò chơi phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh,phải thu hút được nhiều học sinh tham gia chơi

- Sau khi chơi giáo viên cần tổ chức cho học sinh thảo luận để nhận ra ýnghĩa giáo dục của trò chơi

* Phương pháp thảo luận nhóm:

Về bản chất phương pháp này là tổ chức cho trẻ bàn bạc, trao đổi trongnhóm nhỏ về một chủ đề xác định

Phương pháp này có những ưu, nhược điểm như sau:

- Ưu điểm: Giúp cho mọi trẻ tham gia một cách chủ động vào quá trình họctập, tạo cơ hội cho họ có thể chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm, ý kiến giải quyếtmột vấn đề có liên quan đến cuộc sống Thảo luận nhóm còn rèn cho học sinh kĩnăng giao tiếp trong học tập, thoải mái tự tin trong việc trình bày ý kiến củamình, biết lắng nghe có phê phán ý kiến của các thành viên khác

Hạn chế: Nếu tổ chức không tốt thì giờ học sẽ ồn ào, một số học sinh sẽ ỷlại vào người khác, dễ làm mất thời gian

Để sử dụng phương pháp thảo luận nhóm có hiệu quả cần lưu ý:

- Giáo viên cần chuẩn bị chu đáo Kế hoạch dạy học, xác định rõ nhiệm vụhọc tập cho từng nhóm

- Không nên chia nhóm quá đông, hoặc quá ít Một nhóm làm việc hiệu quảthường 4 - 6 người…

- Các nhóm có thể làm cùng một nhiệm vụ hoặc khác nhau

- Cần quy định rõ thời gian thảo luận và trình bày kết quả thảo luận cho cácnhóm

- Để thảo luận có hiệu quả, mỗi nhóm nên chọn một nhóm trưởng điềukhiển TLN, một người ghi chép kết quả thảo luận để sau đó trình bày trước lớp.Vai trò này cần được luân phiên nhau trong nhóm

2.1.2 Mục tiêu, đặc điểm của môn Khoa học

Môn Khoa học được chính thức đưa vào dạy đại trà từ năm học 2005

-2006 đến nay, đây là môn học có vị trí quan trọng ở bậc Tiểu học Mục tiêu cơbản của môn học này là:

* Một số kiến thức cơ bản ban đầu về:

Sự trao đổi chất, nhu cầu dinh dưỡng và sự sinh sản, sự lớn lên của cơ thểngười Cách phòng tránh một số bệnh thông thường và bệnh truyền nhiễm

- Sự trao đổi chất, sự sinh sản của động vật thực vật

- Đặc điểm ứng dụng của một số chất, một số vật liệu và nguồn năng lượngthường gặp trong đời sống và sản xuất

* Một số kĩ năng ban đầu:

- Ứng xử thích hợp trong các tình huống có liên quan đến sức khỏe của bảnthân, gia đình và cộng đồng

Trang 8

- Quan sát và làm một số thí nghiệm, thực hành khoa học đơn giản, gần gũivới đời sống, sản xuất.

- Nêu thắc mắc, đặt câu hỏi trong quá trình học tập, biết tìm thông tin đểgiải đáp, biết diễn đạt những hiểu biết bằng lời nói, bài viết, hình vẽ, sơ đồ…

- Phân tích, so sánh, rút ra những dấu hiệu chung và riêng của một sự vật,hiện tượng đơn giản trong tự nhiên

- Yêu con người, thiên nhiên, đất nước, yêu cái đẹp

- Tích cực tham gia bảo vệ môi trường xung quanh

Môn Khoa học là môn học về môi trường, thiên nhiên, con người, nó rấtgần gũi với học sinh Do vậy, HS có những kinh nghiệm, vốn hiểu biết nhấtđịnh Đây là môn học có nhiều nội dung sinh động, hấp dẫn, đáp ứng được sự tò

mò, lòng ham hiểu biết của học sinh Tiểu học Vì vậy việc tổ chức trò chơi kếthợp thảo luận nhóm sẽ khai thác được kinh nghiệm sống, hình thành và pháttriển các KNS để học sinh có khả năng ứng phó với các tình huống phù hợp giúpcác em tự tin trong cuộc sống

2.2 Thực trạng vấn đề

Để xác lập cơ sở thực tiễn cho đề tài nghiên cứu, tôi đã khảo sát thực trạngviệc sử dụng phương pháp trò chơi kết hợp thảo luận nhóm trong dạy học mônKhoa học

* Nội dung khảo sát:

- Nhận thức của giáo viên về vấn đề giáo dục kĩ năng sống cho học sinh TH

- Nhận thức của giáo viên về vai trò của phương pháp trò chơi kết hợpThảo luận nhóm trong dạy học môn Khoa học

- Cách thức sử dụng phương pháp trò chơi kết hợp với TLN của giáo viêntrong dạy học môn Khoa học nhằm GDKNS cho HS Tiểu học

* Phương pháp khảo sát:

Tôi đã sử dụng phương pháp điều tra, tổng kết kinh nghiệm, dự giờ dạy học

để trực tiếp quan sát hoạt động của giáo viên và học sinh

* Đối tượng khảo sát:

Giáo viên: 13 Giáo viên dạy khối 4 và khối 5, trong đó trình độ đào tạo:Đại học sư phạm Tiểu học: 10 đ/c, Đại học ngữ văn: 01đ/c, Cao đẳng SP Tiểuhọc: 02 đ/c

Học sinh: 522 học sinh, trong đó khối 4: 252 học sinh, khối 5: 270 học sinh

Bảng 2.2.1 Nhận thức của giáo viên về khái niệm kĩ năng sống

%

1 Kĩ năng sống chính là các kĩ năng quan trọng của

cuộc sống mà con người có được trong quá trình

trưởng thành như đọc, đếm… các kĩ năng, kĩ thuật,

Trang 9

thực hành….

2 Kĩ năng sống được hiểu như là khả năng tâm lí xã

hội của người cho những hành vi thích ứng và tích

cực giúp cho bản thân đối phó hiệu quả với những đòi

hỏi và thử thách của cuộc sống

Qua khảo sát cho thấy nhận thức của giáo viên chưa hiểu đúng về bản chấtcủa KNS Giáo viên chưa phân biệt được KNS là kĩ năng phản ánh khả năng tâm

lí xã hội khác với kĩ năng quan trọng khác được gọi là “kĩ năng của cuộc sống”

mà con người thu nhận được khi lớn lên như: Đọc, đếm … các kĩ năng, kĩ thuậtthực hành có 15.2%, có 23% giáo viên hiểu Kĩ năng sống là “kĩ năng phản ánhkhả năng tâm lí xã hội của người” Với cách hiểu như trên trong quá trình dạy họcgiáo viên sẽ thiên về rèn cho học sinh kĩ năng của cuộc sống bởi các kĩ năng nàygiáo viên nhìn thấy ngay kết quả Có đến 61.8% giáo viên hiểu KNS bao gồm cả

kĩ năng của cuộc sống và và khả năng tâm lí xã hội của con người cho nhữnghành vi thích ứng và tích cực giúp cho bản thân đối phó hiệu quả với những đòihỏi và thử thách của cuộc sống Như vậy, với cách hiểu như trên nếu chúng takhông giúp đỡ GV Tiểu học hiểu đúng bản chất về KNS thì sẽ có 2 khuynh hướngxảy ra đối với giáo viên trong quá trình dạy học:

+ Giáo viên sẽ yên tâm, bằng lòng trong quá trình dạy học cho rằng đã làmtròn trách nhiệm, đã cung cấp và rèn được đầy đủ KNS cho HS sau này các em

tự tin bước vào cuộc sống

+ Giáo viên chưa định hướng là rèn KNS cho học sinh là rèn những nộidung gì? Rèn những kĩ năng nào? Sách giáo khoa thể hiện như thế nào để có tưliệu trong quá trình giảng dạy môn Khoa học

Qua điều tra cho thấy có đến 33.3 % giáo viên cho rằng nội dung chươngtrình môn Khoa học chưa có sự tích hợp GDKNS để dạy cho học sinh Có 36,7

% giáo viên nhận thấy trong nội dung chương trình môn Khoa học đã có sự tíchhợp, lồng ghép về các KN nhưng nhiều nội dung chưa tường minh, chỉ có 30%giáo viên hiểu được nội dung chương trình môn Khoa học đã có sự lồng ghéptương đối chặt chẽ nội dung giảng dạy KNS cho học sinh Tiểu học.Qua khảo sát,với những số liệu trên có thể khẳng định rằng một số GVTH chưa hiểu đúng vềbản chất KNS của con người Chính vì vậy, trong quá trình dạy học GV còn rấtnhiều khó khăn, hiệu quả giảng dạy thấp Nhiệm vụ của chúng ta là: Cần phảibồi dưỡng cho GVTH hiểu đúng về bản chất khái niệm KNS, đồng thời chỉ ratính ưu việt của chương trình môn Khoa học đã có sự tích hợp tương đối chặtchẽ về nội dung, đồng thời phải xây dựng cho giáo viên một quy trình, phươngpháp giảng dạy một cách hợp lý nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả giảng dạy

Bảng 2.2.2. Phân chia các mức độ nhận thức của giáo viên về vấn đề giáo dục kĩ năng sống cho HS Tiểu học

Trang 10

Lí do vì:

- Rèn kĩ năng ứng xử hợp lí vớicác tình huống trong cuộc sống thóiquen và kĩ năng làm việc, sinh hoạttheo nhóm

- Rèn luyện sức khỏe và ý thức bảo

vệ sức khỏe, kĩ năng phòng chốngtai nạn giao thông, đuối nước vàcác tai nạn thương tích khác

- Rèn luyện kĩ năng ứng xử vănhóa, chung sống hòa bình, phòngngừa bạo lực và các tệ nạn xã hội

- Kĩ năng sống do di truyền để lạiQua bảng thống kê số liệu chúng ta thấy rằng hầu hết giáo viên Tiểu họcđều nhận thức đúng về giáo dục kĩ năng sống cho học sinh Tiểu học là cần thiết,bởi GDKNS cho HS Tiểu học sẽ giúp các em rèn luyện kĩ năng ứng xử hợp lívới các tình huống trong cuộc sống Ngày nay, ngày càng thấy rõ với sự thay đổi

về nền kinh tế văn hóa và lối sống, nhiều thanh thiếu niên không có đủ tri thứctrong lĩnh vực này Hoặc là chúng ta thiếu sự cần thiết để tăng cường và xâydựng các KNS cơ bản, hoặc chưa có kinh nghiệm trải qua các KNS, vì vậy các

em không đáp ứng kịp thời những đòi hỏi và sự căng thẳng ngày càng tăng của

xã hội Điều đó có thể gây ra nhiều tổn hại về mặt thể chất lẫn tinh thần Chính

vì vậy chúng ta cần giáo dục kĩ năng sống cho học sinh Tiểu học

Nhận thức của giáo viên tiểu học về vai trò của tổ chức trò chơi kết hợpthảo luận nhóm sẽ mang lại hiệu quả giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trongdạy học môn Khoa học

Từ kết quả điều tra cho thấy: Đa số giáo viên Tiểu học đánh giá cao tầmquan trọng và sự cần thiết việc sử dụng phương pháp trò chơi kết hợp thảo luậnnhóm trong quá trình dạy học môn Khoa học Mặt hạn chế của việc sử dụngphương pháp này trong giờ dạy học môn Khoa học như giờ học ồn, kém hiệuquả, giáo viên phải đầu tư cho bài học nhiều hơn

Việc tổ chức cho học sinh chơi thường bắt đầu từ việc nêu tên trò chơi, luậtchơi, cách chơi, sau trò chơi học sinh thảo luận, rút ra kết luận khoa học, ý nghĩabài học Tuy nhiên nhiều giáo viên Tiểu học chưa nắm vững quy trình này Một

số GV đã có cố gắng trong việc đổi mới phương pháp dạy học, cố gắng tổ chứccho các em để các em tự thảo luận, Tổ chức một số trò chơi nhưng chỉ là hình

Trang 11

thức và chủ yếu trong các tiết thao giảng, dự giờ, hoặc tiết dạy chuyên đề Bởi

vì sự chuẩn bị trò chơi cần phải đầu tư về nội dung, thiết bị, đồ dùng dạy học… Đối với học sinh: Tôi đã tiến hành điều tra cụ thể về tình hình học sinh, sựmong muốn và khả năng tham gia trò chơi học tập trong môn khoa học nói riêng

và trong các môn học khác nói chung Kết quả như sau:

- Số học sinh chưa muốn tham gia: 25%

Sở dĩ các em chưa muốn tham gia hoặc tham gia mà chưa thu được kết quả

là do một số nguyên nhân sau:

1 Các em chưa hiểu mục tiêu của trò chơi: chơi để làm gì? chơi nhằm mụcđích gì?

2 Các em chưa hiểu rõ cách chơi, luật chơi, sự thi đua “thưởng -phạt”…giữa các đội chơi

3 Trò chơi giáo viên đưa ra chưa thú vị, chưa đủ hấp dẫn để lôi cuốn họcsinh

4 Trò chơi quá khó, các em không thể tham gia

5 Giáo viên không chủ động về thời gian, trò chơi chưa thực hiện đúngquy trình dẫn đến tình trạng trò chơi bỏ dở, lớp học ồn hoặc kết thúc trò chơi màkhông thu hoạch được gì

Để khắc phục những nguyên nhân trên tôi đã nghiên cứu để tìm hướng giảiquyết như sau:

Quá trình tổ chức cho HS học theo phương pháp trò chơi học tập kết hợpvới thảo luận nhóm nhằm GDKNS cho HS chỉ đạt kết quả tối ưu khi được tổchức theo một quy trình cụ thể, bao gồm các thao tác bố trí thành các hành động,thành những công đoạn, sắp xếp theo một trình tự tuyến tính Chúng ta tiến hànhtheo một quy trình đảm bảo hệ thống, tính thực tiễn, tính hiệu quả khi xây dựngquy trình tổ chức trò chơi học tập chúng tôi dựa trên những nguyên tắc cơ bảnsau:

2.3.1.1.Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống

Quy trình dạy học theo phương pháp trò chơi học tập kết hợp TLN phải làmột chỉnh thể thống nhất giữa quy trình dạy và quy trình học, các bước, các thaotác phải được liên kết với nhau theo một logic chặt chẽ, yêu tố trước phải là điều

Trang 12

kiện, tiền đề cho yếu tố sau Đồng thời yếu tố đứng sau như là sự kế tục, hoànthiện chức năng, là sự hiện thực hóa của các yếu tố đứng trước.

Ở mỗi bước, mỗi giai đoạn, các thao tác tác động sư phạm của giáo viênphải phù hợp với thao tác của trò và ngược lại Sự phù hợp đó tạo thành sựthống nhất toàn vẹn của quy trình và làm cho nó trở thành chỉnh thể hợp lí Đểđạt được điều đó cần xác định:

- Số lượng các giai đoạn, các bước, các thao tác vừa đủ để hoạt động cóhiệu quả

- Nội dung các giai đoạn các bước không quá phức tạp, cũng không đơngiản đảm bảo cho giáo viên và học sinh có thể thực hiện được trong quá trìnhdạy học

2.3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn

Xây dựng quy trình tổ chức trò chơi kết hợp TLN phải dựa vào điều kiệnthực tiễn dạy học ở Tiểu học nói chung và ở môn Khoa học nói riêng, nó phảiphù hợp với đặc điểm nội dung, điều kiện yêu cầu của GV, HS đồng thời có tácdụng nâng cao hiệu quả dạy học Cụ thể:

- Phù hợp với đặc điểm, nội dung, chương trình môn Khoa học

- Phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học

- Phù hợp với trình độ, năng lực chuyên môn của đông đảo giáo viên, phùhợp với điều kiện cụ thể của từng trường, từng lớp học, có khả năng ứng dụngrộng rãi trong thực tiễn dạy học môn Khoa học ở các trường Tiểu học

- Phù hợp với đặc điểm tâm lí, trình độ nhận thức của HSTH, đảm bảo tínhvừa sức đối với các em

- Có khả năng nâng cao chất lượng dạy và học, có nhiều ưu điểm hơn sovới các giải pháp hiện có trong dạy học môn Khoa học ở trường Tiểu học hiệnnay

2.3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả

Quy trình tổ chức dạy học bằng trò chới học tập kết hợp thảo luận nhómkhông chỉ đảm bảo tính thực tiễn mà còn phải đảm bảo tính hiệu quả Nó vừa cóthể ứng dụng rộng rãi đồng thời nâng cao chất lượng dạy học đảm bảo cho họcsinh lĩnh hội tri thức cơ bản, đầy đủ với chất lượng cao và vững chắc, việc vậndụng quy trình này vào quá trình dạy học môn Khoa học phải hình thành đượccho học sinh những KNS như kĩ năng giao tiếp, KN nhận thức, KN ra quyếtđịnh … phương pháp học tập đúng đắn và khoa học

Việc tổ chức cho các HS trò chơi học tập kết hợp TLN theo quy trình nàyphải tăng cường được mức độ hoạt động của học sinh trong giờ học làm cho các

em tích cự chủ động, hứng thú phù hợp với tâm lí của lứa tuổi HS Tiểu học, phùhợp với định hướng đổi mới phương pháp dạy học ở bậc tiểu học hiện nay

2.3.2 Chỉ đạo giáo viên cách xây dựng trò chơi học tập.

GV có thể tổ chức 1 hoạt động học tập thành 1 trò chơi học tập khi đã có đủcác điều kiện sau:

- Về đồ dùng, dụng cụ phục vụ cho trò chơi

- Về thời gian, thời điểm chơi, không gian chơi

- Có cách chơi, luật chơi rõ ràng

Ngày đăng: 09/06/2022, 20:41

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w