1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(SKKN 2022) MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 4 VIẾT ĐÚNG CHÍNH TẢ

17 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một Số Biện Pháp Giúp Học Sinh Lớp 4 Viết Đúng Chính Tả
Trường học Trường Tiểu Học Hồ Phước Hậu
Chuyên ngành Giáo dục tiểu học
Thể loại Nghiên cứu sư phạm
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 164,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

những biện pháp giúp học sinh sửa lỗi là điều cần thiết, do đó tôi đưa ra một số biện pháp như sau: 5.3 Một số biện pháp giúp học sinh viết đúng chính tả Hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài

Trang 1

1 Tên đề tài: MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 4 VIẾT ĐÚNG CHÍNH TẢ

2 Đặt vấn đề

2.1 Tầm quan trọng của môn chính tả:

Trong cuộc sống cũng như trong học tập, giao tiếp là một yêu cầu rất quan trọng, nó hình thành nhân cách của con người Con người giao tiếp thông qua ngôn ngữ Tiếng Việt Chúng ta không chỉ giao tiếp bằng ngôn ngữ nói mà còn giao tiếp bằng ngôn ngữ viết Ngôn ngữ viết đóng vai trò quan trọng của Tiếng Việt văn hóa Trong trường Tiểu học, học sinh được học tiếng mẹ đẻ một cách trực tiếp và khoa học qua môn Tiếng Việt Tiếng Việt là một trong những bộ môn quan trọng trong nhà trường nhằm thực hiện mục đích giáo dục phát triển toàn diện nhân cách học sinh Mục đích của việc dạy và học môn Tiếng Việt là dạy cho trẻ biết sử dụng Tiếng Việt văn hóa để giao tiếp và mở rộng hiểu biết

thông qua việc dạy các kĩ năng “nghe-nói, đọc-viết” Thông qua các giờ dạy

môn học này có nghiệm vụ phát triển năng lực trí tuệ của trẻ, rèn luyện cho các

em phương pháp suy nghĩ, giáo dục cho các em những tình cảm mới Cuối bậc tiểu học, yêu cầu tối thiểu học sinh phải đạt được là đọc thông viết thạo mặt chữ,

sử dụng được ngôn ngữ nói và viết trong học tập và trong giao tiếp

một số phân môn: Học vần, tập viết (lớp 1), tập đọc, chính tả, luyện từ và câu,

kể chuyện và tập làm văn Trong số đó, môn chính tả và các phân môn khác như tập viết, tập đọc … giúp cho học sinh chiếm lĩnh được Tiếng Việt, văn hóa công

cụ để giao tiếp tư duy và học tập Bởi chính là phân môn có tính chất công cụ

Mục đích cuả chính tả là rèn luyện kỹ năng “Đọc thông viết thạo” chủ yếu là

viết đúng chuẩn mực chữ viết và dạng thức viết của ngôn ngữ Viết đúng chính

tả là giúp cho học sinh có điều kiện sử dụng Tiếng Việt đạt hiệu quả cao trong học tập các bộ phận văn hóa Vì vậy việc dạy chính tả đáng được coi trọng ngay

từ bậc Tiểu học Việc dạy chính tả được hiểu như rèn luyện việc thực hiện những chuẩn mực của ngôn ngữ viết Ở các lớp Tiểu học, chính tả sẽ tạo điều kiện ban đầu trong hành trang ngôn ngữ cả một đời người cho các em

2.2 Thực trạng của học sinh

hiện nay, tôi nhận thấy trong quá trình sử dụng Tiếng Việt học sinh thường mắc một số lỗi phổ biến như sau:

- Lỗi phụ âm đầu: x/s, gi/d, ng /ngh

- Lỗi âm cuối: n / ng, c / t, n / nh

- Lỗi vần: ăng / eng / en

- Lỗi viết hoa: Danh từ riêng

- Lỗi biến âm do phát âm: a >ô, ô ->ơ

Trang 2

- Lỗi nguyên âm đơn, đôi: i / iê, u / uô, ư / ươ.

2.3 Lí do chọn đề tài:

viết sai lỗi chính tả nhiều là nỗi băn khoăn lo lắng trong tôi Vì thế việc sữa lỗi chính tả là rất cần thiết Tôi thiết nghĩ việc sữa lỗi chính tả không phải là ngày một, ngày hai mà phải cả một quá trình đòi hỏi giáo viên phải có một sự kiên trì chịu khó để khắc phục dần dần giúp các em hạn chế về lỗi Làm thế nào để giúp học sinh khắc phục những lỗi chính tả thường gặp là vấn đề tôi luôn quan tâm

Chính vì lẽ đó mà tôi chọn đề tài “Một số biện pháp giúp học sinh lớp 4 viết đúng chính tả”.

2.4 Phạm vi nguyên cứu đề tài:

Đề tài được áp dụng với đối tượng là học sinh lớp 4B Trường tiểu học Hồ Phước Hậu

3 Cơ sở lí luận:

môn của Tiếng Việt Việc hình thành năng lực thói quen viết đúng chính tả, tức

là hình thành một trong những năng lực giao tiếp bằng ngôn ngữ cho học sinh Cung cấp cho học sinh các quy tắc chính tả và hình thành kỹ năng viết chính tả

Vì vậy khi dạy môn chính tả giáo viên cần rèn luyện cho học sinh các phẩm chất sau: cẩn thận, tính thẩm mỹ, tình yêu đối với Tiếng Việt

4 Cơ sở thực tiễn:

Vào đầu năm học sau khi được Ban giám hiệu phân công chủ nhiệm lớp 5C, tôi đã khảo sát chất lượng môn chính tả để nắm tình hình viết chính tả của từng em, để có biện pháp dạy phù hợp với từng đối tượng học sinh

Qua khảo sát chất lượng môn chính tả đầu năm của lớp 4B năm học

2017-2018 như sau:

L

Từ thực tế viết chính tả của lớp, vậy làm thế nào để nâng cao chất lượng học tập cho học sinh

5 Nội dung nghiên cứu:

5.1 Thực trạng học sinh mắc lỗi chính tả

Trong quá trình lên lớp, tiếp cận với học sinh lớp tôi, tôi thường bắt gặp những lỗi chính tả mà các em mắc phải:

a Lỗi phụ âm đầu:

Trang 3

* Học sinh thường lẫn lộn s hay x.

+ Là s nhưng lại viết x:

Ví dụ: sáng đầu thu trong xanh -> xáng đầu thu trong xanh

giọt sương -> giọt xương

* Học sinh thường lẫn lộn x thành s

+ Là x nhưng lại viết s:

Ví dụ: Hợp tác xã -> hợp tác sã

Mây trắng nhỏ sà xuống -> mây trắng nhỏ sà suống

* Học sinh lẫn lộn âm gi / d

Ví dụ: gióng giã -> dóng dã

Giật mình -> dật mình

b Lỗi âm chính:

Lỗi này trong bài viết các em rất đa dạng nhưng chủ yếu là các lỗi về âm đôi viết thành nguyên âm đơn và ngược lại ( uô ->ô, uôi ->ui)

Ví dụ: là uô học sinh viết thành u

luống rau -> lún rau

Do khi phát âm học sinh không phân biệt hai cặp phụ âm cuối: t / c, n /

ng, n / nh, nên khi viết thường lẫn lộn các âm cuối này

Ví dụ: c viết thành t

đặc biệt -> đặt biệt

lan rộng -> lang rộng

lênh khênh -> lên khênh

c Lỗi âm đệm:

Ví dụ: từng đàn > từng đoàn

ngoằn ngoèo -> ngằn ngèo

đuôi cá lượn -> đui cá lượn

sửa soạn gặt -> sửa sạn gặt

d Lỗi vần:

Ví dụ: mặc áo quần -> mẹt áo quần

chắc chắn -> chéc chén

chuẩn bị -> chủng bị

e Lỗi dấu thanh:

+ Thanh hỏi viết thành ngã:

Trang 4

Ví dụ: vui vẻ -> vui vẽ.

+ Thanh ngã viết thành hỏi:

Ví dụ: hấp dẫn -> hấp dẩn

dầu mỡ -> dầu mở.

g Lỗi viết hoa:

Ví dụ: Miền Trung -> miền trung

Trường Sơn -> trường sơn

Ngoài ra các bài viết của học sinh còn viết thiếu nét như u thành n; a thành d

Ví dụ: kéo nhau -> kéo nhan.

Qua phân tích viết về các lỗi chính tả của học sinh, tôi thấy so với yêu cầu

về kỹ năng viết chính tả không quá 5 lỗi trở lên còn quá nhiều Thực trạng trên

là đáng lo ngại, đòi hỏi chúng ta cần phải tìm ra nguyên nhân và biện pháp giúp

đỡ các em khắc phục

5.2 Những nguyên nhân dẫn đến việc viết sai chính tả

Qua tiếp xúc thực tế với học sinh, phụ huynh học sinh, tình trạng viết sai chính tả của học sinh lớp 4B là một số nguyên nhân chủ yếu sau:

luyện viết chính tả nên hiện tượng viết thiếu nét, hở nét, thưa nét

nào viết gi, khi nào viết c, khi nào viết k

- Do chưa hiểu nghĩa của từ, chưa nhớ đầy đủ các quy tắc chỉnh tả

- Do quên mặt chữ ghi âm, ghi tiếng; nghe hiểu còn hạn chế

tâm đầu tư dành thời gian cho việc học của các em ở nhà

những biện pháp giúp học sinh sửa lỗi là điều cần thiết, do đó tôi đưa ra một số biện pháp như sau:

5.3 Một số biện pháp giúp học sinh viết đúng chính tả

Hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài trước ở nhà

Tôi yêu cầu một số học sinh thường mắc lỗi trong các bài chính tả về nhà tập đọc và chép đoạn văn cần thiết nhiều lần và chép đúng, đồng thời tập viết

Trang 5

tiếng khó nhiều lần ở bảng con hay ở sổ tay chính tả Từ đó học sinh vừa rèn luyện chữ viết vừa dễ nhớ mặt chữ

* Biện pháp 2:

Giúp học sinh xác nhận động cơ hoạt động đúng đắn trong việc học tập và rèn luyện chính tả

Trong tiết học chính tả khi viết các em còn lơ là không tập trung vào bài viết lâu ngày thành thói quen cẩu thả Đây là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng viết hoa một cách tùy tiện, do đó trong trường hợp này giáo viên phải giúp các em tập trung vào bài học để hạn chế bớt lỗi chính tả Vì vậy việc đầu tiên phải tập trung cho học sinh thói quen biết tập trung lúc viết Trong tiết chính tả, tôi luôn nhắc các em khi viết phải nhẩm chữ, nhớ cả cụm từ khi đó mới viết Tuyệt đối không nói chuyện, chỉ nhẩm bài, tay viết, tai lắng nghe, mắt nhìn chữ

* Biện pháp 3:

Rèn cho học sinh tính cẩn thận khi viết

Trong lớp một số em viết ngoáy, cẩu thả nên đã dẫn đến thiếu nét, khi đó các em thường sai lệch nhầm lẫn giữa a và d, giữa n và u Vì vậy muốn rèn cho học sinh tính cẩn thận trong khi viết tôi thường nhắc nhở trong mỗi tiết học về

nề nếp, tư thế ngồi, cách cầm bút, cách để vở cho từng em Tập cho học sinh có thói quen viết bài Ngoài ra, trước giờ học tôi còn cho các em nhận xét bài viết của bạn viết sạch đẹp để các em xem và tự sửa lỗi tính cẩu thả của mình

* Biện pháp 4:

Thường xuyên nhắc nhở học sinh rèn chữ đúng và đẹp, giữ vở sạch

Trước hết, tôi hướng dẫn trong giờ tập viết, hướng dẫn cách lia bút và rê bút, chú ý từng độ cao của con chữ, cự li của mỗi con chữ, phân tích kỹ các nét của từng con chữ

Ví dụ: Chữ a gồm các các nét nào? (một nét cong trái và một nét cong phải)

Khi viết nét cong điểm đặt bút thấp hơn điểm đặt bút khi viết chữ o đến điểm dừng bút thì lia bút lên tới đường kẻ ngang trên, đưa nét bút thẳng xuống viết nét móc phải

- Chữ d có độ cao gấp đôi đơn vị chữ chiều ngang như chữ a, chữ có cấu tạo là nét cong khép kín và một nét móc cao sát bên phải của nét cong Mặt khác, tôi còn cho học sinh quan sát bài viết đẹp của học sinh thi vở sạch viết chữ đẹp ở cấp trường, cấp huyện, nêu gương học sinh viết chữ đẹp, để hướng các em viết đúng mẫu chữ không nên viết thiếu nét và thưa nét Tôi luôn khuyến khích học sinh các tổ rèn luyện giữ vở sạch viết chữ đẹp để đạt tổ “Vở sạch - chữ đẹp”

và lớp “Vở sạch - chữ đẹp”

* Biện pháp 5:

Hướng dẫn học sinh rèn luyện kỹ viết chính tả các từ khó vào bảng con trong tiết chính tả

Trang 6

Trong mỗi tiết học, tôi thường cho các em phân tích các con chữ trên bảng lớp, rồi viết vào bảng con một số từ khó theo cô giáo đọc Hoặc từng đôi bạn (một bạn đọc, bạn khác viết và ngược lại) tiếp tục cho các em nhận xét đúng sai và chú ý cách trình bày của bạn để khắc ghi những con chữ, mặt chữ khi viết bài chính tả

* Biện pháp 6:

Sửa lỗi chính tả thông qua giải nghĩa từ

Trong lớp 5C có một số ít học sinh chưa nắm rõ nghĩa của một số từ, nghe hiểu còn hạn chế Do đó, trước khi viết tôi giúp các em giải nghĩa của những từ

ấy bằng cách mô phỏng sơ lược, đặt câu với từ đó, hoặc tìm từ cùng nghĩa, gần nghĩa

* Biện pháp 7:

Giúp học sinh nắm vững các trường hợp chính tả bất quy tắc và những trường hợp chính tả quy tắc

+ Trường hợp chính tả bất quy tắc thì tôi giúp học sinh rèn luyện trí nhớ

bằng đọc nhiều, viết nhiều để quen với hình thức chữ viết của các từ đó

Ví dụ: ghi và d

+ ghi và d thường đi được với các nguyện âm như: a, ô, ơ, e, ê, i…( da, dô, dơ,de, dê, di…gia, giô, giơ, gie, giê)

+ Trường hợp chính tả quy tắc thì tôi cho học sinh ghi nhớ “s” không đi

với các vần bắt đầu oăn, oe, uê, ua đối với trường hợp này chỉ có “x” có thể kết hợp các vần này

Ví dụ: xoan, xoắn, xoà, xòe xuề…

Đối với học sinh thường mắc nhiều lỗi do phát âm của tiếng địa phương, tôi thường giúp các em phân loại so sánh, để các em có thể viết đúng luật chính tả

- Khi đứng trước các nguyên âm i, ê, e:

Âm (cờ) viết là k -> kia, kê, kệ…

Âm (gờ) viết là gh > ghế, ghi, ghì…

Âm (ngờ) viết là ngh -> nghĩ, nghe…

- Khi đứng trước những nguyên âm u, ô, o, a, ă…

Âm (cờ) viết là c -> củ, cả, co, cô…

Âm (gờ) viết g -> gà, go…

Âm (ngờ) viết ng > ngủ, ngu…

- Đối với những tiếng có vần khó, tiếng dễ lẫn lộn giáo viên cần giúp học sinh phân tích cấu tạo tiếng, nhấn mạnh những điểm khác nhau giữa cách viết đúng và viết sai để học sinh thấy được những điểm khác nhau để ghi nhớ

Trang 7

Ví dụ:

khuỷu = kh + uyu + thanh hỏi

khuỷ = kh + uy + thanh hỏi

buồng = b + uông + thanh huyền

buồn = b + uôn + thanh huyền

ngoằn = ng + oăn + thanh huyền

ngoèo = ng +oeo + thanh huyền

Sau khi học sinh nắm một số cách có hệ thống, tôi cho các em làm bài tập Trường hợp học sinh hay sai về một số lỗi dấu thanh, giáo viên cần cho học sinh cách xác định dấu thanh trong trường hợp đó là từ láy, giáo viên giúp học sinh nhớ một câu có vần điệu để nắm quy luật

“Bạn huyền mang nặng ngã đau Hỏi không sắc thuốc lấy đâu mà lành ”.

Từ đó giáo viên giúp học sinh sẽ nhớ các dấu thanh thường đi chung với nhau thành một nhóm

Nhóm 1: Sắc, hỏi, không

Nhóm 2: Huyền, ngã, nặng

Sau khi học sinh nắm chắc chắn hai nhóm trong từ láy, tôi tiếng hành cho các em làm bài tập: Điền vần và dấu thanh còn thiếu vào chỗ trống

Ví dụ: Dồn d…, nghĩ ng…, mỡ m…

Học sinh làm bài như sau: dồn dập, nghĩ ngợi, mỡ màng

s…sảo, …ngơi, m…mang

sắc sảo, nghỉ ngơi, mở mang

- Để phân biệt âm đầu s/x: Đa số các từ chỉ tên cây và tên con vật đều bắt đầu bằng s: si, sồi, sứ, sung, sim,… sâu, sói, sò, sóc, sứa,…

- Để phân biệt vần dễ lẫn lộn (vần có âm cuối n/ng, t/c):

- Mẹo 1: Hầu hết các từ tượng thanh vần có âm cuối là ng: lẻng kẻng, ăng

ẳng, sang sảng, thùng thùng, đùng đoàng, leng keng, reng reng, sằng sặc, eng éc, quang quác, chập cheng, …

- Mẹo 2: Trong từ láy thường theo khuôn vần: an - at (man mát, san sát,

chan chát, ran rát, …), ang - ac (khang khác, nhang nhác, càng cạc,…), ôn - ôt (sồn sột, dôn dốt, tôn tốt, …), vần ông - ôc (xồng xộc, công cốc, cồng cộc, …), vần un - ut (vùn vụt, ngùn ngụt, hun hút, …), vần ung - uc (sùng sục, khùng khục, trùng trục…)

Thật vậy, để viết đúng chính tả, học sinh cần vận dụng có ý thức một số quy tắc làm căn cứ để có thể viết đúng tất cả các từ, các chữ nằm trong phạm vi

Trang 8

quy tắc mà không cần gắng sức ghi nhớ cách viết của từng từ một Các em sẽ nắm được các quy tắc chính tả, nắm được cách viết đúng các từ mà không cần ghi nhớ máy móc từng trường hợp chính tả riêng biệt Muốn vậy, trước hết giáo viên cần phải được trang bị những kiến thức về ngữ âm học, từ vựng, ngữ nghĩa học có liên quan đến chính tả cụ thể Giáo viên phải biết vận dụng những kiến thức về ngữ âm học Tiếng Việt vào việc phân loại lỗi chính tả, phát hiện đặc điểm của từng loại lỗi, nhất là việc xây dựng các quy tắc chính tả, các mẹo chính

tả, giúp học sinh ghi nhớ cách viết một cách có hệ thống

* Biện pháp 8:

Hướng dẫn học sinh lập sổ tay chính tả

Mỗi học sinh tôi yêu cầu đều phải có một sổ tay chính tả, sau khi nhận xét bài sửa, yêu cầu học sinh ghi những tiếng viết sai vào sổ, sổ được ghi làm đôi, bên chữ sai, bên chữ đúng Sau khi “tìm” ra chữ viết sai để sửa, tôi yêu cầu học sinh về nhà viết lại những từ sai, để học sinh khắc ghi không còn viết sai nữa

* Biện pháp 9:

Sửa lỗi chính tả theo nhóm

Sau khi thống kê các lỗi của học sinh tôi thường chia những học sinh thường mắc cùng một số lỗi chính tả thành một nhóm và đặt tên nhóm theo lỗi

Mỗi nhóm do một hay hai học sinh khá giỏi trong lớp hoặc những học sinh không mắc lỗi nào để phụ trách Với sự gợi ý của giáo viên, nhóm trưởng hướng dẫn các bạn trong nhóm phát hiện ra mỗi thành viên cùng bàn bạc, thống nhất cách sửa lỗi, các nhóm thi đua xóa bỏ tên nhóm

* Biện pháp 10:

Giúp học sinh thực hiện tốt các bài luyện tập chính tả trong mỗi tiết

chính tả

Trong mỗi tiết chính tả bao giờ cũng có phần luyện tập, tôi hướng dẫn học sinh làm bài lên bảng, cả lớp làm vào vở, giáo viên cho các em nhận xét đúng sai vào vở của mình, thông qua việc luyện tập nhằm củng cố trao dồi kĩ năng viết đúng chính tả Tiếng Việt nói chung cho học sinh một cách có hệ thống Qua các bài tập giúp học sinh ghi nhớ về quy tắc chính tả, phân biệt cách viết các phụ

âm đầu, vần và thanh dễ lẫn do đặc điểm phát âm địa phương

Trang 9

Đây cũng là bước rèn luyện kĩ năng, vừa cung cấp hoặc ôn tập kiến thức chính tả theo yêu cầu của bài viết Việc hướng dẫn học sinh hoàn thành tốt các bài luyện tập cũng là cơ sở vững chắc giúp học sinh ngày càng viết chính tả tốt hơn

* Biện pháp 11:

Tổ chức trò chơi học tập trong tiết chính tả

chính tả cho học sinh thông qua “trò chơi học tập” giúp các em luyện nghe nói gắn với hoạt động đọc, viết để phát huy tính tích cực trong học tập, tạo không khí hào hứng trong lớp Một số trò chơi tôi đã tiến hành trong tiết chính tả như: Trò chơi: Ai nhanh hơn

- Mục đích trò chơi: Gíup học sinh nhận biết nhanh và tìm nhanh những tiếng có phụ âm đầu là s hoặc x

- Luật chơi: Tiến hành chia lớp thành 2 đội; một đội cử 3, 4 em lên tham gia trò chơi Thời gian chơi trong vòng hai phút

- Nội dung trò chơi: Tìm tên các loài cây, đồ vật hoặc tên con vật bắt đầu bằng phụ âm s / x

- Tiến hành: Chuẩn bị hai bảng phụ cho hai đội A và B cùng tham gia chơi Mỗi từ đúng được ghi 1 điểm, cụ thể qua lần chơi học sinh hai đội tìm ra các từ như sau:

Đội A Đội B

Cây si, cây sung, cây sen, bông

súng, cây sả

Sáo sậu, sao, se sẻ, cá sấu

Cây xoài, xoan, xóm làng, xanh

tươi, xe lu

Cây xương rồng, cây su, cây sim

Con ốc sên, con sóc, chim sẻ, con sâu, ốc sò

Xôi gấc, xếp hàng, xôn xao,

xe đạp, xơ xác

Học sinh nhận xét bổ sung thêm một số từ cần thiết

Trò chơi: Tiếp sức

Điền đúng phụ âm cuối hoặc vần vào chỗ trống

- Mục đích trò chơi: Gíup học sinh phân biệt các cặp từ dễ lẫn có âm cuối như c / t, n / ng và điền vào chỗng trống ay / ây, ắc / ắt

- Luật chơi: Chia lớp thành 2 đội, mỗi đội cử 4,6 em tham gia chơi.Trò chơi tiến hành trong 5 phút

- Nội dung:

* Điền vần ay / ây vào các dòng sau:

+ Th….giáo d…học sinh hát

Trang 10

+ Qu…tơ, qu… phim, qu…quần, qu…nhiễu.

* Điền phụ âm cuối vào chỗ trống trong các dòng dưới đây:

+ bà… ghế, cây bà…, gắ… bó, cố gă…

* Điền ắt hay ắc vào chỗ trống:

+ Tôi rửa m… sạch sẽ rồi m… quần áo để đi học

+ Bé tròn xoe m…l… đầu nguây nguẩy

- Tiến hành chơi: Chuẩn bị hai bảng phụ ghi sẵn các dòng lên bảng, học sinh hai đội lên điền vần ay / ây, ắt / ắc, âm cuối c / t, n / ng Từng em lên điền, đội nào điền xong và đúng thì giáo viên tổng kết, ghi điểm, tuyên dương

Thông qua các hình thức tổ chức các hoạt động vui chơi học sinh củng cố kiến thức đã học về môn Tiếng Việt (bao gồm các mặt ngữ âm, chữ viết, chính tả…) tạo điều kiện cho học sinh được rèn các kĩ năng cần thiết của môn Tiếng Việt như: đọc, nghe, nói, kích thích khả năng ứng xử ngôn ngữ của học sinh qua tình huống nêu ra trong trò chơi, rèn tư duy linh hoạt và tác phong nhanh nhẹn tháo vát tự tin cho học sinh, tạo không khí hứng thú trong lớp

* Biện pháp 12:

Giáo viên thường xuyên học tập để bồi dưỡng nâng cao khả năng phát âm chuẩn và trình độ chính tả của bản thân

Đối với bản thân giáo viên thì trong tiết chính tả, giáo viên cần chú ý thực hiện đầy đủ, có chất lượng phần hướng dẫn chính tả, luyện giọng để phát âm chuẩn, cần đi sâu vào việc luyện cho học sinh viết chữ khó, từ khó, giải thích nghĩa của từ chỉ khi nào học sinh hiểu được nghĩa và nắm được cách viết của các từ khó trong bài mới bắt đầu cho học sinh viết chính tả Để đảm bảo học sinh viết đúng chính tả giáo viên đọc mẫu phải thong thả, phát âm rõ ràng, đúng chuẩn, biết ngắt các ngữ đoạn đúng Giáo viên cũng phải tạo tâm thế cho học sinh trước khi đọc mẫu và chọn vị trí thích hợp để đọc, không vừa đi vừa đọc Giáo viên rèn cho những học sinh nói ngọng, đớt phát âm chuẩn hơn Mặt khác, lúc chấm bài giáo viên rèn cách viết chữ đúng và đẹp để làm gương cho học sinh ngay cả lời nhận xét vào bài làm, lúc ghi bảng hay ghi vào sổ liên lạc cũng phải thật cẩn thận

* Biện pháp 13:

Tìm hiểu và giúp đỡ học sinh có hoàn cảnh khó khăn để động viên các

em học tốt

Đối với một số em gia đình đặc biệt khó khăn, tôi thường đến nhà và tìm hiểu qua học sinh trong lớp hoặc gặp trực tiếp phụ huynh học sinh, để động viên nhắc nhở các em đi học chuyên cần Bên cạnh đó, tôi còn hướng dẫn một số em khá, giỏi hoặc ban cán sự bộ môn Tiếng Việt kèm cặp, giúp đỡ các em yếu kém

để nâng dần chất lượng học tập của mình

Huyền + ngã: vồn vã, sững sờ, lững lờ

Ngày đăng: 09/06/2022, 19:50

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w