Trẻ ở lứa tuối mầm non nhất là đối với lứa tuổi 3 - 4 tuổi ở giaiđoạn này trẻ mới bắt đầu hình thành hoạt động giao tiếp với môi trường xungquanh, chính vì vậy mà việc cung cấp ngôn ngữ
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BÁ THƯỚC
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG TIẾNG VIỆT CHO TRẺ MẪU GIÁO VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI LỚP 3-4 TUỔI C2 KHU TRUNG TÂM TRƯỜNG MẦM NON CỔ LŨNG HUYỆN
BÁ THƯỚC TỈNH THANH HÓA
Người thực hiện: Hà Thị Nga Chức vụ: Giáo Viên
Đơn vị công tác: Trường Mầm Non Cổ Lũng
Huyện Bá Thước, Tỉnh Thanh Hóa SKKN thuộc lĩnh vực: Chuyên Môn
THANH HOÁ, NĂM 2022
Trang 22 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 3
2.1 Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm 32.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 42.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề 72.3.1 Giải pháp 1: Tăng cường Tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số bằng cách trò chuyện với trẻ. 72.3.2
Giải pháp 2: Tăng cường Tiếng Việt cho trẻ 3-4 tuổi vùng
dân tộc thiếu số thông qua hoạt động làm quen tác phẩm văn
học
9
2.3.3 dân tộc thiểu số thông qua chơi hoạt động góc.Giải pháp 3: Tăng cường Tiếng Việt cho trẻ 3-4 tuổi vùng 112.3.4 Giải pháp 4: Tăng cường Tiếng Việt cho trẻ 3-4 tuổi vùng dântộc thiểu số thông qua hoạt động chơi ngoài trời. 122.3.5
Giải pháp 5: Tăng cường Tiếng Việt cho trẻ 3-4 tuổi vùng dân
tộc thiểu số qua hoạt động vui chơi trải nghiệm mọi lúc mọi
Trang 31.1 Lý do chọn đề tài.
Phát triển ngôn ngữ Tiếng Việt cho trẻ là một trong những nhiệm vụ quantrọng nhất ở trường mầm non, hoạt động này không những giúp trẻ hình thành vàphát triển các khả năng ngôn ngữ giao tiếp như: nghe, nói, đọc, viết mà còn giúptrẻ phát triển khả năng tư duy, nhận thức, tình cảm…
Giáo viên mầm non được xem là người thầy đầu tiên đặt nền móng cho việcđào tạo nhân cách con người mới cho xã hội chủ nghĩa tùy theo độ tuổi mà giáodục khác nhau Trẻ ở lứa tuối mầm non nhất là đối với lứa tuổi 3 - 4 tuổi ở giaiđoạn này trẻ mới bắt đầu hình thành hoạt động giao tiếp với môi trường xungquanh, chính vì vậy mà việc cung cấp ngôn ngữ để tăng cường Tiếng Việt cho trẻđặc biệt là trẻ vùng dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn là
vô cùng quan trọng và cần thiết, nhằm hình thành kỹ năng cần thiết cho việc học
và sử dụng ngôn ngữ Tiếng Việt của trẻ ở các lớp, các cấp học tiếp theo Nếu ngônngữ Tiếng Việt của trẻ vùng dân tộc thiểu số phát triển tốt thì sẽ giúp cho trẻ nhậnthức được và khả năng giao tiếp của trẻ sẽ tốt hơn, việc phát triển ngôn ngữ TiếngViệt cho trẻ trong giao tiếp sẽ giúp trẻ tự tin hơn, từ đó trẻ sẽ dễ dàng tiếp cận, hòađồng được với các hoạt động trong ngày cùng cô trong trường mầm non
Trong chương trình giáo dục hiện nay đặc biệt thực hiện theo thông tư 28của Bộ giáo dục và đào tạo [1] thì vấn đề phát triển ngôn ngữ Tiếng Việt cho trẻđóng vai trò rất quan trọng, ngôn ngữ là công cụ thiết yếu và cần thiết để trẻ giaotiếp, để liên hệ với người khác qua giao lưu trao đổi, bày tỏ ý kiến mong muốn củamình… ngoài ra ngôn ngữ còn là công cụ, là sản phẩm của hoạt động trí óc tưởngtượng, sáng tạo, suy nghĩ Nếu như ngôn ngữ Tiếng Việt của trẻ càng phong phúthì việc hòa nhập với thế giới bên ngoài, với cuộc sống xã hội cũng như việc họctập, vui chơi của trẻ sẽ thuận lợi hơn Bởi vì quá trình sử dụng ngôn ngữ TiếngViệt được thực hiện thường xuyên, xuyên xuốt trong đời sống sinh hoạt hàng ngày
và quá trình học tập của trẻ
Thực tế ở địa phương tôi sinh sống và nơi tôi công tác 100% là trẻ dân tộcThái, đa số trẻ giao tiếp với nhau bằng tiếng mẹ đẻ ( Tiếng Thái), khả năng giaotiếp bằng Tiếng Việt (Tiếng phổ thông) của trẻ còn rất hạn chế nên rất khó khăntrong việc tiếp thu bài giảng của cô ở trên lớp, cũng như trong sinh hoạt hàng ngàycủa trẻ Chính vì vậy việc tăng cường Tiếng Việt cho trẻ vùng dân tộc thiểu số làviệc làm rất quan trọng , cần thiết và thiết thực, cần đưa ra kế hoạch thực hiệnthường xuyên và lâu dài
Trong năm học 2021 – 2022 được sự phân công của Ban giám hiệu nhàtrường bản thân tôi được phụ trách lớp 3 - 4 tuổi C2 khu trung tâm với tổng số trẻ
là 22 cháu, 100% trẻ trong lớp là trẻ dân tộc thái, khả năng giao tiếp và sử dụngngôn ngữ Tiếng Việt của trẻ còn rất hạn chế, trong quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng
và giáo dục trẻ tôi nhận thấy nhiều khó khăn trong quá trình học tập, vui chơi, giaotiếp, bày tỏ ý kiến cũng như việc trao đổi, tiếp thu bài và chất lượng của mọi hoạtđộng trong ngày rất thấp, vì vốn Tiếng Việt của trẻ còn rất hạn chế,trẻ chưa nóithành thạo, chưa biết cách diễn đạt câu từ, vì vậy chúng ta cần chuẩn bị tốt vốnTiếng Việt ban đầu cho trẻ bằng nhiều hình thức và phương pháp khác nhau phù
Trang 4hợp với độ tuổi và đặc điểm tâm sinh lý, khả năng tiếp thu, nhận thức của từng trẻ
để lựa chọn phương pháp giáo dục phù hợp với trẻ như: qua trao đổi tròchuyện,quan sát đàm thoại, đọc thơ, kể chuyện, hoạt động ngoài trời, hoạt độnggóc, qua hoạt động vui chơi mọi lúc mọi nơi, hoặc thông qua các thủ thuật lôicuốn, gây hứng thú với trẻ, để trẻ tham gia tích cực, thường xuyên, đảm bảo chotrẻ tự tin, mạnh dạn không lo lắng khi sử dụng ngôn ngữ Tiếng Việt.Để nâng caovốn từ và khả năng nghe, nói Tiếng Việt của trẻ vùng dân tộc thiểu số cần phảichuẩn bị tốt vốn Tiếng Việt cho trẻ ngay từ lứa tuổi mầm non
Nhận thức được tầm quan trọng của việc chuẩn bị ngôn ngữ Tiếng Việt chotrẻ vùng dân tộc thiểu số có vốn Tiếng Việt tốt để bước vào các lớp lớn hơn và các
lớp học sau này tôi đã lựa chon đề tài: “Một số giải pháp tăng cường Tiếng Việt cho trẻ mẫu giáo vùng dân tộc thiểu số tại lớp 3- 4 tuổi C2 khu trung tâm Trường mầm non Cổ Lũng Huyện Bá Thước Tỉnh Thanh Hóa.
1.2 Mục đích nghiên cứu.
Bản thân nghiên cứu đề tài này với mục đích để nâng cao chất lượng dạy trẻ3-4 tuổi phát triển kỹ năng nghe, nói rõ ràng, phát âm chuẩn Tiếng Việt và giaotiếp bằng Tiếng Việt một cách thành thạo và tự tin hơn cho trẻ 3-4 tuổi vùng dântộc thiểu số, phát huy tính chủ động, sáng tạo phù hợp với mục đích giáo dục vàtrình độ nhận thức của trẻ, muốn thực hiện được tốt đòi hỏi cả một quá trình lâu dàicần phải có sự kiên trì của cả giáo viên và trẻ
100% trẻ lớp tôi phụ trách đều là trẻ dân tộc Thái, điều kiện tiếp xúc với môitrường xung quanh cũng như môi trường xã hội rất hạn chế nên việc học cũng nhưgiao tiếp bằng Tiếng Việt của trẻ rất khó khăn vì vậy đòi hỏi người giáo viên phải
có kế hoạch và biện pháp tăng cường Tiếng Việt cho trẻ thường xuyên và lâu dài.Bởi việc dạy trẻ biết nói Tiếng Việt là nội dung hết sức quan trọng trong nội dunggiáo dục mầm non Phát triển ngôn ngữ là một trong 5 lĩnh vực của giáo dục: pháttriển thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, thẩm mỹ và phát triển quan hệ tình cảm – kỹnăng xã hội[2]
Nhận thức rõ sự khác nhau về khả năng sử dụng ngôn ngữ Tiếng Việt của trẻnày với trẻ khác nên khi tăng cường Tiếng Việt cho trẻ tôi sẽ lựa chọn những nộidung, phương pháp phù hợp với từng trẻ, từng độ tuổi, với điều kiện thực tế củađịa phương để truyền tải, trau dồi kiến thức về ngôn ngữ và khả năng giao tiếpbằng Tiếng Việt của trẻ
1.3 Đối tượng nghiên cứu.
Đối tượng mà tôi nghiên cứu là : Một số giải pháp tăng cường Tiếng Việtcho trẻ mẫu giáo vùng dân tộc thiểu số tại lớp 3- 4 tuổi C2 khu trung tâm Trườngmầm non Cổ Lũng Huyện Bá Thước Tỉnh Thanh Hóa
1.4.Phương pháp nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu tham khảo tài liệu: phương pháp này bản thân đãdựa và tài liệu tham khảo làm cơ sở lý thuyết để nghiên cứu, giúp cho sự địnhhướng của sáng kiến
Phương pháp kiểm tra, đánh giá: khi nghiên cứu đề tài này bản thân đã kiểmtra và khảo sát thực tế về đối tượng trẻ tại lớp tôi đang trực tiếp giảng dạy
Trang 5Phương pháp thực nghiệm: Đây là phương pháp chính để kiểm nghiệmnhững phương pháp và giải pháp đã nêu ra có liên quan đến sáng kiến kinhnghiệm sáng kiến này được thực hiện trên điều kiện thực tế của Trường Mầm non
Cổ Lũng
Phương pháp thống kê: từ những phương pháp trên tôi đã thống kê và mô tảlại thực trạng, đưa ra hướng giải quyết vấn đề trong quá trình nghiên cứu
2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM.
2.1 Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm.
Qua quá trình nghiên cứu về ngôn ngữ Tiếng Việt của trẻ vùng dân tộc thiểu
số ở Trường Mầm Non Cổ Lũng nơi tôi đang công tác cho thấy việc tăng cườngTiếng Việt và chuẩn bị Tiếng Việt cho trẻ mầm non vùng dân tộc thiểu số có tácđộng rất lớn đối với sự phát triển toàn diện về nhân cách sau này cho trẻ
Các nhà giáo dục coi thời kỳ phát triển của con người ở giai đoạn mầm non
là thời kỳ “Vàng”[3], đúng như vậy vì ta thấy trẻ 3 - 4 tuổi bắt đầu phát triển nhanh
về thể lực và ngôn ngữ ngày càng đóng vị trí quan trọng đối với trẻ Ở lứa tuổi nàytrẻ đã bắt đầu sử dụng lời nói để bày tỏ, trao đổi với mọi người xung quanh nên sựphát triển vốn từ Tiếng Việt của trẻ gắn liền với quá trình phát triển tư duy giúp trẻ
có khả năng nhận thức về thế giới bên ngoài
Thực hiện theo quyết định số 1008/QĐ – TTD của thủ tướng chính phủ vềviệc tăng cường Tiếng Việt cho trẻ em vùng dân tộc thiểu số Thực hiện theo sựchỉ đạo của Phòng GD và ĐT Huyện Bá Thước về việc tăng cường Tiếng Việt chotrẻ mầm non giai đoạn 2016- 2020 và định hướng đến năm 2025 [4], nhà trường đãchỉ đạo cụ thể hóa quyết định theo giai đoạn đến tất cả các đồng chí giáo viên trongtrường
Qua nghiên cứu thực tế về khả năng sử dụng ngôn ngữ Tiếng Việt của trẻ tạilớp tôi phụ trách cho thấy việc phát triển ngôn ngữ, tăng cường Tiếng Việt cho trẻdân tộc thiểu số có tác động rất lớn đối với độ tuổi khủng hoảng này
Việc tăng cường Tiếng Việt cho trẻ vùng dân tộc thiểu số giáo viên là ngườiđóng vai trò quan trọng nhất vì quyết định thành hay bại ở các cháu phụ thuộc rấtlớn vào giáo viên Trong mỗi chủ đề, trong mọi hoạt động học tập, vui chơi mọilúc mọi nơi giáo viên là người quyết định tăng cường Tiếng Việt cho trẻ cái gì chophù hợp với bối cảnh địa phương, cần dạy, cần tăng cường những từ gì, tăng cườngnhư thế nào để trẻ dễ hiểu, dễ tiếp thu, dễ nhớ và đặc biệt làm thế nào để gây hứngthú và thu hút trẻ tích cực tham gia vào các hoạt động cùng cô
Thực tế trẻ em ở lứa tuổi 3 - 4 tuổi bắt đầu học Tiếng Việt trên cơ sở kinhnghiệm tiếng mẹ đẻ và sự giao lưu, giao tiếp giữa cô và trẻ, giữa trẻ với trẻ, môitrường giao tiếp bằng Tiếng Việt của trẻ bị thu hẹp cả về không gian và thời gianchỉ trong phạm vi lớp học Sự khác biệt về văn hóa giữa các vùng miền cũng nhưđiều kiện sống của các vùng dân tộc thiểu số có ảnh hưởng rất lớn trong việc tăngcường Tiếng Việt cho trẻ
Một số thôn bản như Thôn Phìa sinh sống ở gần khu vực chợ Phố Đòan lànơi giao thoa hàng hóa giữa các dân tộc, đặc biệt là nơi có nhiều người kinh sinhsống thì Tiếng Việt trở thành ngôn ngữ giao tiếp phổ biến vì vậy việc tăng tường
Trang 6Tiếng Việt cho trẻ ở khu vực này có phần thuận lợi hơn Còn một số thôn bản sốngcách xa khu trung tâm của xã nơi xa người kinh sinh sống, điều kiện sống tách biệtchỉ giao tiếp với nhau bằng tiếng Thái như Thôn Ấm Hiêu, Thôn Khuyn, thôn EoĐiếu và một số trẻ thôn khác trên địa bàn xã việc tăng cường Tiếng Việt cho trẻkhó khăn hơn rất nhiều.
Ngoài ra do đời sống kinh tế còn khó khăn, trình độ văn hóa của các bậc cha
mẹ còn thấp,khả năng sử dụng ngôn ngữ Tiếng Việt của các bậc phụ huynh cònhạn chế nên khi ở nhà trẻ ít có cơ hội giao tiếp với những người thân trong gia đình
và mọi người xung quanh bằng Tiếng Việt, hoặc có giao tiếp cũng thường phát âmsai ( thường là dấu hỏi chuyển thành dấu nặng , ví dụ: từ "mẹ'' trẻ thường gọi là''mẻ''…) hoặc sử dụng một câu tiếng Thái và một câu Tiếng Việt xen kẽ nhau như:
“ Cái xẻng” trẻ hay nói “ Cái bên”…
Khi đến trường hầu hết trẻ thích trao đổi với nhau bằng tiếng Thái ( tiếng địaphương) và thường có thói quan giao tiếp bằng tiếng Thái trong các hoạt động vuichơi, trò chuyện hàng ngày và thậm chí ngay cả trong giờ học.Hơn thế nữa một sốtrẻ mới đầu đến lớp còn không hiểu, không nói được câu Tiếng Việt nào Do vốnTiếng Việt của trẻ em vùng dân tộc thiểu số không được người lớn cung cấpthường xuyên, vì vậy bản thân là một người giáo viên, tôi cần tìm tòi, sáng tạo,học hỏi những biện pháp tốt nhất phù hợp nhất để tăng cường Tiếng Việt cho trẻgiúp trẻ có vốn Tiếng Việt tốt hơn, tự tin hơn trong giao tiếp và cũng là hành trangchuẩn bị tốt nhất cho trẻ ở các lớp, các bậc học lớn hơn
2.2 Thực Trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
2.2.1 Thuận lợi.
Nhà trường luôn tạo điều kiện cho các đồng chí giáo viên trong trường thamgia các lớp chuyên đề do Phòng Giáo Dục triểng khai như: Chuyên đề “ Hướngdẫn tăng cường Tiếng Việt cho trẻ em người dân tộc thiểu số vùng sâu vùng xa
trong cơ sở giáo dục mầm non”, khuyến khích, tạo điều kiện cho các chị em đồng nghiệp học tập, học hỏi khinh nghiệm lẫn nhau qua các buổi sinh hoạt chuyên
môn, các tiết dạy mẫu, thăm lớp dự giờ, thao giảng trường để từ đó đóng góp ýkiến, đúc rút kinh nghiệm cho bản thân
Trường Mầm Non Cổ Lũng đã nhận được sự quan tâm, tạo điều kiện của cáccấp chính quyền, Phòng Giáo dục, cùng với đó là sự lãnh đạo, chỉ đạo sát sao củaBan giám hiệu, chuyên môn nhà trường trong công tác chăm sóc, nuôi dưỡng, giáodục trẻ
Đội ngũ cán bộ giáo viên, nhân viên đạt chuẩn và trên chuẩn, tập thể cán bộgiáo viên, nhân viên trong nhà trường luôn luôn đoàn kết, sáng tạo, có lòng nhiệthuyết, yêu nghề, mến trẻ, có tinh thần trách nhiệm cao trong công tác chăm sóc,nuôi dưỡng, giáo dục trẻ, luôn coi trẻ như con của mình Tích cực tham gia thựchiện tốt công tác xây dựng môi trường để tăng cường Tiếng Việt cho trẻ trongkhuôn viên nhà trường, vào mọi lúc, mọi nơi, luôn có tinh thần tự học, tự bồidưỡng thông qua đồng nghiệp và các phương tiện thông tin đại chúng
Trẻ được tiếp xúc với môi trường học tập,vui chơi, trải nghiệm an toàn, lànhmạnh và có thói quen giao tiếp bằng Tiếng Việt trong các hoạt động hàng ngày
Trang 7Một số trẻ đã đi học từ nhà trẻ thì cũng đã hiểu và sử dụng được ngôn ngữ bằngtiếng Việt.
Một số phụ huynh cũng đã quan tâm đến việc học tập và chăm sóc giáo dục,biết được tầm quan trọng của việc cần phải tăng cường tiếng việt cho trẻ trong độtuổi này
Trong năm học 2021-2022 bản thân tôi được phân công phụ trách lớp mẫugiáo 3 - 4 tuổi C2 khu trung tâm tổng số trẻ là 22 cháu, 100% trẻ trong lớp đều làcon em trong địa bàn xã Cổ Lũng, đa số các cháu đều khỏe mạnh, nhanh nhẹn,ngoan ngoãn và đi học chuyên cần, 100% trẻ ăn bán trú tại trường, lớp học đượcphân theo độ tuổi nên việc tăng cường Tiếng Việt cho trẻ cũng có phần thuận lợihơn
2.2.2 Khó khăn.
100% trẻ lớp tôi đều là người dân tộc Thái đa số trẻ giao tiếp với nhau bằngtiếng Thái, khả năng giao tiếp bằng Tiếng Việt của trẻ còn rất hạn chế nên gặpkhông ít khó khăn trong việc tăng cường Tiếng Việt cho trẻ
Trẻ trong lớp tuy có cùng một độ tuổi nhưng đa số trẻ chưa đi học qua nhàtrẻ, khả năng hòa nhập của trẻ không đồng đều, một số trẻ còn nhút nhát, nói chưa
rõ, phát âm chưa chuẩn và một số trẻ còn nói ngọng, nói lẫn lộn giữa hai thứ tiếng
Môi trường phát triển Tiếng Việt cho trẻ ở trong lớp cũng như ở ngoài lớpchưa đa dạng và phong phú ,đồ dùng, đồ chơi và các trang thiết bị dạy học tuy dồidào hơn trước nhưng so với yêu cầu ngày càng cao để đáp ứng theo nội dung củatừng chủ đề thì vẫn còn thiếu về số lượng, nghèo về chủng loại
Giáo viên cũng chưa tận dụng hết mọi cơ hội để phát triển ngôn ngữ TiếngViệt cho trẻ, chưa quan tâm đến việc tạo môi trường để trẻ được thực hành ngônngữ Tiếng Việt khi giữa giáo viên với giáo viên đang còn giao tiếp với nhau bằngtiếng Thái
Phụ huynh lớp tôi đa số là làm nghề nông nghiệp, hộ nghèo và cận nghèochiếm đa số nên nhiều phụ huynh chưa quan tâm đến việc học của con, hơn thếnữa việc phát âm của các bậc phụ huynh cũng chưa chuẩn thường bị lẫn lộn giữacác dấu, các thanh, thậm chí một số phụ huynh còn chưa nói thạo Tiếng Việt, điềunày có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình hình thành và phát triển ngôn ngữ TiếngViệt cho trẻ Chính vì thế chúng ta cần rèn luyện khả năng phát âm chuẩn nói đúngTiếng Việt( Tiếng phổ thông) cho trẻ từ độ tuổi mẫu giáo, đây là việc làm hết sứcquan trọng và cần thiết
2.2.3 Kết quả thực trạng như sau:
Qua khảo thực tế trẻ tại lớp tôi phụ trách cho thấy nguyên nhân hạn chế Tiếng Việtcủa trẻ vùng dân tộc thiểu số, trẻ rất ít tham gia vào các hoạt động, nếu có tham giacũng chưa thực sự hứng thú vì vốn từ của trẻ ít nên trẻ ngại giao tiếp
Đa số trẻ lớp tôi có khả năng nói Tiếng Việt chưa rõ, khi đến lớp giao tiếpvới cô giáo, với bạn bè còn lẫn lộn hai thứ tiếng đó là Tiếng Việt và tiếng Thái, khidiễn đạt trẻ nói chưa lưu loát hoặc có từ biết có từ không biết nên trẻ sử dụng bằngtiếng địa phương của mình, có lúc cô hỏi bằng Tiếng Việt trẻ lại Trả lời cô bằngtiếng Thái hoặc một từ Tiếng Việt kết hợp một từ Tiếng Thái, trẻ giao tiếp bằng
Trang 8Tiếng Việt chủ yếu bằng mấy câu xã giao quen thuộc còn những câu cần diễn đạthơi khó một chút trẻ lại sử dụng bằng tiếng mẹ đẻ (Tiếng Thái).
Ví dụ: Khi trẻ kể về người thân trong gia đình của trẻ từ “mẹ” trẻ gọi là “ ể”,
“ Bà” trẻ gọi là “ áu” một số trẻ thường gọi bà là “ ể bà”, “ Ông” trẻ gọi là “ u”…hoặc khi nói về các con vật “còn gà” trẻ toàn gọi là “Tồ cáy”, “ con Vịt” trẻ haygọi bằng “ Tồ Pệt” hoặc một số trẻ nói “ Con pệt”… khi nói không những trẻ sửdụng tiếng địa phương, nói lẫn lộn một từ Tiếng Việt, một từ Tiếng Thái mà khiphát âm trẻ còn phát âm sai, phát âm ngọng Ví dụ: Cô giáo – trẻ toàn gọi – Côđáo, Cô Nga – trẻ gọi – Cô Na, Có – trẻ gọi – Tó Bên cạnh đó trong quá trình họctập, vui chơi và giao tiếp với mọi người trẻ thường chưa phát âm chuẩn, thường làchữ V thành chữ B, ví dụ: đi về - trẻ nói – đi bề, “ bố” – trẻ nói – “ vố”…Trongkhi hoạt động học tập nhiều trẻ muốn diễn đạt theo ý của mình nhưng vốn từ ít nêntrẻ diễn đạt còn lung túng và lẫn lộng giữa hai thứ tiếng
Trên đây là một trong số rất nhiều ví dụ mà trẻ còn hay vướng phải, ngoài racòn rất nhiều từ tôi chưa kể hết trong ví dụ mà tôi muốn đưa ra bảng khảo sát thựctrạng sử dụng Tiếng Việt và hiểu Tiếng Việt của trẻ lớp tôi phụ trách như sau:
Kết quả khảo sát trước khi áp dụng
Kết quả khảo sát Số
người khảo sát
Đạt Chưa đạt
Số người
Tỷ lệ
%
Số người
Tỷ lệ
%
1 Trẻ thường xuyên giao tiếp bằng Tiếng Việt 22 9 41% 13 59%
2 Trẻ có thể nói và nghe được các câu bằng Tiếng Việt 22 8 36% 14 64%
3 Môi trường tiếng Việt của trẻ ở gia đình và ở cộng đồng 22 5 23% 17 77%
4 Trẻ biết nói chuẩn Tiếng Việt 22 10 45% 12 55%
5 Giáo viên tận dụng mọi cơ hội để tuyên truyền với phụ huynh và cộng đồng 22 6 27% 16 73%Qua thực trạng khảo sát trên tôi thấy số trẻ đạt chiếm tỉ lệ thấp, số trẻ chưađạt chiếm tỉ lệ cao, đa phần trẻ có khả năng nghe, nói và giao tiếp bằng Tiếng Việtcòn rất hạn chế Để nâng cao khả năng sử dụng và giao tiếp bằng ngôn ngữ TiếngViệt của trẻ bản thân đã luôn tìm tòi, nghiêm cứu và tìm ra những giải pháp tốtnhất để tăng cường, rèn luyện cho trẻ
Ngôn ngữ Tiếng Việt là phương tiện thể hiện tình cảm,thái độ, ước mơ, vànhu cầu giao tiếp của trẻ, trẻ mong muốn nói chuyện với cô giáo, bạn bè, với mọingười xung quanh từ những ngôn từ đầu tiên mà trẻ nói được Vì vậy giáo viênphải thường xuyên khuyến khích trẻ thực hiện những mong muốn đó, tạo cơ hội đểtrẻ giao tiếp bằng Tiếng Việt, tăng cường Tiếng Việt cho trẻ vùng dân tộc thiểu số
là việc làm rất cần thiết, cần phải có kế hoạch thực hiện thường xuyên và lâu dài
Trang 9mà giáo viên chính là người cung cấp vốn từ cho trẻ, uốn nắn trẻ nói đúng, nóichuẩn, nói mạch lạc, phát âm chuẩn Tiếng Việt.
Để khắc phục được những thực trạng trên đạt hiệu quả tôi đã mạnh dạn lựachọn đề tài “ Một số giải pháp tăng cường Tiếng Việt cho mẫu giáo vùng dân tộcthiểu số tại lớp 3-4 tuổi C2 khu trung tâm Trường Mầm non Cổ Lũng Huyện BáThước Tỉnh Thanh Hóa” để chọn ra một số nội dung, giải pháp tăng cường TiếngViệt cho trẻ tôi đã lựa chọn như sau
2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.
2.3.1 Giải pháp 1: Tăng cường Tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số bằng cách trò chuyện với trẻ.
Việc rèn luyện kỹ năng nghe, nói Tiếng Việt cho trẻ vùng dân tộc thiểu số lànhiệm vụ hết sức quan trọng bởi vì ở lứa tuổi 3 - 4 tuổi đa số trẻ nói, phát âm chưachuẩn Tiếng Việt, đặc biệt trẻ lớp tôi phụ trách 100% là trẻ dân tộc Thái nên việcnói Tiếng Việt càng khó khăn hơn, trẻ diễn đạt câu còn vụng về, thiếu ý, thiếu dấu,nói lẫn lộn hai thứ tiếng, thậm chí một số ít trẻ còn chưa nói được Tiếng Việt, đểchuẩn bị cho trẻ một hành trang tốt bước vào mẫu giáo nhỡ ngay từ buổi học đầutiên tôi luôn ân cần, gần gũi, trò chuyện, giao tiếp với trẻ, hỏi trẻ các câu hỏi hàngngày trẻ thường va chạm hoặc cho trẻ quan sát các hình ảnh, đồ dùng, đồ chơitrong lớp được các cô trang trí sẵn và dán các ký hiệu bằng chữ viết Tiếng Việt đểtrẻ làm quen và rèn luyện ngôn ngữ Tiếng Việt cho trẻ Như chúng ta đã biết khảnăng tiếp thu của trẻ 3 - 4 tuổi vùng dân tộc thiểu số rất chậm, mau quên nhưng khi
đã nhớ được thì nhớ rất lâu nên tôi tiến hành cho trẻ tiếp xúc với vốn Tiếng Việtbằng phương châm “ Mưa dầm thấm lâu” cho nên việc cung cấp ngôn ngữ để tăngcường Tiếng Việt cho trẻ thông qua trò chuyện ở mọi lúc, mọi nơi vô cùng hiệuquả
Khi trẻ đến lớp tôi luôn vui vẻ, niềm nở, yêu thương, chia sẻ, và không quênkèm theo một số câu hỏi giao lưu bằng Tiếng Việt như: Con ăn sáng chưa? Hômnay ai đưa con đi học? Ai mua quần áo cho con mà đẹp thế? nhà con có bao nhiêungười? Con ở làng nào? Qua trò chuyện với trẻ hàng ngày như vậy tôi sẽ nắmđược khả năng nghe, nói và phát âm bằng Tiếng Việt của từng cá nhân trẻ để cóbiện pháp và giành nhiều thời gian hơn giúp trẻ nghe,nói, phát âm đúng, phát âmchuẩn Tiếng Việt
Tận dụng những khoảng trống từ hành lang nhà trường đã xây dựng khuvực thư viện của bé để trẻ được giao lưu trò chuyện, trao đổi với nhau bằng TiếngViệt theo các nhóm, nơi đây được trang trí những hình ảnh ngộ nghĩnh theo hướng
mở và bố trí hợp lý,đẹp mắt, gần gũi nhằm khuyến khích trẻ đến với thư viện,tạođiểu kiện cho trẻ tiếp cận với những quyển sách , những câu chuyện trẻ thích, hoặctrẻ có thể giao tiếp trò chuyện với nhau giúp vốn từ của trẻ tăng lên, hệ thống bànhọc, đệm ngồi cũng được trang bị và sắp xếp một cách khoa học nhằm tạo môitrường đọc sách, xem tranh thân thiện, lôi cuốn trẻ tham gia, các loại giá kệ trắctrắn, an toàn đảm bảo theo quy định, nơi đây sách và các loại truyện, tranh đượcphân loại, sắp xếp thay đổi linh hoạt tạo hứng thú cho trẻ,ngoài ra các cô còn
Trang 10chuẩn bị các chữ cái, chữ số để trẻ tiếp cận, trải nghiệm, làm quen ở mọi lúc, mọinơi để tăng cường Tiếng Việt cho trẻ
Từ những hoạt động trò chuyện thường xuyên như vậy tôi thấy trẻ lớp tôiphụ trách nghe, hiểu và phát âm bằng Tiếng Việt chuẩn hơn, mạnh dạn hơn và tựtin trong giao tiếp với mọi người xung quanh, tạo nên cảm giác thân thiện, gần gũi,xóa bỏ khoảng cách giữa cô và trẻ Vấn đề này đặc biệt cần thiết và không thểthiếu được đối với trẻ vùng dân tộc thiểu số
Đối với trẻ người dân tộc Thái chưa nói thành thạo tiếng phổ như lớp tôi khigiao tiếp với trẻ đôi lúc tôi cũng dùng tiếng địa phương để trao đổi với trẻ những từkhó mà trẻ chưa phát âm được sau đó tôi nhẹ nhàng giải thích, dịch ra tiếng Việtcho trẻ hiểu và cho trẻ phát âm
Ví dụ: “ Tồ pà” Tiếng Việt là “ con cá”, “ Tồ ngua” Tiếng Việt là “ ConBò”, “ phặc cát cố” Tiếng Việt là “ Rau bắp cải”, “Lau kháu” Tiếng Việt là “ Ăncơm”, “ Bóoc Hòa” là “Bông hoa”, hoặc một số trang phục, dụng cụ truyền thống
ở địa phương: “sứa coong” Tiếng Việt là “ Áo khóm”, “ sến tay” là “ Váy thái”,
“mé khằn” là “khăn thổ cẩm” “mé dằng” là “ cái dón”, “ mé phừa” là “ cáibừa”… Cứ dần dần như vậy trẻ sẽ biết nói Tiếng Việt thành thạo
Hình ảnh: Cô và trẻ trò chuyện về trang phục dân tộc thái
Từ hoạt động cho trẻ làm quen với một số đồ dùng, sản phẩm quen thuộc ởđịa phương mục đích cho trẻ biết giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc nơi mình sinh ra
và lớn lên, trẻ biết gọi tên bằng Tiếng Việt các đồ dùng,sản phẩm truyền thốngquen thuộc do chính các bà, các mẹ trẻ đã tự tay tạo ra nó, từ những hoạt độnghàng ngày như vậy tôi thấy các cháu có sự tiến bộ rất nhanh và hiệu quả, khi đếnlớp các cháu ít sử dụng tiếng địa phương để giao tiếp hơn, nói Tiếng Việt lưu loát
và tự tin hơn, đặc biệt các cháu hòa đồng với bạn bè nhiều hơn không còn nhútnhát, rụt rè như trước, mạnh dạn giao tiếp với nhau bằng Tiếng Việt
2.3.2 Giải pháp 2: Tăng cường Tiếng Việt cho trẻ thông qua hoạt động làm quen tác phẩm văn học
Trang 11Đối với trẻ 3 - 4 tuổi văn học là môi trường, là cơ hội cho trẻ tiếp xúc vớinhiều nhân vật trong thơ, chuyện, qua tên các nhân vật trẻ được gọi tên, được đọc,được để hiện lời thoại và được phát triển ngôn ngữ, trên cơ sở đó trẻ sẽ dần dầntăng thêm vốn từ Tiếng Việt, ngoài ra còn tích cực hóa vốn từ cho trẻ, đây là vấn
đề quan trọng để giúp trẻ tích cực trong giao tiếp nhằm phát huy được khả năngnói Tiếng Việt của trẻ
Khi cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học tôi đã giúp trẻ nâng cao nhậnthức và phát triển vốn từ cho trẻ bằng cách đặt câu hỏi đàm thoại để trẻ trả lời hoặccho trẻ kể tóm tắt lại nội dung câu chuyện, gây hứng thú để thu hút trẻ vào tiết họcthì trẻ mới nhớ được nội dung câu chuyện, bài thơ… Văn học giúp trẻ vốn kinhnghiệm sống,vốn sống của trẻ càng phong phú thì vốn từ của trẻ càng phát triểntốt
Với đặc điểm tình hình trẻ lớp tôi tất cả các trẻ trong lớp đều là trẻ dân tộcThái nên lúc xây dựng kế hoạch tôi đã chọn những câu chuyện, bài thơ ngắn gọn,nội dung dễ hiểu, hấp dẫn, nhân vật gần gũi với trẻ để cung cấp,vì trẻ dân tộc thiểu
số rất hiếu động, thời gian chú ý nghe cô giảng rất ngắn, nắm được điểm yếu nàycủa lớp tôi luôn tạo ra tình huống vui nhộn để lôi cuốn trẻ vào giờ học
Trước khi vào hoạt động tôi thường gây hứng thú bằng những tình huống bấtngờ để thu hút trẻ, gây sự chú ý, tò mò, thích khám phá của trẻ, sau đó tôi tiến hànhvào tiết học chính bằng nhiều hình thức có thể giới thiệu hấp dẫn bằng lời nói ngắngọn, dễ hiểu, rõ ràng, cũng có thể cho trẻ đi tham quan mô hình hoặc quan sáttranh ảnh, đọc bài đồng dao hoặc câu đố phù hợp với nội dung hoạt động
Tôi luôn tạo tình huống vui nhộn để lôi cuốn trẻ vào giờ học bằng một giọngnói lúc trầm, lúc bổng, đọc thơ hay kể chuyện với giọng thật truyền cảm,phối hợpcác động tác minh họa phù hợp, thể hiện giọng từng nhân vật thật rõ ràng, phốihợp với cử chỉ điệu bộ để lôi cuốn trẻ chú ý lắng nghe, có như vậy trẻ mới lĩnh hộiđược từng câu, từng lời nói của cô, ở bước này tôi kết hợp tăng cường Tiếng Vệtcho trẻ bằng cách cho trẻ đọc tên bài thơ, câu chuyện, tên tác giả theo hình thức cảlớp, tổ, nhóm, cá nhân trẻ đọc để trẻ khắc sâu và tăng vốn từ
Tôi kể chuyện, đọc thơ theo tranh minh họa hoặc sa bàn, ở bước này tôigiảng nội dung câu chuyện hoặc bài thơ, tôi chắt lọc những nội dung thật ngắn gọn
và dễ nhớ, dễ hiểu đối với trẻ, tôi tăng cường Tiếng Việt cho trẻ bằng cách giảithích từ khó cho trẻ hiểu và cho trẻ đọc từ khó nhiều lần tôi chắt lọc những ý chínhtrong câu chuyện, bài thơ để đưa ra các câu hỏi mở và khuyến khích trẻ trả lời
Đối với tiết thơ tôi tiến hành cho trẻ đọc thơ cùng cô từng câu đến cả bài vớihình thức cả lớp, tổ, nhóm, cá nhân,hay bạn nam, bạn nữ thi đua nhau nhằm tạo khíthế cho trẻ trong khi trẻ đọc tôi tiến hành tăng cường Tiếng Việt cho trẻ bằng cáchsửa sai những câu, từ trẻ phát âm chưa chuẩn Sau đấy tôi cho cả lớp đọc lại bàithơ một lần nhằm củng cố lại kiến thức để khắc sâu vào tâm trí trẻ
Đối với hoạt động kể chuyện thì tôi cần kể 2 - 3 lần và trò chuyện, đàm thoạivới trẻ theo trình tự nội dung câu chuyện, thể hiện tính cách của từng nhân vậttrong chuyện một cách phù hợp nhằm giúp trẻ khắc sâu hơn nội dung cũng nhưtính cách của các nhân vật trọng chuyện Khi thấy khả năng hiểu chuyện và khả
Trang 12năng ngôn ngữ của trẻ đã phát triển tốt thì tôi khuyến khích trẻ kể lại chuyện cùng
cô Như vậy việc cung cấp vốn Tiếng Việt cho trẻ vùng dân tộc thiểu số của tôi gặthái được nhiều thành công hơn so với trước đây, tôi vô cùng phấn khởi và sẽ tiếptục áp dụng một số giải pháp khác nữa để ngày càng nâng cao hiệu quả hơn
Ví dụ: Trong chủ đề thực vật: Khi cho trẻ làm quen câu chuyện “ Nhổ củcải” tôi có thể gây hứng thú cho trẻ bằng cách Phần giới thiệu bài tôi sử dụng hìnhthức bằng câu đố, cho trẻ xem một đoạn video có nhạc bài hát liên quan đến cácloại rau, củ, quả để trẻ đoán tên bài hát nhằm củng cố lại kiến thức về chủ đề “Thực Vật”
Tiếp theo để trẻ cảm nhận và nắm được nội dung câu chuyện thông qua câu
đố và hình ảnh trên màn hình Với củ cải tôi ra câu đố và cho trẻ đoán xem đó làgì?
Nửa trên xanh như ngọcNửa dưới trắng như ngàNửa đêm dáng lòa xòaNửa dưới to trùng trục
Đó là củ gì?
Trẻ trả lời xong tôi cho trẻ xem hình ảnh và cho trẻ phát âm lại từ “ Củ cảitrắng” nhiều lần với hình thức cả lớp, tổ, cá nhân nhằm tăng cường Tiếng Việt chotrẻ Với hình ảnh củ cải trắng cô dẫn dắt trẻ vào nội dung câu chuyện giới thiệutên chuyện và kể chuyện cho trẻ nghe
Lần 1: Cô kể chuyện bằng cử chỉ, điệu bộ Giới thiệu tên chuyện và tiếnhành tăng cường Tiếng Việt cho trẻ bằng cách cho trẻ nhắc lại tên chuyện nhiềulần dưới hình thức cả lớp, tổ, nhóm, cá nhân
Lần 2: Cô kể chuyện kết hợp hình ảnh trên màn hình Giảng nội dungchuyện cho trẻ hiểu một cách ngắn gọn, dễ hiểu, ở hoạt động này tôi tiến hành lồngghép tăng cường Tiếng Việt cho trẻ bằng cách giảng từ khó cho trẻ hiểu và cho trẻđọc từ khó nhiều lần
Lần 3: Cô kể chuyện kết hợp sa bàn Chắt lọc những ý chính để trò chuyện,đàm thoại cùng trẻ để tăng thêm vốn Tiếng Việt cho trẻ từ đó trẻ sẽ tự tin hơntrong quá trình sử dụng ngôn ngữ Tiếng Việt để giao tiếp
Qua các lần kể đến câu đồng thoại tôi cho trẻ nói cùng cô như “ nhổ cải lên,nhổ cải lên, ái chà chà”… Tôi cho trẻ đồng thanh nói và thực hiện động tác môphỏng điều đó làm trẻ rất thích thú đồng thời phát triển được khả năng nói TiếngViệt cho trẻ Khi trẻ đã hiểu nội dung và nhớ được tên các nhân vật trong chuyệnthì tôi tiến hành cho trẻ đóng vai các nhân vật trong truyện kể chuyện nối tiếp, khitrẻ kể tôi chú ý sửa sai kịp thời cho trẻ đặc biệt đối với trẻ lớp tôi tất cả các trẻ đều
là dân tộc thiểu số nên cần chú ý trong quá trình tăng cường Tiếng Việt
Trang 13Hình ảnh: Trong giờ kể Truyện “ nhổ củ cải”
Đối với trẻ vùng dân tộc thiểu số thì đây là biện pháp rất bổ ích vì trẻ đượcnhập vai vào các nhân vật trong chuyện như vậy trẻ sẽ rất nhớ và khắc sâu vào tâmtrí trí trẻ về khả năng sử dụng Tiếng Việt ở trẻ
Bản thân tôi thấy đây là biện pháp rất hữu hiệu, trẻ hứng thú tham gia vàocác hoạt động, hơn thế nữa trẻ được hòa mình vào tính cách nhân vật để diễn đạt từ
nó khả năng phát âm bằng Tiếng Việt của trẻ sẽ có hiệu quả
Qua hoạt động này tôi thấy trẻ lớp tôi tự tin hơn về mọi mặt khi sử dụngngôn ngữ Tiếng Việt, không còn cảm giác rụt rè, sợ sệt như trước nữa
2.3.3 Giải pháp 3: Tăng cường Tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số thông qua hoạt động góc.
Tăng cường Tiếng Việt cho trẻ thông qua hoạt động góc giúp cho trẻ tái hiệnlại những công việc, những hoạt động diễn ra trong cuộc sống hiện tại hàng ngày
mà trẻ quan sát được ở thế giới xung quanh, từ đó trẻ sẽ đắm mình vào các vai chơi
để tái hiện lại những gì trẻ được chứng kiến, từ đó khả năng diễn đạt bằng ngônngữ Tiếng Việt của trẻ sẽ có tác dụng tích cực hơn
Ngay từ đầu năm tôi đã tiến hành trang trí các góc chơi theo hướng mở, phùhợp, đảm bảo ánh sáng, an toàn, thuận tiện đối với trẻ, đồ dùng, đồ chơi được bố tríhợp lý, an toàn,dễ thay đổi, các góc, trang thiết bị, đồ dùng, đồ chơi đa dạng,phong phú, được dán ký hiệu bằng chữ viết Tiếng Việt để trẻ làm quen …Trongkhi chơi, trẻ được trải nghiệm tái tạo lại công việc hàng ngày của người lớn, trẻđược đóng các vai khác nhau và được trò chuyện giao lưu, trao đổi với nhau bằngngôn ngữ Tiếng Việt nhiều hơn, trẻ được chủ động thực hiện vai diễn của mình,tạo cơ hội cho trẻ được rèn luyện kỹ năng nghe, nói, giao tiếp bằng Tiếng Việt, cô
tổ chức hướng dẫn, hỗ trợ trẻ đúng lúc, không làm thay trẻ để trẻ được tiếp cận, trảinghiệm, khích lệ tính tự lập, khả năng sáng tạo của trẻ Khi trẻ vui chơi, giao tiếp,trao đổi với nhau trẻ thường hay nói bằng tiếng thái Những lúc như vậy tôi đã nhẹnhàng hướng dẫn, tập cho trẻ nói lại bằng Tiếng việt Cứ nhiều lần như vậy lần sauchơi trẻ không nói bằng tiếng Thái nữa mà trẻ dùng ngôn ngữ tiếng việt chuẩn và
tự tin hơn
Trang 14Với hoạt động góc tôi cho trẻ đóng các vai khác nhau, tự nhiên giao lưu vớinhau bằng Tiếng Việt, thông qua các vai chơi trẻ lĩnh hội và phát triển được vốn từcho bản thân Trong khi trẻ chơi ở góc phân vai tôi hướng dẫn trẻ bày các gianhàng có các sản phẩm, dụng cụ nghề nông cho trẻ đóng vai người bán hàng, muahàng, trẻ được giao lưu trao đổi mua bán, và thể hiện hết vai chơi của mình,bêncạnh đó tôi luôn theo sát trẻ để kịp thời sửa sai, uốn nắn mỗi khi trẻ hỏi hoặc trảlời không có trọng tâm hay trẻ dùng tiếng Thái Ngoài ra tôi tập cho trẻ phân loạicác mặt hàng như các loại rau, củ, quả, cây….các loại mặt hàng này trẻ chủ yếu sửdụng tiếng Thái để phát âm nên khi trẻ chơi tôi sẽ tập cho trẻ nói đúng Tiếng Việt.
Ví dụ khi trẻ muốn mua “rau bắp cải” trẻ sẽ nói bạn ơi bán cho tôi “ phặc cátcố” khi trẻ sử dụng tiếng địa phương để nói tôi sẽ trực tiếp dịch sang Tiếng Việtcho trẻ hiểu và cho trẻ phát âm lại “ Rau bắp cải” Qua nhiều lần sửa sai như vậytôi cảm thấy những lần chơi sau trẻ có sự tiến bộ hẳn không còn sử dụng tiếng địaphương nghiều như trước nữa, thông qua việc đóng vai chơi bán những mặt hàngđấy trẻ sẽ biết giữ gìn, bảo vệ sản phẩm của người lao động đã làm ra
Hình ảnh: Trẻ chơi bán hàng ở góc phân vai
2.3.4 Giải pháp 4: Tăng cường Tiếng Việt cho trẻ 3-4 tuổi vùng dân tộc thiểu số thông qua hoạt động ngoài trời.
Hoạt động ngoài trời là một trong những hoạt động quan trọng để giúp trẻkhám phá thế giới xung quanh và mang lại hiệu quả cao trong việc xây dựng môitrường gáo dục lấy trẻ làm trung tâm, đồng thời cũng là một hoạt động rất quantrọng trong chuyên đề tăng cường Tiếng Việt cho trẻ Trong khuôn viên nhà trường
đã quy hoạch và bố trí các khu vực hợp lý, thân thiện để trẻ được hoạt động, có hệthống chữ viết bằng Tiếng Việt ở mọi lúc mọi nơi
Thực hiện công tác xã hội hóa giáo dục nhà trường đã phối hợp với phụhuynh để xây dựng vườn cổ tích, khu vận động để trẻ được hòa mình vào vai cácnhân vật trong truyện, chơi các trò chơi cực kỳ hấp dẫn Để phục vụ cho hoạt độngvui chơi và công tác chăm sóc giáo dục trẻ tập thể giáo viên trong trường đã tận