và cácphân môn khác của Tiếng Việt, … phân môn Tập làm văn còn có tầm quantrọng cho đến cả sau này khi học sinh không còn học trong mái trường nữa thì nó vẫn luôn theo các em là hành tra
Trang 12.NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 62.3 Các biện pháp rèn kĩ năng học tốt phân môn Tập làm văn 92.3.1 Nêu vị trí, vai trò, nội dung, chương trình của phân môn 9
2.3.6 Rèn kĩ năng diễn đạt câu văn có hình ảnh nghệ thuật 152.3.7 Rèn kĩ năng về việc bộc lộ cảm xúc trong bài văn 16
2.3.9 Dạy học thông qua tích hợp các phân môn 17
3 KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
Trang 2đề cho các bậc học phổ thông Những năm gần đây, Bộ giáo dục và Đào tạocũng đã rất chú trọng trong việc đổi mới phương pháp dạy học đối với các mônhọc nói chung và môn Tiếng Việt nói riêng Sở giáo dục và Đào tạo, Phòng giáodục và Đào tạo cũng đã tổ chức các chuyên đề đổi mới phương pháp dạy học cácmôn học trong đó có môn Tiếng Việt Trong nhà trường cũng đã áp dụng cácchuyên đề đó trong giảng dạy, hàng năm vẫn tổ chức, đánh giá, rút kinh nghiệm.Song chất lượng dạy và học của môn Tiếng Việt vẫn chưa được nâng cao mộtcách rõ rệt Vì thế người giáo viên cần phải linh hoạt, nhạy bén trong các hoạt
động dạy học Nghị quyết TƯ 8 khóa XI của Đảng“Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập Quốc tế” đã khẳng định:
“Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học Học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội”.[7]
Phân môn Tập làm văn là một phân môn có tầm quan trọng trong tất cảcác môn học vì chúng quyết định về nhiều mặt Trong tất cả các môn học đềuphải sử dụng đến hành văn để làm: Tự nhiên xã hội, Đạo đức, Toán, và cácphân môn khác của Tiếng Việt, … phân môn Tập làm văn còn có tầm quantrọng cho đến cả sau này khi học sinh không còn học trong mái trường nữa thì
nó vẫn luôn theo các em là hành trang để đi vào đời cho các em như: học sinh cólàm văn tốt thì ăn nói mới lưu loát được, muốn có một bài “diễn thuyết” giỏimang tính thuyết phục thì cũng phải có hành văn tốt Vậy có thể nói rằng phânmôn Tập làm văn có tầm ảnh hưởng rất lớn đến cả một thế hệ con người Vậythì ngay trong nhà trường phải dạy như thế nào để các em có thể lĩnh hội mônnày một cách tốt nhất, làm sao để phát huy khả năng của học sinh, phát huyngôn ngữ của học sinh đó là một vấn đề mà mỗi người giáo viên chúng ta cầnphải suy nghĩ dạy như thế nào để có chất lượng
Là một người giáo viên trực tiếp đứng lớp, là một học sinh - đã từng họcchuyên văn, tôi rất trăn trở và về việc nâng cao chất lượng dạy và học mônTiếng Việt nói chung và phân môn Tập làm văn nói riêng Với một phườngthuộc trung tâm thành phố Thanh Hóa, trình độ dân trí rất cao, đời sống nhândân phát triển, một nơi mà giáo viên và học sinh phần lớn nói chuẩn tiếng phổ
Trang 3thông, nhưng một phần không nhỏ còn nói tiếng địa phương như : thanh hỏi(?),thanh ngã còn lẫn lộn, khả năng dùng từ, đặt câu chưa chính xác, diễn đạt chưatrôi chảy Vì thế, nó sẽ ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng dạy và học môn TiếngViệt đặc biệt là phân môn Tập làm văn Hằng năm, tỉ lệ điểm (học sinh hoànthành tốt) không cao trong các lần kiểm tra định kì đều rơi nhiều vào môn TiếngViệt Vì thế bản thân tôi đã trăn trở, tìm hiểu và thiết nghĩ: Đổi mới phươngpháp dạy học không chỉ là sử dụng các phương pháp dạy học hợp lí và vận dụngcác hình thức dạy học linh hoạt.v.v… mà cần phải đổi mới từ bản thân giáo viên
về cách nghĩ, cách làm, luôn trau dồi về chuyên môn, nghiệp vụ…, từ đó mớihướng dẫn cho học sinh chiếm lĩnh được kiến thức một cách toàn diện Một giáoviên mà đọc sai chính tả ( tr, ch, s, x), nói và viết tiếng địa phương, đọc mẫu bàitập đọc chưa đúng, cảm thụ bài văn chưa tốt, viết một đoạn văn chưa phong phú,sáng tạo, kể câu chuyện chưa hay, chưa hấp dẫn… thì làm sao mà thu hút đượchọc sinh trong học tập Bản thân học sinh đã đọc sai, viết sai rồi nay lại nghe côhướng dẫn như thế thì chắc chắn các em sẽ không thấy được lỗi của mình.Những tồn tại này lâu nay trong trường không mấy ai để ý đến vì cho là chuyệnnhỏ, nếu có sửa chữa thì cũng không triệt để được, hơn nữa trên địa bàn cũngchưa có giáo viên nào nghiên cứu về vấn đề này Để góp phần vào việc đổi mớiphương pháp dạy học, cũng như góp phần vào việc nâng cao chất lượng học tậpmôn Tiếng Việt nói chung và phân môn Tập làm văn nói riêng trong nhà trường
Chính vì những lí do trên mà tôi chọn đề tài: “Một số biện pháp rèn kỹ năng học tốt phân môn Tập làm văn lớp 3” để nghiên cứu Và tôi mong rằng đây sẽ
là một sự khởi sắc để tiếp tục nghiên cứu đề tài rộng hơn nữa
1.2 Mục đích nghiên cứu:
Để giúp cho chúng ta thấy rõ vị trí quan trọng của phân môn Tập làm văntrong môn Tiếng Việt Để giúp học sinh tiếp thu bài giảng một cách nhẹ nhàng,khắc sâu kiến thức về phân môn Tập làm văn và viết được bài văn hay, hấp dẫn.Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và thực tiễn dạy học ở trường Tiểu học tìm ranhững khó khăn, thiếu sót khi học Tập làm văn của học sinh để đề ra một sốbiện pháp rèn kĩ năng học tốt phân môn Tập làm văn cho học sinh lớp 3
1.3 Đối tượng nghiên cứu:
- Đề tài này nghiên cứ về: “Một số biện pháp rèn kỹ năng học tốt phân môn Tậplàm văn lớp 3.”
1.4 Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết: Trong quá trình nghiên cứu
đề tài bản thân tôi đã tìm tòi, nghiên cứu thu thập thông tin thông qua đọc sáchbáo, tài liệu nhằm mục đích tìm chọn những khái niệm cơ bản là cơ sở cho lýluận của đề tài, hình thành giả thuyết khoa học, dự đoán về những thuộc tính củađối tượng nghiên cứu, xây dựng những mô hình lý thuyết và thực nghiệm banđầu
- Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế, thu thập thông tin: Bản thân tôi đã sửdụng phương pháp này để điều tra, khảo sát đối tượng học sinh trong lớp 3 trướckhi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm: tìm hiểu đặc điểm, thu thập thông tin làm
Trang 4chứng cứ quan trọng để đề xuất những giải pháp thực tiễn Và điều tra kết quảlàm văn của học sinh, sau khi đã áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
- Phương pháp điều tra, quan sát thực tế, tìm hiểu đối tượng: Trong quá trìnhthực hiện đề tài tôi cho học sinh điều tra, tìm hiểu về các đối tượng định kể vàtiến hành tổ chức quan sát đối tượng theo cá nhân, nhóm, tập thể
- Phương pháp đàm thoại, trao đổi thông tin: Sau khi quan sát, tôi tổ chức chocác em nhận xét, đàm thoại và trao đổi thông tin để tìm ra những nét tiêu biểu,nổi bật của đối tượng
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: tìm hiểu kết quả các lớp học sinh trước,phát hiện những mặt mạnh, mặt yếu để đưa ra giải pháp khắc phục Sau khi ápdụng sáng kiến kinh nghiệm, tôi dùng phương pháp tổng kết để đánh giá lạinhững hiệu quả mà sáng kiến đem lại
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: dạy thử và đối chứng
Trang 52 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm:
Môn Tiếng Việt là một môn học rất quan trọng và bao gồm rất nhiều cácphân môn, vì thế đòi hỏi ở người dạy và người học phải hết sức cố gắng Dạy vàhọc môn Tiếng Việt trong nhà trường là một hoạt động vô cùng quan trọng Nó
sẽ quyết định đến chất lượng cũng như quyết định sứ mệnh của nhà trường vậy
Để nâng cao chất lượng dạy và học môn Tiếng Việt là một việc làm thườngxuyên và không thể thiếu được của người giáo viên
Bên cạnh việc học tập của các em thì vấn đề dạy học của giáo viên cũng
vô cùng quan trọng Cô sẽ là người quyết định chất lượng của các tiết học.Tiếthọc ấy có thành công hay không? Vì sao học sinh tiếp thu bài chậm? Vì sao khilàm văn vẫn dùng tiếng địa phương? Vì sao câu văn dùng từ còn tối nghĩa chưatrôi chảy? Vì sao bố cục đoạn văn chưa rõ ràng, chưa có câu mở đoạn và câu kếtthúc đoạn văn? Vì sao học sinh chưa làm bài xong? Cô giáo có biết không? Cô
có trăn trở với những gì còn tồn tại trong tiết học? Hay cô đã bằng lòng với chấtlượng của lớp mình vì dù sao đã hơn hẳn các lớp bên? Dù sao đã tiến bộ hơnhôm trước một chút? Cô có thấy trách nhiệm nặng nề của mình đối với ngànhhay chỉ là hình thức đối phó? Ngoài ra đối với đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi Tiểuhọc các em rất hiếu động, luôn bộc lộ những nhận thức, tư tưởng, tình cảm, ýnghĩ của mình một cách vô tư, hồn nhiên, thật thà và ngay thẳng (nghĩ cái gì thìviết và nói cái ấy), nói tiếng địa phương thì cũng viết tiếng địa phương Tất cả,tất cả những vấn đề vừa đặt ra đều là khó khăn cần phải giải quyết
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
Mấy năm gần đây, Sở Giáo dục và Đào tạo, Phòng Giáo dục và Đào tạo, cácnhà trường đã đổi mới phương pháp dạy học rất nhiều và đương nhiên là chấtlượng học tập của học sinh cũng được tăng lên rõ rệt đặc biệt là ở địa bàn Thànhphố và các huyện lân cận Song một điều mà hiển nhiên ai trong chúng ta cũngthấy nhưng mà lại chưa có một biện pháp khắc phục nào đó là phương pháp dạycho các vùng miền Đặc biệt là môn Tiếng Việt Ở mỗi một vùng miền khácnhau, đối tượng học sinh tiếp thu bài khác nhau, các giáo viên cũng truyền thụkiến thức khác nhau tới các em học sinh Mỗi một người đều có sự nhìn nhậnkhác nhau và đánh giá cũng rất khác nhau Tất nhiên là tùy thuộc vào từng vùngmiền mà ta có sự du di nhất định Nhưng không phải là xem nhẹ, buông lõng sẽthiếu đi tính khách quan, độ chính xác của mặt bằng trong tỉnh Từ miền xuôicho đến miền núi, từ vùng nông thôn cho đến vùng biển… Mỗi một vùng miềncách dùng tiếng địa phương của mỗi học sinh đều khác nhau, đều mang âmhưởng của vùng miền đó Việc dạy cho học sinh nói đúng, viết đúng và sử dụng
từ ngữ, câu văn đúng cũng là điều khó, huống hồ là giáo viên lại còn phát âmsai Mặt khác, giáo viên cảm thụ bài văn chưa tốt hay đọc một bài tập đọc chưadiễn cảm, hoặc kể một câu chuyện chưa hấp dẫn, viết một đoạn, bài văn mẫuchưa hay… thì sẽ ảnh hưởng như thế nào đến chất lượng học tập của học sinh?Chưa nói là giáo viên mà phát âm chưa chuẩn thì dẫn đến đánh giá chất lượnghọc tập của học sinh cũng thiếu đi sự chính xác Là một giáo viên thấy nhữngđiều bất cập mà không nghiên cứu, không tìm giải pháp khắc phục là một điều
Trang 6sai lầm Biết đâu từ những giải pháp nho nhỏ mà mình đưa ra lại mang lại mộtthành công lớn trong việc nâng cao chất lượng dạy và học của giáo viên và họcsinh, góp phần vào việc đổi mới phương pháp dạy học trong nhà trường Vớinhững gì đang diễn ra trong thực tế ở một số địa phương trong thành phố, trongtỉnh, và đặc biệt là trong trường tôi đã thực sự đổi mới về phương pháp dạy họcmôn Tiếng Việt.Nhưng vẫn còn xem nhẹ những lỗi sai về tiếng địa phương, mặc
dù đã nâng cao công tác tự học tự bồi dưỡng, đã coi trọng công tác bồi dưỡngchuyên môn nghiệp vụ để nâng cao tay nghề của mình… Nhưng vẫn dẫn đếnchất lượng học môn Tiếng Việt chưa cao so với điều kiện thuận lợi của nhàtrường Từ tình hình thực tiễn đó, tôi đã trăn trở, suy nghĩ và nghiên cứu tìm raMột số biện pháp rèn kĩ năng học tốt môn Tập làm văn ở lớp 3 Chính vì thế tôimạnh dạn chọn đề tài này là một vấn đề hoàn toàn hợp lí Trong đề tài có đưa ramột số giải pháp, mặc dù những giải pháp đó chưa được sắc bén, chưa được táobạo Song dù sao cũng đã góp được một phần nào vào việc nâng cao chất lượngdạy và học trong trường chúng tôi Mong rằng cũng sẽ góp được một phần nàocho việc nâng cao chất lượng ở các trường bạn trong địa bàn thành phố nói riêng
và các trường trong địa bàn tỉnh nói chung Trong những năm tới và cũng là bàihọc kinh nghiệm cho những người giáo viên như chúng tôi
Qua tìm hiểu tài liệu, sách báo, qua dự giờ thăm lớp và trực tiếp giảng dạylớp 3, tôi nhận thấy rằng đa số học sinh về khả năng học phân môn tập làm văncủa các em là quá kém Học sinh không biết làm một bài văn hoàn chỉnh, khôngbiết dùng từ đặt câu, trong quá trình làm bài văn không biết dùng các biện pháp
tu từ so sánh, nhân hóa, cả biện pháp liên tưởng vào làm các bài văn kể.Trongcách làm bài của học sinh không sử dụng câu mở đoạn cho một đoạn văn mặc
dù kiến thức này đã được học ở lớp 2 ( trong phần gợi ý các bài văn) Các câutrong đoạn văn hay cả bài văn không có sự liên kết chặt chẽ, không theo mộttrình tự nhất định Chính vì vậy, bài văn của học sinh thường bị lộn xộn,kể lểlung tung, không theo một thể thống nhất
Tìm hiểu trên địa bàn thành phố, nhà trường và lớp chủ nhiệm tôi nhậnthấy một số thuận lợi và khó khăn như sau :
*Thuận lợi
- Hiện nay ngành Giáo dục – Vụ Giáo dục Tiểu học đã phát triển chương trìnhdạy học mới – nội dung mới, phương pháp mới phù hợp với mục tiêu giáo dục
và sự phát triển của đất nước
- Chương trình này đang được các trường Tiểu học trong cả nước triển khai mộtcách đồng bộ và thống nhất
- Giáo viên đã được tập huấn, học chuyên đề một cách tốt nhất Vì vậy, họ chủđộng tiếp thu chương trình mới, phương pháp dạy học mới, nâng cao việc tổchức hướng dẫn cho học sinh tiếp cận và lĩnh hội tri thức mới
- Còn về học sinh thì đã phát huy được tính tích cực học tập sáng tạo Học sinh
là người lĩnh hội tri thức dựa trên chỉ đạo của giáo viên Vì vậy các em rất phấnkhởi, rất chủ động và thấy hấp dẫn trong học tập
- Phụ huynh học sinh họ vô cùng tin tưởng vào chương trình mới giúp họ tạođiều kiện cho con cái học tập tốt hơn
Trang 7- Học sinh lớp 3 lớn hơn so với lớp học sinh lớp 1, lớp 2 nên nhận thức tốt hơn,
có khả năng tưởng tượng phong phú hơn, biết nhìn nhận và thâu tóm những hìnhảnh vào tri thức và nhớ có hệ thống hơn so với các em lớp dưới Gần như đa sốcác em đã biết sử dụng từ đặt câu, viết như thế nào cho trọn vẹn ý, các em lĩnhhội nhanh và biết sử dụng các biện pháp tu từ để đưa vào bài tập làm văn củamình
- Giáo viên được học bồi dưỡng thường xuyên về phân môn Tập làm văn quacác đợt học chuyên môn, chuyên đề, được dự giờ thăm lớp để học hỏi qua đồngnghiệp, được Ban giám hiệu trường tổ chức thao giảng, chuyên đề để rút ra kinhnghiệm cho bản thân
Bên cạnh đó là do đã nhiều năm dạy chương trình cũ, kĩ năng, phươngpháp và cách thức dạy đã hằn sâu vào mỗi giáo viên Thay vào đó là chươngtrình mới “Lấy học sinh làm trung tâm” thì không ít giáo viên chưa chịu đầu tưvào nghiên cứu tài liệu, chưa nắm rõ quy trình dạy theo hướng đổi mới màthường lẫn lộn giữa cũ và mới Mặt khác giáo viên còn phụ thuộc quá nhiều vàotài liệu hướng dẫn như sách giáo viên, thiết kế bài giảng và chỉ cung cấp kiếnthức mới chưa đi sâu vào vấn đề phát huy tính tích cực, sáng tạo cho học sinhTiểu học
Song bên cạnh đó, có một số giáo viên là dạy theo hướng đổi mới nhưngthực chất họ vẫn truyền thụ lí thuyết (dạy nói nhiều) giáo viên giảng theo cái cósẵn và làm việc một cách máy móc Chưa thực sự chú ý đến phát huy kĩ năngsáng tạo cho học sinh, làm cho học sinh học tập một cách thụ động Chủ yếunghe giáo viên giảng và ghi nhớ một cách máy móc (học vẹt) và thực hiện làmtheo mẫu Chính vì thế nên học sinh ít có hứng thú học tập bởi các hình thức họctập nghèo nàn, đơn điệu Năng lực vốn có, kĩ năng tư duy của học sinh ít đượcphát huy, ít có cơ hội thể hiện Từ đó, giáo viên trở thành người duy nhất đánhgiá kết quả học tập của học sinh Học sinh không có điều kiện để tự đánh giá vàđánh giá lẫn nhau Tiêu chuẩn để đánh giá của giáo viên là: Là kết quả ghi nhớtái hiện những điều mà giáo viên đã giảng Cách dạy như vậy đã làm hạn chế rấtnhiều đến sự phát triển của học sinh, hạn chế về đào tạo ra những con người cótính năng động, sáng tạo, tự tin trong cuộc sống Khó thích ứng với môi trườnghoạt động thay đổi Vì vậy ngành Giáo dục đã và đang đổi mới phương phápdạy học để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đáp ứng kịp thời và cách tốtnhất cùng với đất nước tiến lên “Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá đất nước”
Hiện nay, chúng ta đang có xu hướng nâng cao dần, nâng cao mãi kết quảbài làm văn của học sinh Nghĩa là chúng ta đang hướng tới những bài văn haycủa học sinh trong khi việc dạy của thầy, cô giáo lại chưa đạt được yêu cầu
Trang 8hướng dẫn, dìu dắt người học từng bước Chấm bài thì dễ dàng tìm ra sai sótnhưng làm sao cho học sinh khỏi sai sót thì nhiều khi phần lớn chúng ta lạikhông chỉ ra được một cách đầy đủ đúng hướng cho học sinh.
Đâu là nguyên nhân dẫn đến tình trạng chất lượng Tập làm văn của học sinhkhông đạt yêu cầu ? Qua quá trình giảng dạy lớp 3, tôi nhận thấy học sinh họcyếu Tập làm văn là do nhiều nguyên nhân
+ Nguyên nhân về phía cha mẹ học sinh
- Một nét tâm lý khá phổ biến của cha mẹ học sinh là muốn cho con học thêm vềtoán, về các môn tự nhiên, rất ít cha mẹ muốn cho con học làm văn nếu không
có yêu cầu của giáo viên
- Cha mẹ học sinh cũng còn nhược điểm là ít mua sách phân môn Tập làm văncho các em đọc, thường chiều theo ý thích của con Hiếm thấy những gia đìnhxây dựng cho con tủ sách phục vụ tốt cho việc học phân môn Tập làm văn ởTiểu học
- Một điều đáng nói nữa đó là văn hóa đọc trong xã hội của chúng ta đang bị maimột đi, phụ huynh ít người quan tâm đến việc đọc sách của bản thân cũng nhưcủa con em mình
* Thực trạng học của học sinh :
Cân đối với học sinh do quá trình học tập và làm văn dựa theo văn mẫu quánhiều vì thế học sinh thường có những lỗi sai cơ bản như:
- Bài viết của học sinh còn mắc nhiều lỗi chính tả
- Có những bài văn các em viết y nguyên văn mẫu : Khi kể về một người mà emyêu quý
- Học sinh chưa xác định được trọng tâm đề bài cần kể
- Nhiều em thường liệt kê, kể lể dài dòng, diễn đạt vụng về, lủng củng Nhiều
em chưa biết dừng lại để nói kĩ một vài chi tiết cụ thể nổi bật
- Vốn từ ngữ của các em còn nghèo nàn, khuôn sáo, quan sát người còn hời hợt
- Các em đều biết phần gợi ý của một đoạn văn có phần:Mở đoạn, thân đoạn vàkết đoạn Nhưng viết từng phần như thế nào thì lại lúng túng
- Một số em viết đoạn văn có đủ nội dung nhưng chưa phân biệt rõ bố cục thành
3 phần cụ thể
- Bài văn kể nhưng chỉ mang tính chất kể lại theo cảm nhận của các em
- Chưa biết sáng tạo, chưa nắm được cách dùng các biện pháp so sánh, nhân hóatrong bài văn của mình
- Dùng nhiều từ ngữ địa phương trong bài tập làm văn
+ Nguyên nhân của thực trạng học :
- Khi làm văn, học sinh chưa xác định được yêu cầu trọng tâm của đề bài
- Học sinh không được quan sát trực tiếp đối tượng miêu tả
- Khi quan sát thì các em không được hướng dẫn về kĩ năng quan sát: quan sátnhững gì, quan sát từ đâu? Làm thế nào phát hiện được nét tiêu biểu của đốitượng cần miêu tả
- Không biết hình dung bằng hình ảnh, âm thanh, cảm giác về sự vật miêu tả khiquan sát
Trang 9- Vốn từ đã nghèo nàn lại không biết sắp xếp như thế nào để bài viết mạch lạc,chưa diễn đạt được bằng vốn từ ngữ, ngôn ngữ của mình về một sự vật, cảnhvật, về một con người cụ thể nào đó.
- Bản chất của làm văn không phải là sự bắt chước máy móc, bắt chước mãi,không còn gì là của riêng mình thì sẽ trở thành người máy Một lớp toàn ngườimáy thì không còn là lớp học Lớp mà như vậy thì việc dạy và học đã đi chệchcon đường “Dạy tốt, học tốt”
- Được học như vậy, được đọc như vậy, học sinh càng thấy môn Tiếng Việt nóichung, phân môn Tập làm văn nói riêng là lĩnh vực không thể nào chiếm lĩnhđược Có chăng, chỉ một tỉ lệ phần trăm ít ỏi là có may mắn học giỏi môn này
mà thôi
* Thực trạng dạy của giáo viên :
- Thực trạng học sinh còn nhiều hạn chế như vậy đã làm cho tiết Tập làm văn trởthành một gánh nặng, một thách thức đối với giáo viên Tiểu học Ý nghĩ chorằng Tập làm văn là một phân môn khó dạy, khó học và khó đạt hiệu quả cao đã
là nhận thức chung của nhiều thầy cô giáo dạy lớp 3
+ Nguyên nhân của thực trạng dạy :
- Phân môn Tập làm văn là một môn học mang tính tổng hợp và sáng tạo, nhưnglâu nay người giáo viên (nhất là giáo viên lớp 2, lớp 3) chưa có cách phát huy tối
đa năng lực học tập và cảm thụ văn học của học sinh; chưa bồi dưỡng được chocác em lòng yêu quý Tiếng Việt, ham thích học Tiếng Việt để từ đó các em nhận
ra rằng đã là người Việt Nam thì phải đọc thông viết thạo Tiếng Việt và pháthuy hết ưu điểm của tiếng mẹ đẻ
Qua khảo sát thực tế về kĩ năng làm văn của học sinh lớp 3A4 (Trongmôn Tiếng Việt) (đầu năm học 2021 – 2022) kết quả thu được rất thấp:
Lớp Tổng số
Điểm Hoàn thành tốt Hoàn thành Chưa hoàn thành SL
2.3 Các biện pháp rèn kĩ năng học tốt phân môn Tập làm văn
2.3.1.Xác địng rõ vị trí, vai trò, nội dung, chương trình của phân môn Tập làm văn:
* Vị trí, vai trò của phân môn:
Trang 10Tập làm văn có nhiệm vụ chủ yếu là rèn kĩ năng sản sinh ngôn bản nói vàviết Không học tốt tập làm văn, khả năng nói và viết ngôn bản của học sinh sẽ
bị hạn chế Vì tập làm văn được thừa hưởng và cần phải tận dụng vốn từ vựng,nghệ thuật dùng từ, đặt câu … mà học sinh thu nhận được từ các bài tập đọc, kểchuyện, …không những thế, học sinh còn được học cách dùng tính từ, động từ,học được cách dùng các phép so sánh, nhân hóa , để chắp thêm cánh cho trítưởng tượng, liên tưởng… khi làm các bài văn tả cảnh trong chương trình tập
làm văn Theo Đào Duy Anh trong Hán Việt từ điển, miêu tả là “Lấy nét vẽ hoặc câu văn để biểu hiện cái chân tướng của sự vật ra”. [6] Trong văn miêu tả,người ta không đưa ra những lời nhận xét chung chung, những lời đánh giá trừutượng về sự vật như: cái cặp này cũ, cái bàn này hỏng… Mà văn miêu tả vẽ racác sự vật, sự việc, hiện tượng, con người … bằng ngôn ngữ một cách sinhđộng, cụ thể Văn miêu tả giúp người đọc nhìn rõ chúng, tưởng như mình đangxem tận mắt, sờ tận tay Tuy nhiên hình ảnh một cánh đồng, một dòng sông, mộtcon vật, một con người… do văn miêu tả tạo nên không phải là bức ảnh đượcchụp lại, sao chép lại một cách vụng về Nó là sự kết tinh của những nhận xéttinh tế, những rung động sâu sắc mà người viết đã thu lượm được khi quan sát
cuộc sống Vì thế mà văn miêu tả có thể được ví như “hòn đá thử vàng” đối với
các tài năng văn học, tạo nên sức hấp dẫn của các tác phẩm văn học Những
sáng tác (bài văn) đầu tay sẽ như “tiếng chim gọi đàn” đánh thức niềm hứng thú
và năng khiếu văn chương còn ẩn tàng trong những tâm hồn trẻ thơ, khuyếnkhích các em bước thêm một bước từ việc học tập môn Tiếng Việt ở nhà trường:không chỉ tiếp thu cái hay cái đẹp của tiếng mẹ đẻ, của văn học dân tộc, mà còn
bắt đầu từ chút vốn liếng ấy, các em muốn tự mình “làm ra” những vẻ đẹp của
riêng mình Nói theo M Gor-ki thì con người khi sinh ra vốn đã mang phẩmchất nghệ sĩ trong tâm hồn, chỉ có điều cái vốn ấy có được đánh thức và pháthuy hay không!
*N i dung, chương trình của phân môn: Số lượng bài, tiết theo dạngng trình c a phân môn: S lủa phân môn: Số lượng bài, tiết theo dạng ố lượng bài, tiết theo dạng ượng bài, tiết theo dạngng b i, ti t theo d ngài, tiết theo dạng ết theo dạng ạng
Cả năm
(Tổng số
tiết)
Văn kể vềngười, lễ hội,viết thư
Văn kể chuyện
Làm báo cáo thống kê,luyện tập thuyết trình tranhluận, làm đơn, báo cáohoạt động, lập chươngtrình hoạt động, tập viếtđoạn đối thoại
Dạy như thế nào để học sinh học giỏi Tập làm văn, viết được những bài văn kểsinh động? Điều cơ bản là người dạy phải nắm vững nội dung chương trình,đồng thời biết chọn và vận dụng phương pháp phù hợp để hướng dẫn cho họcsinh tiếp thu kiến thức Biết được học sinh cần gì, chưa biết những gì để xácđịnh đúng mục tiêu bài dạy, xác lập được mối quan hệ giữa kiến thức bài dạyvới kiến thức cũ và kiến thức sẽ tìm hiểu tiếp theo Cụ thể, giáo viên cần nắmvững những vấn đề sau: Nội dung chương trình Tập làm văn lớp 3: Cả năm có
Trang 1135 tiết trong đó Tập làm văn kể về người, lễ hội, viết thư 27 tiết (chiếm gần 70%
số tiết) với mục tiêu là trang bị kiến thức và rèn luyện kĩ năng làm văn, góp phầncùng với các môn học khác làm giàu vốn sống, rèn luyện tư duy, bồi dưỡng tâmhồn, cảm xúc thẩm mĩ, hình thành nhân cách cho học sinh Hướng dẫn học sinhphân tích ngữ liệu để nắm vững yêu cầu bài tập và làm bài tập thực hành
Ví dụ về một số dạng bài và cách xác định mục tiêu một số bài văn kể:
- Với bài Hình thành kiến thức mới: Được hướng dẫn theo từng phần nhậnxét một bài văn kể Đồng thời các em còn được hướng dẫn, nhận xét bài văn kểkhá dài để học sinh rút ra ghi nhớ, rồi tiếp tục vận dụng ghi nhớ để nhận xét cấutạo của bài văn kể về người Đây là một điều rất khó khăn đối với học sinh nóichung và học sinh địa phương nói riêng vì thời gian ít mà các em phải tìm hiểu
để nắm được nội dung phương pháp kể của các bài văn Để giải quyết khó khănnày giáo viên cần cho học sinh đọc kĩ bài văn, xác định ý chính của từng đoạn.Khi xác định đúng từng đoạn và ý chính xem như là học sinh đã nắm được cấutạo của bài văn đó
- Với bài Thực hành luyện tập: Được trình bày theo thứ tự hướng dẫnchuẩn bị, hướng dẫn làm bài, hướng dẫn hoàn chỉnh bài chỉ trong một tiết Đây
là điều kiện chưa thực sự thuận lợi cho học sinh làm văn kể về người hoặc lễ hội Nhưng với học sinh yếu các em lại nhanh quên, không chăm học nên kết quảlàm bài sẽ khó đạt yêu cầu Vì học sinh phải hoàn thành ngay trong 1 tiết học cả
lý thuyết và thực hành là 35 phút.Giáo viên cần động viên khuyến khích các emtạo cho mình thói quen tự học kết hợp với sự hỗ trợ của cô và các bạn trong Banhọc tập
- Với nội dung học kiểu bài tả cảnh đòi hỏi người giáo viên phải nghiêncứu kĩ phương pháp, mục tiêu từng tiết học sao cho phù hợp với trình độ của họcsinh góp phần phát triển năng lực cho học sinh và tiết học sẽ đạt được kết quảcao
Ví dụ về việc xác định mục tiêu (kiến thức và kĩ năng) của văn tả cảnh: Tiết hình thành kiến thức “Cấu tạo của bài văn tả cảnh”
- Yêu cầu về kiến thức: Nắm được cấu tạo 3 phần (Mở bài, thân bài, kết bài) củamột bài văn tả cảnh
- Yêu cầu về kĩ năng: Biết phân tích cấu tạo của một bài văn cụ thể
Tiết dựng đoạn mở bài, kết bài:
-Yêu cầu về kiến thức: Củng cố kiến thức về đoạn mở bài, kết bài trong bài văn
- Yêu cầu về kĩ năng: Biết cách viết kiểu mở bài (trực tiếp, gián tiếp) và kết bài(mở rộng, không mở rộng)
Tiết luyện tập tả cảnh:
- Yêu cầu về kiến thức: Hiểu thế nào là nghệ thuật quan sát và miêu tả?
+ Biết phát hiện những hình ảnh đẹp trong bài văn
+ Hiểu thêm về cách quan sát và chọn lọc chi tiết trong bài văn, hoàn chỉnh cácđoạn văn dựa theo nội dung chính của mỗi đoạn
+ Lập dàn ý chi tiết cho bài văn, thông qua các đoạn văn hay học được cáchquan sát khi tả cảnh
+ Biết chuyển một phần của dàn ý thành đoạn