PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THÀNH PHỐ SẦM SƠNSÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN KỸ NĂNG THỰC HÀNH CÁC PHÉP TÍNH VỀ PHÂN SỐ CHO HỌC SINH LỚP 5A TRƯỜNG TIỂU HỌC QUẢNG ĐẠI... lựa chọn
Trang 1PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THÀNH PHỐ SẦM SƠN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN KỸ NĂNG THỰC HÀNH CÁC PHÉP TÍNH VỀ PHÂN SỐ CHO HỌC SINH LỚP 5A TRƯỜNG TIỂU HỌC QUẢNG ĐẠI
Trang 3Có thể nói: Nếu con người của thế kỉ XXI là những "Tòa nhà cao ốc nguynga" thì bậc Tiểu học chính là nền móng để xây dựng nên tòa nhà cao ốc đó Bởivậy, hơn bao giờ hết ngay từ bậc Tiểu học, chúng ta cần phải đổi mới phươngpháp dạy học với mục đích giúp những "Công dân tương lai" chủ động tiếp thukiến thức, sáng tạo trong học tập Đây là một vấn đề bức xúc cần thiết vì nóđóng vai trò quyết định trong việc hình thành và phát triển phẩm chất trí tuệ vàđạo đức của học sinh.
Bậc Tiểu học là bậc học nền tảng của Hệ thống giáo dục quốc dân, chấtlượng giáo dục phụ thuộc rất nhiều vào kết quả giáo dục ở bậc Tiểu học Trongcác môn học ở bậc Tiểu học, môn Toán chiếm một vị trí rất quan trọng, giúp các
em chiếm lĩnh tri thức, phát triển trí thông minh, óc sáng tạo, năng lực tư duy lôgíc, góp phần quan trọng vào việc hình thành và phát triển toàn diện nhân cáchcho học sinh Do đó, việc quan tâm bồi dưỡng năng lực học toán và giải các bàitoán cho học sinh tiểu học là việc làm không thể thiếu được
Một trong những yếu tố quyết định sự hình thành nhân cách, óc sáng tạo,khả năng tư duy độc lập, sự ham tìm tòi khám phá chính là việc học toán Việcdạy toán không chỉ trang bị cho học sinh những kỹ năng tính toán mà còn giúpcác em biết xử lý các tình huống trong đời sống một cách khoa học Khôngnhững thế, việc dạy toán còn góp phần quan trọng trong việc rèn phương phápsuy nghĩ, khả năng suy luận, giải quyết vấn đề, phát triển tư duy, óc sáng tạo cho học sinh Nó góp phần hình thành phẩm chất con người lao động: tính cần
cù, cẩn thận, ý thức vượt khó, làm việc có kế hoạch, có nề nếp và có tác phongkhoa học Bởi thế ngay từ bậc tiểu học cần sớm được coi trọng việc dạy toán
Vị trí của việc dạy ôn tập nội dung phân số nói chung, các phép tính vềphân số ở lớp 5 nói riêng:
Phân số là một trong những nội dung của chương trình toán học hiện đại,phân số xuất hiện chính là nhằm giải quyết tính đóng kín của phép chia Bởi lẽtrong tập hợp số tự nhiên, thì phép chia không phải lúc nào cũng thực hiện được,khi dạy nội dung phân số chính là dạy nội dung về số hữu tỉ không âm
(VD: 4: 5) là bước tiếp nối để học sinh học các tập hợp số khác ở nhữnglớp trên
Vì vậy nội dung và phương pháp dạy học phân số nói chung, dạy “Các phép
tính về phân số” ở lớp 5 nói riêng là khó đối với những giáo viên trực tiếp dạy
lớp 5 chúng tôi Từ đó giáo viên gặp không ít những khó khăn trong vấn đề
Trang 4lựa chọn và vận dụng phương pháp giảng dạy để giúp học sinh hiểu biết đượcbản chất có kỹ năng thực hành các phép tính về phân số ở lớp 5.
Từ thực tế giảng dạy ở lớp 5 trong nhiều năm qua, tôi nhận thấy rằng việclĩnh hội kiến thức, vận dụng vào rèn luyện kỹ năng thực hành các phép tính vềphân số của các em còn nhiều lúng túng và hay mắc sai lầm, nhầm lẫn mặc dùcác em đã được học ở lớp 4, Các em chưa nhận thức rõ được các kỹ năng bộphận và đặc biệt là việc xác định đúng kỹ năng cơ bản của một biện pháp tínhnày với một biện pháp tính khác về phân số (Chẳng hạn như phép cộng với phépnhân hai phân số)
Vấn đề đặt ra ở đây với người giáo viên khi dạy ôn tập các phép toán vềphân số cho học sinh lớp 5 là: Đối với một biện pháp tính nói chung, giáo viênphải có biện pháp cụ thể như thế nào để giúp các em không những hiểu đượcbản chất của biện pháp tính đó, nắm được qui tắc mà các em còn phải có kỹnăng thực hành một cách thành thạo, ít mắc sai lầm nhất, phát huy được khảnăng hoạt động sáng tạo của các em
Với nhận thức trên, cũng như để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụcho bản thân trong công tác giảng dạy, tôi xin mạnh dạn đưa ra ý kiến nhỏ của
mình: “Một số biện pháp rèn kỹ năng thực hành các phép tính về phân số cho học sinh lớp 5A Trường Tiểu học Quảng Đaị - Thành phố Sầm Sơn”.
- Phân dạng, đề xuất phương pháp giải và dẫn dắt học sinh rèn luyện kỹnăng thực hành các phép tính về phân số
- Đưa ra một số biện pháp giúp học sinh lớp 5 vận dụng vào tính giá trịbiểu thức một cách thuận tiện nhất, để góp phần nâng cao chất lượng giáo dụctoàn diện đáp ứng nhu cầu giáo dục trong thời đại mới
1.3 Đối tượng nghiên cứu.
Với đề tài này tôi tập trung nghiên cứu về các biện pháp rèn kỹ năng thựchành các phép tính về phân số giúp học sinh lớp 5 làm tốt dạng bài này
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Để viết sáng kiến này, tôi đã áp dụng một số phương pháp sau:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Phương pháp điều tra
- Phương pháp Khảo sát, phân tích
- Phương pháp thực nhiệm
- Phương pháp tổng hợp đánh giá
2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm.
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.
2.1.1 Đặc điểm tâm sinh lí của học sinh Tiểu học (lớp 5).
Trang 5Chúng ta đều biết nhận thức của học sinh Tiểu học ở những năm đầu cấp
là năng lực phân tích tổng hợp chưa phát triển, tri giác thường dựa vào hình thứcbên ngoài, nhận thức chủ yếu dựa vào cái quan sát được, chưa biết phân tích đểnhận ra điểm chung hay đặc trưng chung, nên khó phân biệt được từng dạng bài.Đến các lớp cuối cấp, trí tưởng tượng của học sinh đã phát triển, suy luận củahọc sinh đã phát triển song vẫn còn là một dãy phán đoán, nhiều khi còn cảmtính, nhận thức các khái niệm toán học còn phải dựa vào mô hình vật thật
Học sinh lớp 5 ở lứa tuổi 10, 11 tuổi các em còn ham chơi tư duy cụ thểphát triển ở giai đoạn hoàn chỉnh, nhận thức của các em đã mang tính quy luật.Song khả năng phán đoán, suy luận và tư duy logic của các em chưa cao Chính
và vậy đã hạn chế khả năng tiếp thu kiến thức của học sinh, nhất là ở chươngphân số, một loại số mới
Tư duy của các em đang còn giai đoạn tư duy cụ thể, do đó việc nhận thứccác kiến thức toán học trừu tượng mới lạ là một vấn đế khó đối với các em ở giaiđoạn học sinh tiểu học
2.1.2 Vị trí toán học.
Toán học có vị trí rất quan trọng phù hợp với cuộc sống thực tiễn đó cũng
là công cụ cần thiết cho các môn học khác và để giúp học sinh nhận thức thếgiới xung quanh, để hoạt động có hiệu quả trong thực tiễn
Khả năng giáo dục nhiều mặt của môn toán rất to lớn, nó có khả năng pháttriển tư duy lôgic, phát triển trí tuệ Nó có vai trò to lớn trong việc rèn luyệnphương pháp suy nghĩ, phương pháp suy luận, phương pháp giải quyết vấn đề cósuy luận, có khoa học toàn diện, chính xác, có nhiều tác dụng phát triển trí thôngminh, tư duy độc lập sáng tạo, linh hoạt, góp phần giáo dục ý trí nhẫn nại, ýtrí vượt khó khăn
Từ vị trí và nhiệm vụ vô cùng quan trọng của toán học,vấn đề đặt ra chongười dạy là làm thế nào để giờ dạy - học toán có hiệu quả cao, học sinh đượcphát triển tính tích cực, chủ động sáng tạo trong việc chiếm lĩnh kiến thức toánhọc Vậy giáo viên phải có phương pháp dạy học như thế nào để truyền đạt kiếnthức và khả năng học bộ môn này tới học sinh Tiểu học
2.1.3 Mục tiêu giáo dục môn Toán.
Mục tiêu dạy học môn toán Tiểu học là: Học sinh có những kiến thức cơbản ban đầu về số học các số tự nhiên, phân số, số thập phân; các đại lượngthông dụng; một số yếu tố hình học và thống kê đơn giản Hình thành các kỹnăng thực hành tính, đo lường, giải bài toán có nhiều ứng dụng thiết thực trongđời sống Góp phần bước đầu phát triển năng lực tư duy, khả năng suy luận hợp
lí và diễn đạt chúng (nói và viết) cách phát hiện và cách giải quyết những vấn đềđơn giản, gần gũi trong cuộc sống; kích thích trí tưởng tượng; gây hứng thú họctập toán; góp phần hình thành bước đầu phương pháp tự học và làm việc có kếhoạch khoa học, chủ động, linh hoạt, sáng tạo
2.1.4 Kiến thức cần đạt khi dạy về phần số.
Khi dạy về phân số ở Tiểu học cần cung cấp cho học sinh nắm được:
- Khái niệm về phân số, cách đọc viết phân số
- Nắm được các tính chất cơ bản của phân số, phân số bằng nhau
Trang 6- Biết đọc viết hỗn số, chuyển đổi hỗn số sang phân số và ngược lại.
- Biết thực hiện cộng, trừ, nhân, chia phân số Biết các tính chất của cácphép toán cộng và nhân
Trong khi đó “Phân số” là khái niệm hoàn toàn mới vừa mang tính áp đặt
vừa mang tính trìu tượng đối với học sinh Vì vậy đòi hỏi người giáo viên cầnnhận thức rõ bản chất của phân số là cặp sắp thứ tự (a,b) trong đó a là số tựnhiên và b là số tự nhiên khác không được kí hiệu là b
a
và phân số là một hìnhthức biểu diễn của số hữu tỉ Học sinh cần nắm vững kiến thức nhân chia số tựnhiên, khi đã xác định rõ bản chất của phân số thì để dạy tốt chương phân số nàyđòi hỏi giáo viên phải có những hiểu biết nhất định về tập các số hữu tỉ không
âm cùng tính chất của các phép tính trong Q+
Vì vậy khi dạy các phép toán về phân số cho học sinh lớp 5 Giáo viênphải có biện pháp để giúp các em hiểu rõ được bản chất của biện pháp tính đó,nắm được quy tắc mà còn có kỹ năng thực hành một cách thành thạo
2.2 Thực trạng vấn đề dạy và học.
2.2.1 Thực trạng chung.
Việc tiếp cận chương trình Toán 5 đặc biệt là các phép tính về phân sốchưa thực sự chủ động, chưa sáng tạo nên một số giáo viên và học sinh còn gặpkhó khăn trong dạy - học Mặt khác, tư duy của học sinh chưa rành mạch cònphụ thuộc vào mẫu nên khi giáo viên truyền tải kiến thức thì đa phần học sinhvẫn còn khó hiểu, tiếp thu bài chậm và thường hay nhầm lẫn nên hiệu quả chưacao Vậy vấn đề đặt ra, giáo viên cần có những biện pháp phù hợp giúp học sinhtiếp cận kiến thức các phép tính về phân số dễ dàng hơn, hiệu quả hơn Chính vìvậy, hiện nay việc dạy và học các phép tính về phân số đang ngày càng đượcquan tâm
Sau một thời gian trực tiếp đứng lớp cũng như qua tìm hiểu, tôi đã nắmđược những thiếu hụt về kiến thức của học sinh Để khẳng định những điều bănkhoăn và những suy nghĩ của bản thân, tôi đã tiến hành kiểm tra chất lượng củahọc sinh ở lớp 5A do tôi chủ nhiệm
Khảo sát, điều tra tháng 9
Đề khảo sát Bài 1: (4 điểm) Tính rồi rút gọn
a) 7
6 5
4
+
b) c) 7
4 8
5
×
d) 8
5 : 7 2
Bài 2: (2 điểm) Tính bằng cách thuận tiện nhất:
1 11
6 4
3 11
5
+ + +
b) 8
9 6
5
×
- 6
5 8
Cụ thể kết quả khảo sát lớp 5A đầu tháng 9 như sau:
TSHS Hoàn thành tốt Hoàn thành Chưa hoàn thành
Trang 7SL TL SL TL SL TL
Qua thực tế trực tiếp giảng dạy nhiều năm ở lớp 5 cùng với việc dự giờthăm lớp, trao đổi với đồng nghiệp và qua kết quả các bài kiểm tra của học sinhlớp 5 trường tôi, tôi nhận thấy rằng:
Những sai lầm học sinh lớp 5 thường mắc phải trong quá trình thực hành phép tính về phân số như sau:
* Sau khi ôn tập về “Phép cộng (trừ) hai phân số cùng mẫu số”, sau đóchuyển sang học ôn tập về “Cộng (trừ) hai phân số khác mẫu số” Thì nhiều họcsinh vận dụng qui tắc cộng (trừ) hai phân số cùng mẫu để thực hành ngay(không qua bước qui đồng mẫu hai phân số)
Ví dụ: Đối với phép tính 5
2 4
3 +
một số học sinh thường mắc sai lầm khithực hành như sau: 4
2 3 5
2 4
3+ = +
; 4
2 5 4
2
5− = −
* Nguyên nhân: Sai lầm như ví dụ trên do học sinh không có kỹ năng viết
số tự nhiên 2 (hoặc 5) thành phân số có mẫu bằng mẫu số của phân số đã cótrong phép tính ( 4
* Sau khi ôn tập về phép nhân hai phân số Tiếp đó có những bài “Luyện
tập tổng hợp” để ôn lại các phép tính về phân số thì có một số học sinh lại vận
dụng qui tắc nhân hai phân số để thực hành cộng hai phân số khác mẫu số
Chẳng hạn như: 4 5
7 3 5
7 4
2
+
+
= +
(hoặc 4 5
7 x
7 :
3 =
; 5 3
7 3 5
7
=
* Trong quá trình thực hiện phép tính trong một biểu thức, có những phân
số chúng ta cần rút gọn ngay trong quá trình thực hiện Nhưng hầu hết các emkhông có kỹ năng đó
Mà các em vẫn thực hiện tính kết quả của các phép tính một cách bìnhthường
Chẳng hạn như: Với bài 2
15 x 5
4 2
1 +
có một số giáo viên làm như sau:
10
60 2
1 2
15 x 5
4 2
1
= +
= +
Trong khi đó, ở bước này ta có cách làm nhanh gọn hơn:
Trang 86 2
1 2
15 x 5
4 2
1
= +
= +
Dẫn đến khi gặp các biểu thức trong đó có các phân số mà tử số và mẫu sốcủa phân số là những số có nhiều chữ số thì học sinh thường lúng túng khi thựchiện tính kết quả
1 x 2022
2021 x 2021
2020 : 2
1 x 2022
2021 x 2021 2020
Không những thế mà học sinh còn mắc sai lầm trong việc thực hiện tínhgiá trị của một biểu thức đó là: Những phép tính chưa được thực hiện thì các emkhông viết lại trước khi viết dấu bằng tiếp theo Hầu như các em chỉ viết mộtmình kết quả của phép tính được thực hiện trước
Chẳng hạn: Bài tập 6
1 : 3
1 2
1 +
Có em làm như sau:
2 2
1 2 6
1 : 3
1 2
1
= +
=
= +
* Khi làm dạng bài tìm thành phần chưa biết trong một biểu thức có phéptính về phân số:
3 = +
b
a
3 5
Chẳng hạn: Với bài tập: Tính nhanh:
15 60
32 60
45 60
28 4
1 15
8 4
9 15
7
= + + +
= + + +
(Ở bài này làm như vậy là chưa đúng yêu cầu tính nhanh Ở đây các emchưa có kỹ năng vận dụng tính chất giao hoán, tính chất kết hợp phép cộng phânsố) hoặc những bài tập dạng như sau:
Tính nhanh: 2016
2018 2016
2018 x
2018 2016
2018 x
101 −
Các em thường hay lúng túng biến đổi: 2016x1
2018 2016
2018
=
Để có biểu thức dạng: 2016x1
2018 2016
2018 x
2018 2016
2018 x
101 −
Trang 9Từ đó các em có thể vận dụng tính chất nhận một tổng (hoặc hiệu) vớimột số để tính ra kết quả cuối cùng của biểu thức một cách nhanh gọn.
Việc học sinh thường mắc những sai lầm trong quá trình thực hành cácphép tính về phân số có thể do:
2.2.2 Về phía giáo viên:
- Việc dạy về nội dung phân số chưa thực sự được chú trọng Bởi lẽ giáoviên chưa thấy được tầm quan trọng của nội dung này
- Do giáo viên chưa rèn luyện cho học sinh kĩ năng thực hành 4 phép tínhtrên phân số
- Giáo viên chưa chú ý rèn luyện cho học sinh trình bày một cách khoahọc (Đặc biệt là cách viết phân số trong dãy tính, cách đặt dấu gạch ngang, dấubằng, dấu phép tính )
- Khi dạy giáo viên ít cung cấp ngôn ngữ toán học cho học sinh dẫn đếncác em thường gặp khó khăn khi làm những bài toán cần đến sự suy luận, giảithích
- Giáo viên chưa có sự sáng tạo trong việc lựa chọn nội dung phươngpháp và hình thức tổ chức dạy học Một số giáo viên vẫn đề cao vai trò trungtâm của người thầy mà chưa chú trọng tời vai trò “Lấy học sinh làm trung tâm”.Mặt khác, khi soạn bài giáo viên chưa đi sâu xác định kiến thức trọng tâm, kĩnăng cơ bản cần rèn luyện cho học sinh chưa có sự mở rộng mà chỉ bó hẹp trongphạm vi sách giáo khoa và phụ thuộc vào sách giáo viên Thậm chí khi gặp bàitập dạng không tường minh, giáo viên không những không huớng dẫn HS tìm racách làm mà giải luôn cho HS để đỡ mất thời gian Chính vì thế mà kết quả dạyhọc chưa phát huy được hết năng lực, sở trường và tư duy sáng tạo cho học sinh
có năng lực còn HS tiếp thu chậm thì rễ bị hổng kiến thức, không chủ động họctập còn ỷ lại vào sự hướng dẫn của giáo viên
- Giáo viên không khuyến khích, động viên HS trong cách trình bày bàilàm khoa học mà chỉ quan tâm đến phần kết quả của phép tính, biểu thức
2.2.3 Về phía học sinh
- Khi làm bài chưa có sự độc lập sáng tạo còn phụ thuộc nhiều vào bàilàm mẫu của giáo viên một cách máy móc
- Các em chưa quan tâm đến cách trình bày của phép tính, biểu thức
- Một số học sinh lĩnh hội kiến thức một cách thụ động không có kĩ năngvận dụng kiến thức cũ đã học vào việc lĩnh hội kiến thức mới, kĩ năng mới
- Do đặc điểm lứa tuổi nên năng lực tư duy của các em chưa cao Do đókhi gặp những bài toán dạng không tường minh yêu cầu phải có sự suy luận thìcác em thường gặp khó khăn hầu như không biết cách giải quyết
- Các em chưa hiểu rõ và xác định được kĩ năng bộ phận đặc biệt là kĩnăng cơ bản của một biện pháp tính nói chung
2.3 Các biện pháp về dạy rèn kĩ năng thực hiện các phép tính về phân số.
Trong quá trình giảng dạy tôi đã cố gắng rèn luyện cho HS có những kĩnăng thực hành 4 phép tính về phân số một cách thành thạo, hiệu quả cao Để
Trang 10dạy một số biện pháp rèn kĩ năng thực hành 4 phép tính trên phân số cho HS lớp
5 tôi thực hiện các bước sau:
2.3.1 Các bước chung để dạy một biện pháp tính.
Để giúp HS nắm và vận dụng thành thạo một phép tính cần qua hai khâu
cơ bản:
- Làm cho HS hiểu một biện pháp tính và biết làm tính
- Luyện tập để tính đúng và thành thạo có thể qua các bước sau:
a Bước 1: Ôn lại kiến thức cũ, kĩ năng có liên quan.
Bất kì một biện phàp tính mới nào cũng phải dựa trên một số kiến thức kĩnăng đã biết Giáo vien cần nắm chắc rằng: Để hiểu được biện pháp mới, họcsinh cần biết gì? Đã biết gì? (cần ôn lại), điều là gì mới? (trọng điểm của bài)cần dạy kĩ Xem tước các kiến thức và kĩ năng sẽ hỗ trợ cho kiến thức và kĩ năngmới hay ngược lại dễ gây nhầm lẫn cần giúp học sinh phân biệt Trên cơ sở đógiáo viên ôn lại phần đầu các kiến thức có liên quan bằng các phương pháp như:Hỏi đáp miệng, làm bài tập chữa bài tập về nhà (để chuẩn bị cho bài mới)
- Chẳng hạn: Từ cộng hai phân số cùng mẫu số chuyển sang cộng hai
phân số khác mẫu số thì cái mới là bước quy đồng mẫu số các phân số ngaytrong quá trình thực hiện Do đó cần ôn lại cách quy đồng mẫu số các phân sốngay và cách cộng hai phân số cùng mẫu số bằng hỏi đáp hoặc ra bài tập
b Bước 2: Dạy biện pháp tính mới:
Ở đây kết hợp khéo léo các phương pháp giảng dạy như: Hỏi đáp, trựcquan (Trong đó có cả kiểu trò làm thầy xem) để lưu ý học sinh vào được điểmmới, điểm khó, điểm trọng tâm Điều quan trọng là trình bày làm sao nêu đượcnội dung cơ bản của biện pháp tính hình thức trình bày đẹp
Ví dụ: Dạy “Phép nhân hai phân số” (Tiết 29 - toán 5)
Cách giải quyết như sau:
* Hình thành phép nhân hai phân số: Từ một bài toán đơn cùng với một
phương tiện trực quan: Hình thành phép cộng các phân số với số tự nhiên Sau
đó chuyển thành phép nhân phân số với phân số
Chẳng hạn: Giáo viên đính sẵn băng mẫu đã chia thành bảy phần bằng
nhau rồi nêu:” chia một băng giấy thành bảy phần bằng nhau rồi cắt mỗi lần ra
2 7
2
= + +
Chuyển thành phép nhân
1
3 x 7
2 x3 7
2 7
2 7
2 7
2
=
= + +
2 2 2 7
2 7
2 7
2
= + +
= + +
Do đó hình thức hóa: 7
6 1
3
x 7
2 3
x 7
2
=
=
Trang 11Từ đó học sinh nêu được cách nhân hai phân số: tử số nhân với tử số mẫu
số nhân với mẫu số
- Học sinh phát biểu quy tắc và lấy thêm ví dụ
* Nêu phần chú ý: Mở rộng quy tắc cho việc tính tích của nhiều phân số
Ví dụ:
Cách 1: 16
5 48
15 2x4x6
x3x5 1 6
5
x 5
3
x 2
5 1 2x4x6
x3x5 1 6
5
x 5
3
x 2
1
=
=
=
c Bước 3: Luyện tập thực hành rèn kĩ năng
Sau khi học sinh hiểu cách làm học sinh phải lập đi lập lại động tác tương
tự Phương pháp chủ yếu lúc này là học sinh cần làm bài tập điều quan trọng làbài tập phải có hệ thống: Bài đầu y hệt mẫu, các bài sau nâng cao dần độ phứctạp Nếu biện pháp tính bao gồm nhiều kĩ năng, có thể huấn luyện cho học sinhtừng kĩ năng bộ phận
Trong khi luyện tập làm tính, tôi yêu cầu học sinh tay làm miệng nhẩm.Trong quá trình luyện tập, tôi kiểm tra và uốn nắn kịp thời, giảng lại những chỗcác em còn mắc lỗi
d Bước 4: Vận dụng củng cố.
Ở bước này tôi không yêu cầu học sinh nhắc lại biện pháp bằng lời mà tạođiều kiện cho các em biện pháp thông thường là qua giải toán Để học sinh độclập chọn phép tính và làm tính Lúc này tôi chỉ chọn bài toán đơn giản dùng đếnphép tính vừa học chứ không cho các em làm những bài toán hết sức phức tạp
- Việc ôn luyện củng cố những biện pháp tính khác làm trong giờ luyệntập, ôn tập
- Khi củng cố, tôi có thể kiểm tra trình độ hiểu quy tắc của học sinh thôngthường là phương pháp tổ chức trò chơi Trong đó có một số nội dung ở mức độcao hơn để kiểm trra khả năng phát triển tư duy, phân tích tái hiện kiến thức của các em có nhanh không? Từ đó cũng là cơ sở đẻ phát hiện và bồi dưỡng họcsinh có năng lực học tập
Chẳng hạn: Khi dạy ôn “phép nhân hai phân số” cho học sinh lớp 5 Ở
bước củng cố tổ chức trò chơi như các bước sau:
1 Chuẩn bị
2 Giáo viên nêu tên trò chơi
3 Giáo viên phổ biến luật chơi
4 Tiến hành trò chơi
5 Tổng kết trò chơi
2.3.2 Biện pháp rèn luyện kĩ năng cơ bản khi thực hiện các phép tính với phân số giúp học sinh khắc phục sai lầm thường mắc
- Trong qua trình giảng dạy, bản thân tôi nhận thấy rằng: Để dạy tốt một
số biện pháp tính mới thì đầu tiên người giáo viên phải xác định đúng kĩ năng cơbản và biết tập trung sức vào việc rèn kĩ năng cơ bản cho học sinh