1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(SKKN 2022) một số biện pháp giúp học sinh lớp 2a trường tiểu học điền trung học tốt các kiểu câu trong môn tiếng việt theo chương trình giáo dục phổ thông2018

32 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một Số Biện Pháp Giúp Học Sinh Lớp 2A Trường Tiểu Học Điền Trung Học Tốt Các Kiểu Câu Trong Môn Tiếng Việt Theo Chương Trình Giáo Dục Phổ Thông 2018
Tác giả Trần Thị Hiền
Trường học Trường Tiểu học Điền Trung
Chuyên ngành Tiếng Việt
Thể loại sáng kiến kinh nghiệm
Năm xuất bản 2022
Thành phố Thanh Hóa
Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 2,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhưng trong thực tiễn, việc dạy các kiểu câu cho học sinh lớp 2 còn bộc lộ khánhiều hạn chế: - Về phía giáo viên: Phần lớn giáo viên dạy dưới hình thức hướng dẫn họcsinh làm bài tập, hì

Trang 1

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN BÁ THƯỚC

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

"MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 2A TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐIỀN TRUNG HỌC TỐT CÁC KIỂU CÂU TRONG MÔN TIẾNG VIỆT THEO CHƯƠNG TRÌNH GDPT 2018 "

Người thực hiện: Trần Thị Hiền

Trang 3

1.1 Lý do chọn đề tài 1

2.3.4 Sử dụng trò chơi học tập trong mỗi tiết học 15

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐƯỢC XẾP GIẢI CÁC

CẤP

PHỤ LỤC

Trang 4

1.1 Lí do chọn đề tài.

Môn Tiếng Việt có vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình học tập cũngnhư giao tiếp của học sinh tiểu học Môn Tiếng Việt giúp các em có các kĩ năngnghe, nói, đọc, viết phục vụ cho việc học và giao tiếp; ngoài ra môn Tiếng Việtcung cấp cho các em vốn từ ngữ phong phú để các em sử dụng trong quá trìnhgiao tiếp Tiếng Việt là môn học giúp học sinh phát triển ngôn ngữ của học sinhnói chung và đối với học sinh lớp 2 nói riêng, là chìa khóa mở ra kho tàng vănhóa trên mọi lĩnh vực đời sống, xã hội của con người Đối với học sinh khi sửdụng Tiếng Việt thì phần Luyện tập từ và câu có một vai trò quan trọng nó giúphọc sinh có đủ điều kiện để sử dụng Tiếng Việt đạt hiệu quả cao trong học tậpcác môn văn hóa, trong việc viết đoạn văn Trong chương trình giáo dục phổthông 2006 thì môn Tiếng Việt chia thành 5 phân môn riêng gồm: Tập đọc,Chính tả, Luyện từ và câu, Tập làm văn, Tập viết Chương trình giáo dục phổthông 2018 môn Tiếng Việt không chia thành các phân môn như chương trìnhgiáo dục phổ thông 2006 mà gồm các nội dung: Đọc; viết; nói và nghe; luyệntập về từ và câu, luyện viết đoạn văn và đọc mở rộng Cả hai chương trình giáodục, học sinh đều được học về các kiểu câu Chương trình giáo dục phổ thông

2006 gồm các kiểu câu: Ai làm gì?, Ai là gì, Ai thế nào? Chương trình giáo dụcphổ thông 2018 lại có tên gọi khác về các kiểu câu đó là: Câu nêu hoạt động,Câu giới thiệu và câu nêu đặc điểm Về bản chất cốt lõi, 2 chương trình đều cóđiểm chung là dạy về các kiểu câu song về cách phân loại (gọi tên kiểu câu) có

sự thay đổi Cách gọi tên trong Chương trình hiện hành sau năm 2000 khá trìutượng, học sinh khó tiếp cận, khó nhớ, dễ sai, dễ quên Chương trình giáo dụcphổ thông 2018 cách gọi tên cụ thể, dễ hiểu, gần gũi hơn với đối tượng học sinhlớp 2 giúp các em dễ phát hiện, dễ nhớ, nhớ lâu, hiểu sâu về bản chất phân loại.Như vậy, chúng ta thấy việc dạy các kiểu câu là nhiệm vụ vô cùng quan trọngđối với lớp 2

Nhưng trong thực tiễn, việc dạy các kiểu câu cho học sinh lớp 2 còn bộc lộ khánhiều hạn chế:

- Về phía giáo viên: Phần lớn giáo viên dạy dưới hình thức hướng dẫn họcsinh làm bài tập, hình thức dạy học còn đơn điệu, rập khuôn thậm chí tiết dạykhô cứng, nhàm chán chưa tạo được hứng thú cho học sinh

- Về phía học sinh: Học sinh lớp 2, học các kiểu câu là nội dung hoàn toànmới.Do đó trong quá trình học, các em gặp nhiều khó khăn trong việc tìm từ,hiểu nghĩa của từ, chưa biết cách sử dụng từ ngữ để đặt câu cho phù hợp và đặcbiệt là khó phân biệt các kiểu câu Vì các em mới được làm quen với câu và từ.Việc nói và viết thành câu theo mẫu và xác định câu theo mẫu câu quả là mộtviệc khó khăn đối với các em nên chất lượng học các kiểu câu đạt được chưanhư mong muốn

Mục tiêu giáo dục xã hội đang đặt ra những yêu cầu cấp thiết cần giải quyết

đó là “đổi mới căn bản, toàn diện” Muốn thực hiện mục tiêu đó trước hết phảidạy thật tốt môn Tiếng Việt bởi vì Tiếng Việt giúp học sinh lĩnh hội các kiếnthức văn hóa, khoa học Là công cụ giao tiếp tư duy và học tập Mục đích yêucầu của môn Tiếng Việt trong trường tiểu học nhằm tạo cho học sinh năng lực

Trang 5

sử dụng Tiếng Việt, văn hóa và hiện đại để suy nghĩ, giao tiếp và học tập.Thông qua việc học Tiếng Việt rèn cho học sinh năng lực tư duy, phương phápsuy nghĩ giáo dục cho các em tư tưởng, tình cảm trong sáng Có như vậy mớithực hiện được nhiệm vụ đào tạo học sinh thành những con người phát triển toàndiện

Nhiều năm giảng dạy học sinh lớp 2 tại trường Tiểu học Điền Trung tôi thấycác giáo viên trong khối nói riêng, giáo viên trong tổ và nhà trường nói chungvẫn chưa tìm ra giải pháp hữu hiệu để nâng cao chất lượng học các kiểu câu chohọc sinh

Năm học 2020-2021 tôi đã áp dụng một số biện pháp giúp học sinh học tốt các kiểu câu và có được kết quả rất khả quan Thực hiện chương trình giáodục phổ thông 2018, để nâng cao chất lượng giảng dạy các kiểu câu, nhằm tháo

gỡ những khó khăn của thầy và trò khi dạy và học các kiểu câu Với mong muốnnâng cao hiệu quả giờ dạy và trao đổi những kinh nghiệm trong việc dạy Tiếng

Việt ở Tiểu học, năm học 2021-2022 tôi mạnh dạn chọn đề tài nghiên cứu “Một

số biện pháp giúp học sinh lớp 2A trường Tiểu học Điền Trung học tốt các kiểu câu trong môn Tiếng Việt theo chương trình giáo dục phổ thông2018.”

Để hoàn thành sáng kiến kinh nghiệm này tôi đã áp dụng những kinhnghiệm tích luỹ được qua nhiều năm làm tổ trưởng chuyên môn khối 1,2,3 vàtrực tiếp giảng dạy lớp 2 chương trình sau năm 2000 Đặc biệt, trong năm học2021-2022 tôi đã vận dụng linh hoạt các biện pháp để thực nghiệm trong chươngtrình giáo dục phổ thông 2018 áp dụng trên chính đối tượng học sinh lớp 2Atrường Tiểu học Điền Trung do tôi phụ trách

- Giúp bản thân tự học hỏi để nâng cao trình độ chuyên môn

1.3 Đối tượng nghiên cứu:

Một số biện pháp giúp học sinh lớp 2A trường Tiểu học Điền Trung họctốt các kiểu câu trong môn Tiếng Việt theo chương trình giáo dục phổ thông2018

1.4 Phương pháp nghiên cứu:

Để thực hiện đề tài này, tôi đã sử dụng các phương pháp sau :

- Đọc các tài liệu sách, báo, Tạp chí giáo dục có liên quan đến nội dung

đề tài

- Đọc sách giáo khoa, sách giáo viên, các loại sách tham khảo

- Dự giờ, trao đổi ý kiến với đồng nghiệp về nội dung dạy các kiểu câu trong môn Tiếng Việt

- Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế, thu thập các thông tin, thống kê số liệu

và xử lý số liệu

- Tổng kết rút kinh nghiệm trong quá trình dạy học

- Tổ chức và tiến hành thực nghiệm sư phạm để kiểm tra tính khả thi của đềtài

Trang 6

2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN 2.1 Cơ sở lý luận

2.1.1 Tầm quan trọng của việc dạy luyện từ và câu trong môn Tiếng Việt

2 theo chương trình giáo dục phổ thông 2018

Giáo dục là nền tảng của xã hội, là cơ sở tiền đề để quyết định sự phồn vinhcủa đất nước Giáo dục cung cấp những hiểu biết về kho tàng tri thức của nhânloại cho biết bao thế hệ, giúp cho các em những hiểu biết cơ bản, cần thiết vềkhoa học và cuộc sống Con người dù hoạt động trong lĩnh vực nào cũng cần cóvốn kiến thức cơ bản về từ và câu để học tập và giao tiếp Đây là một trongnhững nội dung của môn Tiếng Việt, giúp học sinh nắm được nghĩa của từ, biếtdùng từ đặt câu, sử dụng đúng các kiểu câu trong giao tiếp,… Muốn nói hay,viết giỏi đều phải dùng từ Từ là vật liệu để cấu thành ngôn ngữ, là đơn vị trungtâm của ngôn ngữ Câu là đơn vị nhỏ nhất có thể thực hiện chức năng giao tiếp.Hiểu được nghĩa của từ đã khó, còn phải biết dùng từ như thế nào cho hợp văncảnh, đúng ngữ pháp và viết được câu theo mẫu lại còn khó hơn Cho nên, việcdạy cho học sinh nắm vững Tiếng Việt không thể không coi trọng việc dạy nộidung luyện tập từ và câu, đặt nền móng cho việc tiếp thu tốt các môn học khác ởcác lớp học trên.Tuy nhiên, với học sinh lớp 2, là lớp đầu tiên làm quen và họcnội dung này thì thật không dễ chút nào “Phong ba bão táp không bằng ngữpháp Việt Nam” Tuy bản chất là cung cấp vốn từ và học về câu song sách giáokhoa không đưa ra “những kiến thức đóng khung có sẵn” mà là hệ thống các bàitập.Việc dạy luyện tập từ và câu nhằm mở rộng, hệ thống hoá làm phong phúvốn từ của học sinh, cung cấp cho học sinh những hiểu biết sơ giản về từ và câu,rèn cho học sinh kĩ năng dùng từ đặt câu và sử dụng các kiểu câu để thể hiện tưtưởng, tình cảm của mình, đồng thời giúp cho HS có khả năng hiểu các câu nóicủa người khác

2.1.2 Nội dung chương trình dạy luyện tập từ và câu trong môn Tiếng Việt 2 theo chương trình giáo dục phổ thông 2018

Nội dung luyện tập từ và câu ở lớp 2 được sắp xếp 1 tiết/tuần, có 3 mảngkiến thức chủ yếu, đó là:

+ Từ, từ vựng, mở rộng vốn từ và sử dụng từ theo chủ điểm:Bước đầu rènluyện cách dùng từ chỉ sự vật, hoạt động, đặc điểm

+ Câu: Làm quen với 3 kiểu câu cơ bản: Câu giới thiệu, câu nêu hoạt động,câu nêu đặc điểm

+ Các dấu câu: dấu chấm, dấu phẩy, dấu chấm than, dấu chấm hỏi

2.2.2 Những yêu cầu cần đạt khi dạy nội dung các các kiểu câu trong môn Tiếng Việt theo chương trình giáo dục phổ thông 2018

Dạy luyện tập từ và câu lớp 2 chủ yếu là hướng dẫn học sinh thực hành.Thông qua thực hành để các em vận dụng những điều đã biết, đã học vào việcthực hiện các bài tập Từ đó giáo viên hệ thống hóa kiến thức sơ giản về từ vàcâu cho học sinh Như vậy, yêu cầu cần đạt khi dạy luyện tập từ và câu lớp 2không tập trung vào việc cung cấp lí thuyết để học sinh ghi nhớ mà là tổ chứchoạt động thưc hành để học sinh vận dụng Sản phẩm của mỗi tiết học chính làkết quả thực hành, vận dụng của học sinh Đây là điểm mới quan trọng của

chương trình giáo dục phổ thông 2018 mỗi giáo viên cần biết để thực hiện.

Trang 7

Để phát triển năng lực cho học sinh, trong mỗi tiết học giáo viên cần sửdụng các hình thức tổ chức dạy học, phương pháp dạy học, kĩ thuật dạy học linhhoạt, phù hợp với mỗi bài dạy, phù hợp với từng đối tượng học sinh và điều kiện

cơ sở vật chất hiện có của nhà trường Trong tiết dạy cần tăng cường tổ chứchoạt động cá nhân, nhóm, lớp, tổ chức trò chơi học tập để phát hiện và bồidưỡng năng lực chung, năng lực đặc thù cho học sinh Giáo viên cần tạo cho các

em không khí vui vẻ trong học tập, tạo ra môi trường giáo dục thân thiện, hạnhphúc để các em hứng thú học tập, tích cực tham gia hoạt động phát triển nănglực cá nhân để tiết học mang lại hiệu quả như mong muốn

Nội dung Luyện tập từ và câu có liên hệ mật thiết với viết đoạn văn, nếu các

em có vốn từ phong phú, viết câu đúng, có dùng nhiều từ hay thì mới có đoạnvăn hay Nhưng nếu ngược lại thì đoạn văn của các em cũng không đạt theo yêucầu Do đó việc dạy học sinh lớp 2 học tốt nội dung Luyện tập từ và câu nóichung và học tốt các kiểu câu nói riêng là rất quan trọng, tạo nền móng cho các

em học tiếp nội dung viết đoạn văn ở lớp 2 và các lớp tiếp theo Giáo viên cầnnắm vững các yêu cầu trên để việc giảng dạy được thực hiện đúng hướng, đạthiệu quả cao theo mục tiêu giáo dục đề ra

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm

Sau nhiều năm làm tổ trưởng phụ trách khối 1, 2, 3, qua dự giờ thăm lớp,trao đổi, trò chuyện, tâm sự, tham khảo ý kiến của bạn bè động nghiệp, thôngqua chấm các bài kiểm tra của học sinh và đặc biệt qua thực tế dạy lớp 2 bảnthân thấy trong dạy và học các kiểu câu lớp 2, giáo viên và học sinh có nhữngtồn tại vướng mắc như sau:

2.2.1.Thực trạng giảng dạy các kiểu câu trong chương trình lớp 2 của giáo viên trường tiểu học Điền Trung, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hoá

- Giáo viên chưa tạo được sự hứng thú cho học sinh khi dạy phần luyện từ vàcâu

- Giáo viên chưa tìm ra giải pháp giúp học sinh nắm chắc về các từ loại: từchỉ sự vật, từ chỉ hoạt động, từ chỉ đặc điểm

- Các hình thức tổ chức hoạt động học tập trong giờ học còn đơn điệu Một

số giáo viên tổ chức dạy theo vở bài tập từ đầu đến cuối Tức là hướng dẫn họcsinh lần lượt làm các bài tập theo trình tự và hình thức như nhau (chủ yếu là làmviệc cá nhân)

- Một số giáo viên chưa linh hoạt khi giảng bài, còn áp đặt, gò bó học sinh vàchưa rút ra được kinh nghiệm giúp học sinh nhận diện và phân biệt được cáckiểu câu

- Giáo viên chưa tạo cho học sinh sự chủ động, tích cực trong việc chiếm lĩnhkiến thức mới của bài học khiến giờ học trở nên nặng nề

- Việc tiếp cận đổi mới các phương pháp dạy học ở một số giáo viên chưađược chú trọng, phương pháp dạy học truyền thống vẫn còn được sử dụng nhiều.Luyện từ và câu giúp học sinh nắm được nghĩa của từ, biết dùng từ, sử dụng câutrong giao tiếp nói và viết, góp phần làm cho vốn từ của các em thêm phongphú, sinh động Việc dạy Luyện từ và câu cho học sinh lớp 2 trường Tiểu họcĐiền Trung giáo viên chưa đưa học sinh say mê, hứng thú vào bài học, chưagiúp học sinh nhận diện và phân biệt được các kiểu câu, chưa giúp học sinh nắm

Trang 8

chắc các từ loại thì việc dạy các kiểu câu chưa đạt hiệu quả.

2.2.2.Thực trạng của học sinh

Qua tìm hiểu thực tế việc học các kiểu câu của học sinh trường tiểu họcĐiền Trung, các em thường có một số hạn chế sau:

- Đây là lớp đầu tiên các em được tiếp xúc với các kiểu câu nên các em còn

bỡ ngỡ, các em chưa hứng thú với hoạt động học

- Khả năng sử dụng từ, đặt câu của học sinh còn hạn chế

- Các em chưa nắm vững về từ loại: từ chỉ sự vật, từ chỉ hoạt động, từ chỉđặc điểm một cách rõ ràng, cụ thể, thường lẫn lộn trong việc nhận diện câu,chưa xác định được từ chính trong một cụm từ (cụm từ chỉ hoạt động, đặcđiểm ) Từ đó các em không xác định chính xác kiểu câu

- Nhiều em còn lúng túng khi đặt câu có hình ảnh, trong diễn đạt câu cònchưa chính xác

Từ những thực trạng trên cho thấy việc rèn cho học sinh biết cách dùng từ,đặt câu đã khó chưa kể đến việc cần phải cho học sinh đặt câu theo các kiểu câu

đã học

2.2.3 Kết quả khảo sát thực trạng học sinh

Trong năm học 2021- 2022, để kiểm nghiệm cách làm của mình, tôi tiến

hành thực nghiệm với lớp 2A và đối chứng kết quả với lớp 2B Tôi đã tiếnhành kiểm tra chất lượng học Luyện tập từ và câu của hai lớp

Thời điểm kiểm tra: Tuần 3 tháng 9 năm học 2021-2022 khi chưa áp dụngcác biện pháp Kết quả thu được như sau:

Bảng 1: Thống kê sở thích của học sinh

Lớp Tổng số

Học sinh

Rất thích học Bình thường Không thích họcSốlượng Tỉ lệ Sốlượng Tỉ lệ Sốlượng Tỉ lệ

2.3 Các biện pháp thực hiện

2.3.1.Tạo hứng thú cho học sinh trong mỗi tiết học Luyện tập từ và câu

Trang 9

Tao hứng thú cho học sinh trong học Luyện tập từ và câu là yếu tố quantrọng thôi thúc học sinh nắm bắt tri thức một cách nhanh hơn, sâu hơn Khi cóhứng thú, học sinh sẽ say mê nghiên cứu, tích cực tìm tòi, khám phá Qua đó cácnăng lực cá nhân được hình thành và kết quả học tập của các em ngày càng đượcnâng cao Việc tạo hứng thú có thể tiến hành trong các hoạt động cụ thể sau:

- Thứ nhất: Tạo hứng thú trong hoạt động khởi động.

Trong mỗi bài học, hoạt động khởi động, giới thiệu bài có vai trò quan trọngbởi nó có tác dụng nối liền kiến thức cũ với kiến thức mới, tạo ra mâu thuẫnnhận thức cho người học, khái quát nội dung cơ bản của bài học Như vậy vớicách khởi động thú vị, hấp dẫn sẽ kích thích hứng thú học tập của học sinh Khi

đã có hứng thú các em sẽ tham gia học tập một cách tự nhiên, sáng tạo thuận lợicho hoạt động hình thành kiến thức ở phần sau

Tùy theo từng dạng bài tôi có thể khởi động bài học bằng cách sử dụng cáctrò chơi, tranh ảnh, nêu một tình huống có vấn đề, kể một câu chuyện có chủ đềliên quan đến bài học Tất cả các nội dung trên tôi đều sử dụng công nghệthông tin để thiết kế bài học vì vậy các em rất thích thú, hoạt động rất tích cực,hiệu quả

Ví dụ 1: Khi dạy bài : “Từ chỉ đặc điểm, câu nêu đặc điểm”

Tôi đã dựa vào các bài đọc để giới thiệu bài nhằm giúp các em nhớ được têncác nhân vật trong các bài đọc đã học bằng cách “hỏi đố”, khen ngợi và gắn

“danh hiệu” cho học sinh để tạo hứng thú cho các em Cách tiến hành của tôinhư sau:

- Giáo viên: Cô đố các em trong tuần chúng ta đã học những bài đọc nào nói

về các con vật? (học sinh trả lời, giáo viên khen ngợi học sinh và cho cả lớpcùng vỗ tay khen ngợi bạn) (Đây là cách tạo hứng thú bằng phương pháp hỏi

đố, khen ngợi Giáo viên khen ngợi bằng lời, học sinh khen ngợi bằng cách vỗtay)

- Giáo viên: “Các nhà ngôn ngữ học thông thái”, hãy tìm cho cô trong cácbài đọc các em đã học, từ nào là từ chỉ đặc điểm của các con vật đó? (học sinhtrả lời, giáo viên khen ngợi học sinh và cho cả lớp cùng vỗ tay khen ngợi bạn).(Tạo hứng thú bằng cách gắn “danh hiệu” cho học sinh là “Các nhà ngôn ngữhọc thông thái ” và khen ngợi học sinh)

- Giáo viên giới thiệu: Các em đã được học những bài đọc nói về con vật.Trong các bài đọc các em đã học có từ nào là từ chỉ đặc điểm của các con vậtđó? Các em có biết từ chỉ đặc điểm là gì không ? Và muốn biết đặt câu nêu đặcđiểm em sẽ làm như thế nào Hôm nay cô sẽ cùng các em tìm hiểu về: Từ chỉđặc điểm và câu nêu đặc điểm

Ví dụ 2: Khi dạy bài “Từ chỉ sự vật, hoạt động Câu nêu hoạt động” tôi

sử dụng tranh ảnh để giới thiệu bài nhằm gây hứng thú, tạo ra nhu cầu học cho

học sinh (Tranh 1- phần phụ lục)

Tôi cho học sinh quan sát tranh (hoạt động nhóm đôi) và nói cho nhau nghe

về việc làm của các bạn học sinh trong tranh Sau khi học sinh chia sẻ kết quảtrước lớp, tôi đã chốt lại nội dung của tranh và nêu: Vậy từ chỉ việc làm của bạnnhỏ trong tranh trên được gọi là gì và câu nói về việc làm của bạn nhỏ ở trên tagọi là kiểu câu gì? Bài học hôm nay sẽ giúp các em hiểu được điều đó qua bài

Trang 10

“Từ chỉ sự vật, hoạt động Câu nêu hoạt động”

Có nhiều cách để giới thiệu bài mới, dùng hình ảnh trong sách giáo khoa,băng hình liên quan đến bài dạy, tạo tình huống dẫn dắt vào bài Giới thiệu mụcđích, yêu cầu của bài thông qua một phần bài tập có thể lựa chọn nội dung giớithiệu bài cho phù hợp với mục tiêu cần đạt của bài Ngoài ra chúng ta có thể sửdụng bài hát, bài thơ… có nội dung liên quan để tạo hứng thú cho học sinh

- Thứ hai: Tạo hứng thú học tập cho học sinh khi nhận xét bài làm.

Khi đánh giá, nhận xét bài làm của học sinh nhất là các bài dùng từ đặt câu,Tôi đặc biệt chú trọng ghi cẩn thận lời nhận xét đánh giá, gạch chân những phầncần sửa chữa, sau đó tôi ghi rõ lỗi các em đã mắc phải trong bài Ví dụ “ Emchọn từ chưa đúng, cần chọn lọc kĩ càng hơn”, “ Em viết câu chưa rõ ý, cần sắpxếp lại từ ngữ để câu rõ nghĩa hơn” hay “ Các ý trong vế câu văn em viết chưaphù hợp, chưa hợp lí, em cần suy nghĩ lại” …

Với những tiến bộ dù chỉ rất nhỏ, khi các em đạt được, tôi đều kịp thời nêugương và tuyên dương trước lớp đồng thời thưởng hoa điểm tốt cho cácem.Thường xuyên nhắc nhở, chỉ cụ thể những lỗi sai, từ việc làm đó các em sẽnhận ra được những tồn tại trong bài làm, đồng thời những lời động viên, tuyêndương của giáo viên giúp các em học sinh có niềm tin vào bản thân, hào hứng,thích thú học tập hơn

Qua việc áp dụng biện pháp trên tôi thấy tất cả học sinh đều tích cực thamgia hoạt động Giờ học đã diễn ra một cách sôi nổi, các em có hứng thú học bài Như vậy, nếu thực hiện tốt phần giới thiệu bài vào bài mới hay khi nhận xétbài làm của học sinh thì luôn đặt học sinh vào tình huống có vấn đề một cáchnhẹ nhàng các em chú ý vào giờ học ngay từ những phút đầu tiên hay trong tiếthọc Tuy nhiên để luôn tạo tình huống mới thu hút sự chú ý của học sinh thì giáoviên cần phải nghiên cứu kĩ bài dạy và thay đổi cách giới thiệu cho phù hợp vớitừng bài để tránh sự nhàm chán do học sinh đoán trước được ý đồ của giáo viên.Với việc làm trên từ chỗ các em không yêu thích, ham mê môn học, tôi đã đưađược các em say sưa với môn học và yêu thích môn học

2.3.2 Hướng dẫn học sinh nắm chắc phần từ loại: Từ chỉ sự vật, từ chỉ hoạt động, từ chỉ đặc điểm

Đây là dạng bài tập giúp học sinh mở rộng vốn từ theo ý nghĩa khái quát của

từ Học sinh mở rộng, phát triển vốn từ theo hệ thống các từ chỉ sự vật, từ chỉhoạt động, đặc điểm Việc nắm chắc ngay từ đầu về các từ loại thuộc các chủđiểm trong chương trình sẽ giúp các em dễ nhận ra mỗi bộ phận của câu

Đối với học sinh lớp 2, các em bước đầu làm quen với các khái niệm “sựvật”, “hoạt động”, “đặc điểm” nên khi dạy dạng bài này tôi hướng dẫn học sinhtìm hiểu qua hệ thống tranh ảnh, hoạt động, , từ đó giải thích cho học sinh cáckhái niệm:

- Sự vật: là chỉ người, đồ vật, loài vật, cây cối,

- Hoạt động: là cử chỉ, động tác của người, vật; “ đặc điểm” là từ chỉ hìnhdáng, tính tình, màu sắc của người, vật

Thông thường, giáo viên chỉ cung cấp từ cho học sinh theo nội dung bài tậptrong sách giáo khoa và sử dụng phương pháp hỏi - đáp Có nghĩa là giáo viênnêu câu hỏi, yêu cầu học sinh quan sát, nêu từ theo hình thức cá nhân Tôi nhận

Trang 11

thấy học sinh chỉ được cung cấp một số lượng từ nhất định mà không có khảnăng phát triển và vận dụng Để học sinh ghi nhớ, làm phong phú vốn từ tôithường cho học sinh quan sát từ thực tế xung quanh.

Khi học về từ loại, tôi khuyến khích cho các em quan sát sự vật xung quanhtìm từ ngữ thuộc các từ loại đó rồi ghi vào bảng nhóm Nếu cần thiết có thểminh họa bằng hình vẽ hoặc giải thích cụ thể đối với những từ chỉ sự vật hiếm

lạ Những bảng từ được các em chia sẻ trước lớp để các em cùng nhau đọc vàtìm ra từ sai hoặc những từ không có nghĩa để sửa lại cho đúng rồi lưu lại trêngóc học tập của lớp Cứ như vậy, hằng ngày những dòng chữ hiển hiện trướcmắt và thấm dần vào các em và như thế các em đã có rất nhiều từ mới (có thể làcác từ rất gần gũi, giản dị như: con dao, cái kéo, viên phấn, cái bảng, hộp bút,con mèo, gió, mưa, đọc, viết, xanh, đỏ, trắng, hiền lành, ) rồi cũng chính thôngqua việc này các em cũng ngầm hiểu đây là các từ ngữ chỉ sự vật, hiện tượng,chỉ hoạt động hay đặc điểm Và sau này khi được yêu cầu xác định các từ loạitrong văn cảnh cụ thể các em có thể xác định chính xác và nhanh

*Ví dụ 1: Khi dạy bài 1: Từ chỉ sự vật -trang 46 “Dựa vào tranh tìm các

từ chỉ sự vật ”.(Tranh 2- phần phụ lục)

Bước 1: Tôi cho học sinh nắm được yêu cầu của bài

Bước 2: Học sinh thảo luận nhóm đôi tìm các từ chỉ sự vật trong mỗi tranhBước 3: Học sinh chia sẻ kết quả thảo luận trước lớp - Các nhóm nhận xét,

bổ sung kết quả thảo luận của nhóm bạn

Bước 4: Yêu cầu các em xếp các từ vào các nhóm (từ chỉ người, đồ vật, câycối ) và học sinh đã xếp được như sau:

- Từ chỉ người: thầy giáo, học sinh

- Từ chỉ đồ vật: sách, bàn, ghế đá , dây, cầu, bảng, đàn, sách, quần áo,

- Từ chỉ cây cối: cây xanh

Sau khi học sinh thực hiện được các yêu cầu trên tôi chốt lại kiến thức: Tất

cả các từ trên là từ chỉ sự vật

Sau đó tôi hỏi học sinh: Từ chỉ sự vật là gì?

Học sinh trả lời: Từ chỉ sự vật là những từ chỉ người, đồ vật, cây cối, convật

Tiếp theo tôi cho học sinh các nhóm thi tìm các từ chỉ sự vật xung quanh các

em và ghi vào bảng nhóm rồi cho các nhóm nhận xét kết quả của nhóm bạn.Trong các tiết ôn, tôi lại ra dạng bài tập sau:

Bài 1: Trong các từ sau, từ nào là từ chỉ sự vật: múa, quạt trần, vàng, sách,

Hà, thước, ăn, học sinh, đồng hồ, viết bài, thỏ, cây bàng, mèo Với dạng bài tậpnày, tôi yêu cầu học sinh:

- Xác định từ nào là từ chỉ sự vật

- Phân loại được các nhóm từ và điền vào bảng

Học sinh đã hoàn thành được yêu cầu và kết quả cụ thể là:

Từ chỉ người Từ chỉ đồ vật Từ chỉ cây cối Từ chỉ con vật

Hà, học sinh Quạt trần, sách,

thước, đồng hồ

Trang 12

Sau khi học xong các từ chỉ sự vật, tôi đã cho học sinh làm bài tập trắcnghiệm sau:

Bài 2: Nối từ chỉ sự vật ở cột A với câu trả lời ở cột B

Cuối mỗi tiết học tôi đều lưu giữ các sản phẩm của các nhóm vào góc họctập của lớp

* Ví dụ 2: Khi dạy bài “ Từ chỉ hoạt động” (tuần 5) trang 47: Quan sát

tranh, kể lại các hoạt động của bạn Nam.(Tranh 3- Phần phụ lục)

Bước 1: Tôi cho học sinh nắm được yêu cầu của bài

Bước 2: Học sinh thảo luận nhóm bốn tìm các từ chỉ hoạt động trong mỗitranh

Bước 3: Học sinh chia sẻ kết quả thảo luận trước lớp - Các nhóm nhận xét,

bổ sung kết quả thảo luận của nhóm bạn Kết quả học sinh tìm được là:

7 giờ, Nam đi học 8 giờ, Nam học ở trường

9 giờ 30 phút, Nam ra chơi 11 giờ 30 phút, Nam ăn trưa

Sau khi học sinh đã tìm được các hoạt động trong từng tranh của bạn Nam,tôi đã giúp học sinh nắm được các từ: “đi, học, chơi, ăn” là từ chỉ hoạt động.Tôi giải thích cho học sinh hiểu về từ chỉ hoạt động là những từ chỉ sự vận độngcủa người, vật mà chúng ta có thể nhìn thấy được bên ngoài.(Ví dụ các hoạt

động: Chạy, nhảy, cười, nói,…).

Tiếp theo tôi cho học sinh các nhóm thi tìm các từ chỉ hoạt động xungquanh các em và ghi vào bảng nhóm rồi cho các nhóm nhận xét kết quả củanhóm bạn Trong các tiết ôn, tôi lại ra dạng bài tập sau:

Bài 1: Dòng nào dưới đây gồm các từ chỉ hoạt động?

A.học sinh, bộ đội, múa

B.công nhân, bác sĩ, giáo viên

C.chạy, nhảy, múa, quét nhà

Bài 2: Từ chỉ hoạt động trả lời cho câu hỏi:

Trang 13

Bước 1: tôi cho các em nêu tên sự vật có trong tranh.

Bước 2: Học sinh thảo luận nhóm đôi thực hiện theo yêu cầu của bài tập(Chọn từ chỉ đặc điểm cho mỗi sự vật đó)

Bước 3: Học sinh chia sẻ kết quả trước lớp, học sinh nhận xét và bổ sungcho bạn

Bước 4: Giáo viên lấy thêm một số sự vật cho học sinh nêu đặc điểm của sựvật đó

Sau khi học sinh tìm được các từ chỉ đặc điểm của sự vật, tôi cho học sinhhiểu được từ chỉ đặc điểm bao gồm các từ chỉ:

Hình dáng: to, nhỏ, béo, gầy, cao, thấp…

Màu sắc: Xanh, đỏ, tím, vàng, đen, nâu, trắng, hồng…

Mùi vị: chua, cay, mặn, ngọt…

Đặc điểm khác: xinh đẹp, già trẻ, mấp mô, mượt mà,

Trong các tiết ôn tôi lại tổ chức cho các em chơi trò chơi “Truyền Mỗi lần có hai đội chơi, mỗi đội có 5 em tham gia chơi Cách chơi như sau:Đội 1 nêu tên sự vật - Đội 2 có nhiệm vụ nêu đặc điểm của sự vật đó vàngược lại Đội 2 nêu tên sự vật – Đội 1 nêu đặc điểm của sự vật đó.(lần lượt từbạn số 1 đến bạn số 5)

điện”-Kết thúc trò chơi nếu đội nào có kết quả đúng nhiều hơn thì thắng cuộc Với cách làm này, từ chỗ học sinh chưa nắm vững được các từ loại, tôi đãgiúp được 33/33 em xác định một cách thành thạo, chính xác và nhanh các từloại trong một văn cảnh cụ thể Trên cơ sở cung cấp các từ loại thông qua cácchủ điểm cơ bản theo hình thức trên, học sinh sẽ dần hình thành thói quen, hiểu,vận dụng và thực hành kĩ năng để học các kiểu câu

2.3.3 Rèn kĩ năng đặt câu theo mẫu:

Các kiểu câu: Câu giới thiệu, câu nêu hoạt động, câu nêu đặc điểm (thực tế

là kiểu câu Ai là gì? Ai làm gì? Ai thế nào trong chương trình hiện hành) là cáccâu đơn bình thường được phân loại dựa vào bộ phận thứ hai Để dạy học sinhthành thạo các kiểu câu này ngay từ khi dạy học sinh học về từ loại, tôi đãhướng dẫn để các em nắm được nghĩa của từ sau đó dùng từ đặt câu Khi các emhiểu rõ nghĩa của từ thì dễ dàng xác định được cấu trúc câu cũng như đặc điểmcủa câu có liên quan đến loại từ được sử dụng như: Bộ phận câu giới thiệu trongkiểu câu giới thiệu thường là các từ ngữ chỉ sự vật (gọi tên), bộ phận câu nêuhoạt động trả lời cho câu hỏi Làm gì, trong kiểu câu nêu hoạt động có từ ngữchỉ hoạt động, bộ phận câu nêu đặc điểm trong kiểu câu nêu đặc điểm thường làcác từ chỉ đặc điểm Giai đoạn này tôi tập trung rèn kĩ năng đặt câu, phân tíchcấu tạo câu, xác định các bộ phận câu và xác định mẫu câu

* Kiểu câu giới thiệu

Việc hướng dẫn học sinh nắm được các bộ phận của câu là đặc biệt quantrọng Vì trên cơ sở đó học sinh sẽ viết được các câu khác nhau Muốn vậy, ngay

từ mẫu câu đầu tiên mà học sinh được làm quen: Câu giới thiệu, tôi đã cung cấpcho học sinh những kiến thưc cơ bản, cần thiết để các em xác định bộ phận câu

Ví dụ: Nối từ ở cột A với từ ở cột B để tạo câu giới thiệu

Trang 14

Câu 1 : Bạn Hà là học sinh lớp 2A.

Tôi cho học sinh nhận ra bộ phận câu thứ nhất là bộ phận nào? (Bạn Hà),

đó là từ chỉ gì?(chỉ sự vật: chỉ người) Bộ phận thứ nhất trả lời cho câu hỏi nào?(trả lời câu hỏi: Ai) Bộ phận thứ hai là bộ phận nào?(là học sinh lớp 2A), được bắt đầu bằng từ gì ?( bắt đầu bằng từ là) Bộ phận thứ hai trả lời cho câu hỏi nào? (trả lời cho câu hỏi: là gì ?).Tôi hỏi tiếp:

- Vậy các em thấy đầu câu được viết như thế nào ? Cuối câu

có dấu gì ?

HS dễ dàng trả lời và nhận ra một quy tắc là đầu câu bao giờcũng phải viết

hoa và cuối câu có dấu chấm Tương tự tôi cho học sinh

phân tích 2 câu còn lại ở trên Lúc này tôi nhấn mạnh các câu trên là các câu giới thiệu

Sau khi hướng dẫn học sinh phân tích câu mẫu, tôi cho học sinh hoạt độngnhóm làm bài (Đặt câu theo mẫu trên) Khi học sinh làm bài, tôi quan sát, theodõi, nhắc nhở các em hoàn thành bài tập vì đây là mẫu câu đầu tiên các em đượchọc nên đa số các em còn lúng túng khi đặt câu Đặc biệt đối với những em tiếpthu chậm, tôi luôn theo sát, gợi ý bằng hệ thống câu hỏi để giúp các em biết đặtcâu theo mẫu câu giới thiệu (Ví dụ: Bộ phận thứ nhất là từ chỉ gì? Bộ phận thứhai thường bắt đầu bằng từ gì ?)

Học sinh làm bài xong, tôi cho học sinh chia sẻ trên bảng và cho các emnhận xét bài của bạn Tiếp theo tôi cho học sinh nhận thấy: Ngoài từ chỉ sự vậttrả lời câu hỏi Ai như trong ví dụ ở trên còn những từ chỉ sự vật trả lời chonhững câu hỏi nào ? (Cái gì, con gì, cây gì ?) Nhờ đó, các em dễ dàng nhận ra

bộ phận thứ nhất và bộ phận thứ hai của câu sẽ là từ chỉ sự vật

Ngoài ra, tôi còn giúp các em nhận biết được mẫu câu giới thiệu hay nói cách khác là mẫu câu Ai là gì?

Ví dụ: Bạn Lan là lớp trưởng lớp em (giới thiệu về một người bạn.)

* Kiểu câu nêu hoạt động

Khi dạy kiểu câu nêu hoạt động, tôi cũng lần lượt hướng dẫn học sinh phân tích cấu tạo câu, xác định bộ phận câu và xác định mẫu câu

Ví dụ: Đặt một câu về hoạt động của các bạn trong tranh.(Sách Tiếng

Việt 2 tập 1 trang 92) (Tranh 5- Phần phụ lục)

Tôi cho học sinh hoạt động nhóm đôi, sau đó chia sẻ kết quả trước lớp và đặt được các câu như:

+ Tranh 1: Bạn Hải nhận bút bạn Lan đưa,…

+ Tranh 2: Các bạn đến thăm Hà ốm

+ Tranh 3: Các bạn đang trực nhật ,…

+ Tranh 4: Các bạn cùng nhảy múa

Trang 15

Sau khi các em đặt được câu, Tôi đã hướng dẫn các em đặt câu hỏi để tìm các

bộ phận trong câu nêu hoạt động

Ví dụ câu : Bạn Hải nhận bút bạn Lan đưa.

- Ai nhận bút từ bạn Lan ? (Bạn Hải)

- Vậy từ Bạn Hải là bộ phận trả lời cho câu hỏi nào ? (Ai ?)

- Từ Bạn Hải là từ chỉ gì ? ( chỉ người)

- Hải làm gì ? (nhận bút từ bạn Lan)

- Vậy « nhận bút từ bạn Lan» là bộ phận trả lời cho câu hỏi nào?(Làm gì ?)

- Bộ phận « Nhận bút từ bạn Lan » lag bộ phận nêu gì ? (nêu hoạt động)

- Tìm trong bộ phận thứ hai từ chỉ hoạt động ? (nhận)

Sau khi học sinh đã xác định được các bộ phận câu, tôi nhấn mạnh: Câutrên thuộc kiểu câu nêu hoạt động, trong câu có từ chỉ hoạt động ở bộ phận thứhai Qua việc phân tích cấu tạo câu như trên sẽ giúp học sinh dễ dàng nhận diệnđúng mẫu nêu hoạt động hay câu kiểu Ai làm gì?

Khi hướng dẫn học sinh phân tích câu mẫu xong, tôi cho học sinh thảo luận theo nhóm đôi và làm bài tập theo mẫu Trong quá trình học sinh làmbài

tôi luôn quan sát, theo dõi, giúp đỡ các em, đặc biệt là những em tiếp thuchậm

Trên cơ sở các em đã được cung cấp các kiến thức cơ bản, cần thiết từ giaiđoạn học về từ loại, học về các mẫu câu Đến giai đoạn này, tôi cho các em sosánh 2 kiểu câu qua các bước sau:

- Bước 1: Nhận diện mẫu câu theo mức độ nhận thức của mỗi học sinh(Giáo viên không hướng dẫn)

- Bước 2: Kiểm tra mẫu câu sau khi học sinh tự nhận diện

- Bước 3: So sánh

Ví dụ:

a) Nam là học sinh giỏi

b) Em viết bài

Với 2 câu trên, tôi yêu cầu các em thực hiện lần lượt các yêu cầu sau :

- Câu a, câu b thuộc mẫu câu nào ?

- Dựa vào đâu em xác định được các mẫu câu đó?

- So sánh bộ phận thứ nhất trong 2 câu trên ?

- So sánh bộ phận thứ hai trong 2 câu ?

Sau khi thực hiện được các yêu cầu trên, tôi yêu cầu học sinh nêu điểm giống và khác nhau giữa 2 kiểu câu:

Mẫu câu: nêu hoạt động Là nêu hoạt động của người và vật

Mẫu câu: giới thiệu dùng để giới thiệu, nhận xét về người và vật

+ Điểm giống nhau: Bộ phận thứ nhất của 2 kiểu câu đều là các từ chỉ sựvật( người, đồ vật, con vật, cây cối ) và đều trả lời cho câu hỏi Ai?, Cái gì?, congì?, cây gì?

+ Điểm khác nhau: Khác nhau ở bộ phận thứ hai của câu; bộ phận thứ haicủa kiểu câu giới thiệu trả lời cho câu hỏi Là gì? và thường là từ chỉ sự vật; bộphận thứ hai của kiểu câu nêu hoạt động trả lời cho câu hỏi Làm gì? và có từ chỉhoạt động ở bộ phận thứ hai

Trang 16

*Kiểu câu nêu đặc điểm.

Với kiểu câu nêu đặc điểm, tôi hướng dẫn các em phân tich cấu tạo, xác định các bộ phận câu và xác định mẫu câu như sau:

Ví dụ: Khi dạy bài 2: trang 68 – Tiếng Việt 2- tập 1:

( Kết hợp từ ngữ ở cột A với từ ngữ ở cột B để tạo câu nêu đặc điểm)

Sau khi học sinh nối và tạo được các câu theo yêu cầu của bài tập, tôi đã hướng dẫn học sinh như sau:

Câu 1: Bàn học của Bống ngăn nắp, gọn gàng

Tôi cho học sinh nhận ra bộ phận câu thứ nhất là bộ phận nào? (Bàn học củaBống), đó là từ chỉ gì ?(chỉ sự vật: chỉ đồ vật) Bộ phận thứ nhất trả lời cho câu hỏi nào? (trả lời câu hỏi: Cái gì?) Bộ phận thứ hai là bộ phận nào?( ngăn nắp, gọn gàng ), Bộ phận thứ hai trả lời cho câu hỏi nào? (trả lời cho câu hỏi: Thế nào?)

Tương tự tôi cho học sinh phân tích 2 câu còn lại ở trên Lúc này tôi nhấn mạnh các câu trên là các câu nêu đặc điểm

Sau khi hướng dẫn học sinh phân tích câu mẫu, tôi cho học sinh hoạt độngnhóm làm bài (Đặt câu theo mẫu trên) Khi học sinh làm bài, tôi quan sát, theodõi, nhắc nhở các em hoàn thành bài tập Đặc biệt đối với những em tiếp thuchậm, tôi luôn theo sát, gợi ý bằng hệ thống câu hỏi để giúp các em biết đặt câutheo mẫu câu nêu đặc điểm (Ví dụ: Bộ phận thứ nhất là từ chỉ gì? Bộ phận thứhai có từ chỉ gì ?)

Học sinh làm bài xong, tôi cho học sinh chia sẻ trên bảng và cho các emnhận xét bài của bạn Tiếp theo tôi cho học sinh nhận thấy: Bộ phận thứ nhấtngoài từ chỉ sự vật trả lời câu hỏi Cái gì ? như trong ví dụ ở trên còn những từchỉ sự vật trả lời cho những câu hỏi (Cái gì, con gì, cây gì ?) Nhờ đó, các em

dễ dàng nhận ra bộ phận thứ nhất sẽ là từ chỉ sự vật ( chỉ người, cây cối, đồ vật,con vât), bộ phận thứ hai có từ chỉ đặc điểm

Ngoài ra, tôi còn giúp các em nhận biết được mẫu câu nêu đặc điểm hay là mẫu câu Ai thế nào ?

Tiếp theo tôi hướng dẫn các em so sánh 3 kiểu câu đã học: Câu gií thiệu,câu nêu hoạt động và câu nêu đặc điểm.) để thấy được điểm giống và khác nhaugiữa 3 kiểu câu:

Ví dụ: a) Em quét nhà.

b) Bạn Hà rất thông minh

c)Mẹ em là giáo viên

Với 3 câu trên, tôi yêu cầu học sinh thực hiện các yêu cầu sau:

+ 3 câu trên thuộc kiểu câu nào? Dựa vào đâu em xác định được các kiểucâu đó? So sánh bộ phận thứ nhất của câu a, câu b và câu c, so sánh bộ phận thứhai của câu a, câu b và câu c.(về từ loại)

Ngày đăng: 09/06/2022, 20:41

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Kết quả đánh giá chất lượng học Luyện tập từ và câu của hai lớp - (SKKN 2022) một số biện pháp giúp học sinh lớp 2a trường tiểu học điền trung học tốt các kiểu câu trong môn tiếng việt theo chương trình giáo dục phổ thông2018
Bảng 2 Kết quả đánh giá chất lượng học Luyện tập từ và câu của hai lớp (Trang 8)
Hình ảnh học sinh thảo luận nhóm - (SKKN 2022) một số biện pháp giúp học sinh lớp 2a trường tiểu học điền trung học tốt các kiểu câu trong môn tiếng việt theo chương trình giáo dục phổ thông2018
nh ảnh học sinh thảo luận nhóm (Trang 29)
Hình ảnh học sinh chia sẻ kết quả của nhóm - (SKKN 2022) một số biện pháp giúp học sinh lớp 2a trường tiểu học điền trung học tốt các kiểu câu trong môn tiếng việt theo chương trình giáo dục phổ thông2018
nh ảnh học sinh chia sẻ kết quả của nhóm (Trang 29)

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w